Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa1-100
SA15 Kinh 15. sử
SA1 Kinh 1. vô thường SA2 Kinh 2. chánh tư duy SA3 Kinh 3. vô tri (1) SA4 Kinh 4. vô tri (2) SA5 Kinh 5. vô tri (3) SA6 Kinh 6. vô tri (4) SA7 Kinh 7. hỷ lạc sắc SA8 Kinh 8. quá khứ vô thường SA9 Kinh 9. yểm ly SA10 Kinh 10. giải thoát SA11 Kinh 11. nhân duyên (1) SA12 Kinh 12. nhân duyên (2) SA13 Kinh 13. vị (1) SA14 Kinh 14. vị (2) SA15 Kinh 15. sử SA16 Kinh 16. tăng chư số SA17 Kinh 17. phi ngã SA18 Kinh 18. phi bỉ SA19 Kinh 19. kết hệ SA20 sa20 SA21 Kinh 21. động dao SA22 Kinh 22. kiếp-ba sở vấn SA23 Kinh 23. la-hầu-la sở vấn (1) SA24 Kinh 24. la-hầu-la sở vấn (2) SA25 Kinh 25. đa văn SA26 Kinh 26. thiện thuyết pháp SA27 Kinh 27. hướng pháp SA28 Kinh 28. niết-bàn SA29 Kinh 29. tam-mật-ly-đề vấn thuyết pháp sư SA30 Kinh 30. thâu-lũ-na (1) SA31 Kinh 31. thâu-lũ-na (2) SA32 Kinh 32. thâu-lũ-na (3) SA33 Kinh 33. phi ngã SA34 Kinh 34. ngũ tỳ-kheo SA35 Kinh 35. tam chánh sĩ SA36 Kinh 36. thập lục tỳ-kheo SA37 Kinh 37. ngã SA38 Kinh 38. ty hạ SA39 Kinh 39. chủng tử SA40 Kinh 40. phong trệ SA41 Kinh 41. ngũ chuyển SA42 Kinh 42. thất xứ SA43 Kinh 43. thủ trước SA44 Kinh 44. hệ trước SA45 Kinh 45. giác SA46 Kinh 46. tam thế ấm thế thực SA47 Kinh 47. tín SA48 Kinh 48. a-nan (1) SA49 Kinh 49. a-nan (2) SA50 Kinh 50. a-nan (3) SA51 Kinh 51. hoại pháp SA52 sa52 SA53 Kinh 53. bà-la-môn SA54 Kinh 54. thế gian SA55 Kinh 55. ấm SA56 Kinh 56. lậu vô lậu SA57 Kinh 57. tật lậu tận SA58 Kinh 58. ấm căn SA59 Kinh 59. sinh diệt SA60 Kinh 60. bất lạc SA61 Kinh 61. phân biệt (1) SA62 Kinh 62. phân biệt (2) SA63 Kinh 63. phân biệt (3) SA64 Kinh 64. ưu-ðà-na SA65 Kinh 65. thọ SA66 Kinh 66. sanh SA67 Kinh 67. lạc SA68 Kinh 68. lục nhập xứ SA69 Kinh 69. kỳ đạo SA70 Kinh 70. thật giác SA71 Kinh 71. hữu thân SA72 Kinh 72. tri pháp SA73 Kinh 73. trọng ðảm SA74 Kinh 74. vãng nghệ SA75 Kinh 75. quán SA76 Kinh 76. dục SA77 Kinh 77. sanh (1) SA78 Kinh 78. sanh (2) SA79 Kinh 79. sanh (3) SA80 Kinh 80. pháp ấn SA81 Kinh 81. phú-lan-na SA82 Kinh 82. trúc viên SA83 Kinh 83. tỳ-da-ly SA84 Kinh 84. thanh tịnh SA85 Kinh 85. chánh quán sát SA86 Kinh 86. vô thường SA87 Kinh 87. khổ SA88 Kinh 88. hiếu dưỡng SA89 Kinh 89. ưu-ba-ca (1) SA90 Kinh 90. ưu-ba-ca (2) SA91 Kinh 91. uất-xà-ca SA92 Kinh 92. kiêu mạn SA93 Kinh 93. tam hỏa SA94 Kinh 94. mặt trăng SA95 Kinh 95. sanh văn SA96 Kinh 96. dị bà-la-môn SA97 Kinh 97. khất thực SA98 Kinh 98. canh điền SA99 Kinh 99. tịnh thiên SA100 Kinh 100. phật (1)
SA15

Kinh 15. sử

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Tỳ-kheo nọ đến chỗ Đức Phật, cúi đầu lễ dưới chân, rồi đứng sang một bên, bạch Phật rằng:

“Lành thay, Thế Tôn! Nay xin vì con mà nói vắn tắt pháp yếu. Sau khi nghe pháp, con sẽ một mình ở chỗ vắng, tu tập không buông lung. Khi tu tập không buông lung con sẽ tư duy về lý do mà một thiện nam tử xuất gia, cạo bỏ râu tóc, mình mặc pháp y, có lòng tin, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, chỉ vì để ngay trong đời này chứng nghiệm cứu cánh phạm hạnh vô thượng, biết rằng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những việc cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”

Bấy giờ, Đức Thế Tôn dạy Tỳ-kheo kia:

“Lành thay! Lành thay! Tỳ-kheo, đã khéo nói những lời này: ‘Nay xin vì con mà nói vắn tắt pháp yếu. Sau khi nghe pháp, con sẽ ở một mình nơi chỗ vắng, tu tập không buông lung… cho đến, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’ Ông đã nói như vậy phải chăng?”

Tỳ-kheo bạch Phật:

“Đúng như vậy, bạch Thế Tôn!”

Đức Phật bảo Tỳ-kheo:

“Ông hãy lắng nghe, hãy lắng nghe, khéo léo suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì ông mà nói.

“Này Tỳ-kheo, nếu để sai sử theo sử, tức là chết theo sử. Nếu chết theo sử là bị thủ trói buộc. Nếu Tỳ-kheo không bị sai sử theo sử, thì sẽ không chết theo sử. Không chết theo sử, tức là giải thoát đối với thủ.”

Tỳ-kheo bạch Phật:

“Con đã hiểu, bạch Thế Tôn! Con đã hiểu, bạch Thiện Thệ!”

Đức Phật bảo Tỳ-kheo:

“Đối trong pháp yếu mà Ta đã lược nói, nếu ngươi hiểu rộng nghĩa của nó thì phải như thế nào?”

Tỳ-kheo bạch Phật rằng:

“Bạch Thế Tôn, sắc sai sử theo sử, sắc chết theo sử. Sai sử theo sử mà chết theo sử thì bị thủ trói buộc.

“Cũng vậy thọ, tưởng, hành, thức sai sử theo sử, thì chết theo sử. Sai sử theo sử mà chết theo sử thì bị thủ trói buộc.

“Bạch Thế Tôn, nếu sắc không sai sử theo sử, thì sắc không chết theo sử. Không sai sử theo sử mà không chết theo sử thì đối với thủ được giải thoát.

“Cũng vậy, nếu thọ, tưởng, hành, thức không sai sử theo sử, thì không chết theo sử. Không sai sử theo sử mà không chết theo sử thì đối với thủ được giải thoát.

“Như vậy, trong pháp yếu được Thế Tôn nói tóm tắt, ý nghĩa được diễn rộng như vậy.”

Phật bảo Tỳ-kheo:

“Lành thay, lành thay, Tỳ-kheo! Trong pháp yếu được Ta nói tóm tắt, ý nghĩa được diễn rộng như vậy.

“Vì sao?

“Sắc sai sử theo sử, sắc chết theo sử. Sai sử theo sử mà chết theo sử thì bị thủ trói buộc.

“Cũng vậy, thọ, tưởng, hành, thức sai sử theo sử, thì chết theo sử. Sai sử theo sử mà chết theo sử thì bị thủ trói buộc.

“Này Tỳ-kheo, nếu sắc không sai sử theo sử, thì sắc không chết theo sử. Không sai sử theo sử mà không chết theo sử thì đối với thủ được giải thoát.

“Cũng vậy, nếu thọ, tưởng, hành, thức không sai sử theo sử, thì không chết theo sử. Không sai sử theo sử mà không chết theo sử thì đối với thủ được giải thoát.”

Bấy giờ, vị Tỳ-kheo kia sau khi nghe Đức Phật dạy xong tâm rất vui mừng, lạy Phật rồi lui. Vị kia ở một mình nơi chỗ vắng tinh cần tu tập, sống không buông lung. Sau khi tinh cần tu tập sống không buông lung rồi, vị kia tư duy về lý do mà một thiện nam tử xuất gia, cạo bỏ râu tóc, mình mặc pháp y, có lòng tin, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, … cho đến, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa. Bấy giờ, vị Tỳ-kheo kia thành A-la-hán, tâm được giải thoát.

⏳ Đang tải SA16...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc