Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
- Những gì không phải là của các ông có, cần phải xả bỏ hết; khi đã xả bỏ hết pháp đó rồi, thì được an vui lâu dài. Này các Tỳ-kheo, ý các ông thế nào? Ở trong rừng Kỳ-hoàn này, các thứ cỏ cây, cành lá, nếu có người mang đi, thì các ông có nghĩ rằng: ‘Những vật này là tôi, là của tôi, người kia sao lại đem đi?’”
Các Tỳ-kheo đáp:
“Bạch Thế Tôn, không. Vì sao? Vì những vật này chẳng phải ta, chẳng phải của ta.”
“Tỳ-kheo, các ông cũng lại như vậy, đối với vật không phải của mình, phải xả bỏ hết; khi đã xả bỏ những pháp này rồi, thì được an vui lâu dài. Những gì không phải sở hữu của các ông? Mắt, không phải của các ông, nên xả bỏ; khi đã xả bỏ rồi, thì được an vui lâu dài. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại cũng như vậy.
“Thế nào, Tỳ-kheo, mắt là thường hay là vô thường?”
Tỳ-kheo đáp:
“Bạch Thế Tôn, là vô thường.”
Phật lại hỏi:
“Nếu là vô thường thì khổ phải không?”
“Bạch Thế Tôn, là khổ.”
Phật lại hỏi:
“Nếu vô thường là khổ, là pháp biến dịch, vậy đa văn Thánh đệ tử đối với sáu nhập xứ này, nên quán sát chẳng phải ta, chẳng phải của ta. Khi quán sát rồi, đối với các pháp thế gian không chấp thủ. Vì không chấp thủ nên không đắm trước, do không đắm trước nên tự mình giác ngộ Niết-bàn: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
如是我聞:
一時,佛住舍衛國祇樹給孤T 0073a03獨園。
爾時,世尊告諸比丘:「非汝有者,當T 0073a04棄捨,捨彼法已,長夜安樂。諸比丘!於意云T 0073a05何?於此祇桓中,諸草木枝葉,有人持去,汝T 0073a06等頗有念言:『此諸物是我所,彼人何故輒持T 0073a07去?』」
答言:「不也,世尊!」
「所以者何?彼亦非我、非T 0073a08我所故,汝諸比丘亦復如是。於非所有物T 0073a09當盡棄捨,棄捨彼法已,長夜安樂。何等為T 0073a10非汝所有?謂眼,眼非汝所有,彼應棄捨,捨T 0073a11彼法已,長夜安樂。耳、鼻、舌、身、意亦復如是。T 0073a12云何?比丘!眼是常耶?為非常耶?」
答言:「無常。」
T 0073a13世尊復問:「若無常者,是苦耶?」
答言:「是苦。世T 0073a14尊!」
復問:「若無常、苦者,是變易法,多聞聖弟T 0073a15子寧於中見我、異我、相在不?」
答言:「不也,世T 0073a16尊!」
「耳、鼻、舌、身、意亦復如是。多聞聖弟子T 0073a17於此六入處觀察非我、非我所,觀察已,於T 0073a18諸世間都無所取,無所取故無所著,無T 0073a19所著故自覺涅槃:『我生已盡,梵行已立,T 0073a20所作已作,自知不受後有。』」
佛說此經已,諸T 0073a21比丘聞佛所說,歡喜奉行。
T 0073a22 English translation not yet available.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
- Những gì không phải là của các ông có, cần phải xả bỏ hết; khi đã xả bỏ hết pháp đó rồi, thì được an vui lâu dài. Này các Tỳ-kheo, ý các ông thế nào? Ở trong rừng Kỳ-hoàn này, các thứ cỏ cây, cành lá, nếu có người mang đi, thì các ông có nghĩ rằng: ‘Những vật này là tôi, là của tôi, người kia sao lại đem đi?’”
Các Tỳ-kheo đáp:
“Bạch Thế Tôn, không. Vì sao? Vì những vật này chẳng phải ta, chẳng phải của ta.”
“Tỳ-kheo, các ông cũng lại như vậy, đối với vật không phải của mình, phải xả bỏ hết; khi đã xả bỏ những pháp này rồi, thì được an vui lâu dài. Những gì không phải sở hữu của các ông? Mắt, không phải của các ông, nên xả bỏ; khi đã xả bỏ rồi, thì được an vui lâu dài. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại cũng như vậy.
“Thế nào, Tỳ-kheo, mắt là thường hay là vô thường?”
Tỳ-kheo đáp:
“Bạch Thế Tôn, là vô thường.”
Phật lại hỏi:
“Nếu là vô thường thì khổ phải không?”
“Bạch Thế Tôn, là khổ.”
Phật lại hỏi:
“Nếu vô thường là khổ, là pháp biến dịch, vậy đa văn Thánh đệ tử đối với sáu nhập xứ này, nên quán sát chẳng phải ta, chẳng phải của ta. Khi quán sát rồi, đối với các pháp thế gian không chấp thủ. Vì không chấp thủ nên không đắm trước, do không đắm trước nên tự mình giác ngộ Niết-bàn: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.