Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa1-100
SA36 Kinh 36. thập lục tỳ-kheo
SA1 Kinh 1. vô thường SA2 Kinh 2. chánh tư duy SA3 Kinh 3. vô tri (1) SA4 Kinh 4. vô tri (2) SA5 Kinh 5. vô tri (3) SA6 Kinh 6. vô tri (4) SA7 Kinh 7. hỷ lạc sắc SA8 Kinh 8. quá khứ vô thường SA9 Kinh 9. yểm ly SA10 Kinh 10. giải thoát SA11 Kinh 11. nhân duyên (1) SA12 Kinh 12. nhân duyên (2) SA13 Kinh 13. vị (1) SA14 Kinh 14. vị (2) SA15 Kinh 15. sử SA16 Kinh 16. tăng chư số SA17 Kinh 17. phi ngã SA18 Kinh 18. phi bỉ SA19 Kinh 19. kết hệ SA20 sa20 SA21 Kinh 21. động dao SA22 Kinh 22. kiếp-ba sở vấn SA23 Kinh 23. la-hầu-la sở vấn (1) SA24 Kinh 24. la-hầu-la sở vấn (2) SA25 Kinh 25. đa văn SA26 Kinh 26. thiện thuyết pháp SA27 Kinh 27. hướng pháp SA28 Kinh 28. niết-bàn SA29 Kinh 29. tam-mật-ly-đề vấn thuyết pháp sư SA30 Kinh 30. thâu-lũ-na (1) SA31 Kinh 31. thâu-lũ-na (2) SA32 Kinh 32. thâu-lũ-na (3) SA33 Kinh 33. phi ngã SA34 Kinh 34. ngũ tỳ-kheo SA35 Kinh 35. tam chánh sĩ SA36 Kinh 36. thập lục tỳ-kheo SA37 Kinh 37. ngã SA38 Kinh 38. ty hạ SA39 Kinh 39. chủng tử SA40 Kinh 40. phong trệ SA41 Kinh 41. ngũ chuyển SA42 Kinh 42. thất xứ SA43 Kinh 43. thủ trước SA44 Kinh 44. hệ trước SA45 Kinh 45. giác SA46 Kinh 46. tam thế ấm thế thực SA47 Kinh 47. tín SA48 Kinh 48. a-nan (1) SA49 Kinh 49. a-nan (2) SA50 Kinh 50. a-nan (3) SA51 Kinh 51. hoại pháp SA52 sa52 SA53 Kinh 53. bà-la-môn SA54 Kinh 54. thế gian SA55 Kinh 55. ấm SA56 Kinh 56. lậu vô lậu SA57 Kinh 57. tật lậu tận SA58 Kinh 58. ấm căn SA59 Kinh 59. sinh diệt SA60 Kinh 60. bất lạc SA61 Kinh 61. phân biệt (1) SA62 Kinh 62. phân biệt (2) SA63 Kinh 63. phân biệt (3) SA64 Kinh 64. ưu-ðà-na SA65 Kinh 65. thọ SA66 Kinh 66. sanh SA67 Kinh 67. lạc SA68 Kinh 68. lục nhập xứ SA69 Kinh 69. kỳ đạo SA70 Kinh 70. thật giác SA71 Kinh 71. hữu thân SA72 Kinh 72. tri pháp SA73 Kinh 73. trọng ðảm SA74 Kinh 74. vãng nghệ SA75 Kinh 75. quán SA76 Kinh 76. dục SA77 Kinh 77. sanh (1) SA78 Kinh 78. sanh (2) SA79 Kinh 79. sanh (3) SA80 Kinh 80. pháp ấn SA81 Kinh 81. phú-lan-na SA82 Kinh 82. trúc viên SA83 Kinh 83. tỳ-da-ly SA84 Kinh 84. thanh tịnh SA85 Kinh 85. chánh quán sát SA86 Kinh 86. vô thường SA87 Kinh 87. khổ SA88 Kinh 88. hiếu dưỡng SA89 Kinh 89. ưu-ba-ca (1) SA90 Kinh 90. ưu-ba-ca (2) SA91 Kinh 91. uất-xà-ca SA92 Kinh 92. kiêu mạn SA93 Kinh 93. tam hỏa SA94 Kinh 94. mặt trăng SA95 Kinh 95. sanh văn SA96 Kinh 96. dị bà-la-môn SA97 Kinh 97. khất thực SA98 Kinh 98. canh điền SA99 Kinh 99. tịnh thiên SA100 Kinh 100. phật (1)
SA36

Kinh 36. thập lục tỳ-kheo

Tôi nghe như vầy:

Khi Đức Phật ở trong vườn xoài Tán cái, bên bờ sông Bạt-đề, nước Ma-thâu-la.

Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

“Hãy an trú nơi hòn đảo chính mình, an trú nơi nương tựa chính mình, an trú nơi hòn đảo pháp, an trú nơi nương tựa pháp, chứ đừng an trú nơi hòn đảo nào khác, hay nương tựa nơi nào khác.

“Tỳ-kheo hãy quán sát chân chánh, an trú nơi hòn đảo chính mình, an trú nơi nương tựa chính mình, an trú nơi hòn đảo pháp, an trú nơi nương tựa pháp, chứ đừng an trú nơi hòn đảo nào khác, hay nơi nương tựa nào khác.

“Do nhân gì mà ưu, bi, khổ, não sanh? Tại sao có bốn? Do bởi đâu bị cái gì trói buộc? Làm sao tự quán sát, ưu, bi, khổ, não chưa sanh nay sanh; ưu, bi, khổ, não đã sanh nay lại tăng trưởng rộng?”

Các Tỳ-kheo bạch Phật:

“Thế Tôn là gốc pháp, là con mắt pháp, là sở y của pháp. Cúi xin Đức Thế Tôn vì chúng con mà nói, sau khi chúng con nghe xong, sẽ y như những lời dạy mà làm theo.”

Phật bảo các Tỳ-kheo:

“Hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì các ông mà nói.

“Này các Tỳ-kheo, có sắc, nhân sắc mà trói buộc vào sắc; tự quán sát ưu, bi, khổ, não chưa sanh nay sanh, đã sanh rồi nay lại tăng trưởng rộng. Đối với thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy.

“Tỳ-kheo, có sắc nào là thường hằng, không biến dịch, tồn tại mãi mãi không?”

Đáp:

“Bạch không, Thế Tôn.”

Phật bảo các Tỳ-kheo:

“Lành thay! Lành thay! Tỳ-kheo, sắc là vô thường. Nếu thiện nam tử biết sắc là vô thường, khổ, biến dịch, dục, diệt tận, tịch tĩnh; từ xưa tới nay tất cả sắc đều là pháp vô thường, khổ, biến dịch; biết rồi, nếu sắc là nhân duyên sanh ra ưu, bi, khổ, não, thì nên đoạn trừ chúng. Khi đã đoạn trừ rồi, thì không còn gì để chấp trước. Vì không chấp trước nên sống an vui. Khi đã sống an vui rồi, thì đó gọi là Niết-bàn. Đối với thọ tưởng, hành và thức lại cũng như vậy.”

Khi Đức Phật nói kinh này, thì mười sáu Tỳ-kheo không sanh các lậu, tâm đạt được giải thoát.

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

Kệ tóm tắt:

Trúc viên, Tỳ-xá-ly,
Thanh tịnh, chánh quán sát,
Vô thường, khổ, phi ngã,
Năm, ba và mười sáu.

⏳ Đang tải SA37...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc