Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa201-300
SA265 Kinh 265. bào mạt
SA201 Kinh 201. lậu tận SA202 Kinh 202. ngã kiến đoạn SA203 Kinh 203. năng đoạn nhất pháp SA204 Kinh 204. như thật tri kiến SA205 Kinh 205. ưu-đà-na SA206 Kinh 206. như thật tri SA207 Kinh 207. tam-ma-đề SA208 Kinh 208. vô thường SA209 Kinh 209. lục xúc nhập xứ SA210 Kinh 210. địa ngục SA211 Kinh 211. thế gian ngũ dục SA212 Kinh 212. bất phóng dật SA213 Kinh 213. pháp SA214 Kinh 214. nhị pháp SA215 Kinh 215. phú-lưu-na SA216 Kinh 216. đại hải SA217 Kinh 217. đại hải (2) SA218 Kinh 218. khổ tập diệt SA219 Kinh 219. niết-bàn đạo tích SA220 Kinh 220. tợ thú niết-bàn đạo tích SA221 Kinh 221. thủ SA222 Kinh 222. tri thức SA223 Kinh 223. đoạn (1) SA224 Kinh 224. đoạn (2) SA225 Kinh 225. đoạn (3) SA226 Kinh 226. kế (1) SA227 Kinh 227. kế (2) SA228 Kinh 228. tăng trưởng SA229 Kinh 229. hữu lậu vô lậu SA230 Kinh 230. tam-di-ly-đề (1) SA231 Kinh 231. tam-di-ly-đề (2) SA232 Kinh 232. không SA233 Kinh 233. thế gian SA234 Kinh 234. thế gian biên SA235 Kinh 235. cận trụ SA236 Kinh 236. thanh tịnh khất thực trụ SA237 Kinh 237. tỳ-xá-ly SA238 Kinh 238. nhân duyên SA239 Kinh 239. kết SA240 Kinh 240. thủ SA241 Kinh 241. thiêu nhiệt SA242 Kinh 242. tri SA243 Kinh 243. vị SA244 Kinh 244. ma câu SA245 Kinh 245. tứ phẩm pháp SA246 Kinh 246. thất niên SA247 Kinh 247. tập cận SA248 Kinh 248. thuần-đà SA249 Kinh 249. câu-hi-la (1) SA250 Kinh 250. câu-hi-la (2) SA251 Kinh 251. câu-hi-la (3) SA252 Kinh 252. ưu-ba-tiên-na SA253 Kinh 253. tỳ-nữu ca-chiên-diên SA254 Kinh 254. nhị-thập-ức-nhĩ SA255 Kinh 255. lỗ-hê-già SA256 Kinh 256. vô minh (1) SA257 Kinh 257. vô minh (2) SA258 Kinh 258. vô minh (3) SA259 Kinh 259. vô gián đẳng SA260 Kinh 260. diệt SA261 Kinh 261. phú-lưu-na SA262 Kinh 262. xiển-đà SA263 Kinh 263. ưng thuyết SA264 Kinh 264. tiểu thổ đoàn SA265 Kinh 265. bào mạt SA266 Kinh 266. vô tri (1) SA267 Kinh 267. vô tri (2) SA268 Kinh 268. hà lưu SA269 Kinh 269. kỳ lâm SA270 Kinh 270. thọ SA271 Kinh 271. đê-xá SA272 Kinh 272. trách chư tưởng SA273 Kinh 273. thủ thanh dụ SA274 Kinh 274. khí xả SA275 Kinh 275. nan-đà SA276 Kinh 276. nan-đà thuyết pháp SA277 Kinh 277. luật nghi bất luật nghi SA278 Kinh 278. thoái bất thoái SA279 Kinh 279. điều phục SA280 Kinh 280. tần-đầu thành SA281 Kinh 281. oanh phát mục-kiền-liên SA282 Kinh 282. chư căn tu SA283 Kinh 283. chủng thọ SA284 Kinh 284. đại thọ SA285 Kinh 285. phật phược SA286 Kinh 286. thủ SA287 Kinh 287. thành ấp SA288 Kinh 288. lô SA289 Kinh 289. vô văn (1) SA290 Kinh 290. vô văn (2) SA291 Kinh 291. xúc SA292 Kinh 292. tư lương SA293 Kinh 293. thậm thâm SA294 Kinh 294. ngu si hiệt tuệ SA295 Kinh 295. phi nhữ sở hữu SA296 Kinh 296. nhân duyên SA297 Kinh 297. đại không pháp SA298 Kinh 298. pháp thuyết nghĩa thuyết SA299 Kinh 299. duyên khởi pháp SA300 Kinh 300. tha
SA265

Kinh 265. bào mạt

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở trú xứ A-tỳ-đà, bên bờ sông Hằng.

Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

“Giống như nước lớn sông Hằng cuộn lên, bọt nước theo dòng chảy mà tụ lại. Nếu như người nào có mắt sáng quán sát, phân biệt thật kỹ, thì lúc quán sát, phân biệt thật kỹ đó, sẽ thấy rằng không có gì cả, không gì là bền chắc, không gì là chắc thật, không gì là kiên cố. Vì sao? Vì trong nhóm bọt nước nổi kia không có gì là chắc thật. Cũng vậy những gì thuộc về sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần, Tỳ-kheo, hãy quán sát, tư duy, phân biệt thật kỹ, không gì là có, không gì là bền chắc, không gì là chân thật, không có gì là kiên cố; chúng như bệnh, như ung nhọt, như gai nhọn, như sát hại; là vô thường, khổ, không, phi ngã. Vì sao? Vì sắc vốn không chắc thật.

“Này các Tỳ-kheo, giống như trời mưa lớn, bong bóng nước chợt hiện chợt mất. Nếu người nào có mắt sáng quán sát, tư duy, phân biệt thật kỹ, thì lúc quán sát tư duy, phân biệt thật kỹ đó sẽ thấy rằng không có cả, không gì là bền chắc, không gì là chắc thật, không gì là kiên cố. Vì sao? Vì trong bong bóng nước kia không có gì là chắc thật. Cũng vậy những gì thuộc về thọ, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần, Tỳ-kheo, hãy quán sát, tư duy, phân biệt thật kỹ, không gì là có, không gì là bền chắc, không gì là chân thật, không có gì là kiên cố; chúng như bệnh, như ung nhọt, như gai nhọn, như sát hại; là vô thường, khổ, không, phi ngã. Vì sao? Vì thọ vốn không chắc thật.

“Này các Tỳ-kheo, giống như cuối xuân, đầu hạ, không mây, không mưa, giữa trưa trời nắng gắt, sóng nắng chập chờn, người nào sáng mắt quán sát, tư duy, phân biệt kỹ càng và, khi quán sát, tư duy, phân biệt kỹ càng thì sẽ thấy rằng không có gì cả, không gì là bền chắc, không gì là chắc thật, không gì là kiên cố. Vì sao? Vì trong quáng nắng kia không có gì là chắc thật. Cũng vậy, những gì thuộc về tưởng, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần, Tỳ-kheo, hãy quán sát, tư duy, phân biệt thật kỹ, không gì là có, không gì là bền chắc, không gì là chân thật, không có gì là kiên cố; chúng như bệnh, như ung nhọt, như gai nhọn, như sát hại; là vô thường, khổ, không, phi ngã. Vì sao? Vì tưởng vốn không chắc thật.

“Này các Tỳ-kheo, giống như người mắt sáng muốn tìm gỗ cứng chắc, nên cầm búa bén đi vào rừng núi. Thấy một cây chuối lớn, thân dài lớn ngay thẳng, y liền đốn gốc, chặt đứt ngọn nó, lột bỏ hết bẹ, cuối cùng không có gì là chắc thật. Nếu người nào có mắt sáng thì sẽ quán sát, tư duy, phân biệt và khi đã quán sát, tư duy, phân biệt rồi thì sẽ thấy rằng không gì có cả, không gì là bền chắc, không gì là chắc thật, không gì là kiên cố. Vì sao? Vì trong cây chuối kia không có gì là chắc thật. Cũng vậy những gì thuộc về hành, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần, Tỳ-kheo, hãy quán sát, tư duy, phân biệt thật kỹ, không gì là có, không gì là bền chắc, không gì là chân thật, không có gì là kiên cố; chúng như bệnh, như ung nhọt, như gai nhọn, như sát hại; là vô thường, khổ, không, phi ngã. Vì sao? Vì hành vốn không chắc thật.

“Này các Tỳ-kheo, giống như nhà ảo thuật, hay là học trò của nhà ảo thuật, ở giữa ngã tư đường, huyễn hóa ra binh voi, binh ngựa, binh xa, binh bộ. Lúc này có người trí mắt sáng, quán sát, tư duy, phân biệt kỹ và khi họ đã quán sát, tư duy, phân biệt kỹ, thì sẽ thấy rằng không gì là có, không gì là bền chặt, không gì là chân thật, không có gì là chắc thật. Vì sao? Vì những hiện tượng huyễn hóa kia vốn không chắc thật. Như vậy, này các Tỳ-kheo những gì thuộc về thức, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần, thì Tỳ-kheo nên quán sát, tư duy, phân biệt kỹ và khi đã quán sát, tư duy, phân biệt kỹ thì sẽ thấy rằng không gì là có, không gì là bền chặt, không gì là chân thật, không có gì là chắc thật; chúng như bệnh hoạn, như ung nhọt, như gai nhọn, như sát hại; là vô thường, khổ, không, phi ngã. Vì sao? Vì thức vốn không chắc thật.”

Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói lại nghĩa này, nên nói bài kệ:

Quán sắc như bọt nước,
Thọ như bong bóng nước,
Tưởng như quáng nắng xuân,
Các hành như cây chuối,
Các thức pháp như huyễn,
Đấng Nhật thân dạy vậy.

Tư duy kỹ khắp cả,
Chánh niệm khéo quán sát:
Không thật, chẳng kiên cố,
Không có ngã, ngã sở.

Đối thân khổ ấm này,
Đại Trí phân biệt dạy,
Xa lìa ba pháp này,
Thân thành vật vất bỏ:
Thọ, hơi ấm và thức.

Lìa chúng, phần thân khác,
Vĩnh viễn vùi gò hoang,
Như gỗ, không thức tưởng.

Thân này thường như vậy,
Huyễn dối dụ người ngu;
Như gai độc, như sát,
Không có gì chắc thật.

Tỳ-kheo siêng tu tập,
Quán sát thân ấm này,
Chuyên tinh luôn ngày đêm,
Chánh trí, buộc niệm lại,
Hành hữu vi ngừng nghỉ,
Vĩnh viễn chốn thanh lương.

Bấy giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

⏳ Đang tải SA266...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc