Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa1-100
SA98 Kinh 98. canh điền
SA1 Kinh 1. vô thường SA2 Kinh 2. chánh tư duy SA3 Kinh 3. vô tri (1) SA4 Kinh 4. vô tri (2) SA5 Kinh 5. vô tri (3) SA6 Kinh 6. vô tri (4) SA7 Kinh 7. hỷ lạc sắc SA8 Kinh 8. quá khứ vô thường SA9 Kinh 9. yểm ly SA10 Kinh 10. giải thoát SA11 Kinh 11. nhân duyên (1) SA12 Kinh 12. nhân duyên (2) SA13 Kinh 13. vị (1) SA14 Kinh 14. vị (2) SA15 Kinh 15. sử SA16 Kinh 16. tăng chư số SA17 Kinh 17. phi ngã SA18 Kinh 18. phi bỉ SA19 Kinh 19. kết hệ SA20 sa20 SA21 Kinh 21. động dao SA22 Kinh 22. kiếp-ba sở vấn SA23 Kinh 23. la-hầu-la sở vấn (1) SA24 Kinh 24. la-hầu-la sở vấn (2) SA25 Kinh 25. đa văn SA26 Kinh 26. thiện thuyết pháp SA27 Kinh 27. hướng pháp SA28 Kinh 28. niết-bàn SA29 Kinh 29. tam-mật-ly-đề vấn thuyết pháp sư SA30 Kinh 30. thâu-lũ-na (1) SA31 Kinh 31. thâu-lũ-na (2) SA32 Kinh 32. thâu-lũ-na (3) SA33 Kinh 33. phi ngã SA34 Kinh 34. ngũ tỳ-kheo SA35 Kinh 35. tam chánh sĩ SA36 Kinh 36. thập lục tỳ-kheo SA37 Kinh 37. ngã SA38 Kinh 38. ty hạ SA39 Kinh 39. chủng tử SA40 Kinh 40. phong trệ SA41 Kinh 41. ngũ chuyển SA42 Kinh 42. thất xứ SA43 Kinh 43. thủ trước SA44 Kinh 44. hệ trước SA45 Kinh 45. giác SA46 Kinh 46. tam thế ấm thế thực SA47 Kinh 47. tín SA48 Kinh 48. a-nan (1) SA49 Kinh 49. a-nan (2) SA50 Kinh 50. a-nan (3) SA51 Kinh 51. hoại pháp SA52 sa52 SA53 Kinh 53. bà-la-môn SA54 Kinh 54. thế gian SA55 Kinh 55. ấm SA56 Kinh 56. lậu vô lậu SA57 Kinh 57. tật lậu tận SA58 Kinh 58. ấm căn SA59 Kinh 59. sinh diệt SA60 Kinh 60. bất lạc SA61 Kinh 61. phân biệt (1) SA62 Kinh 62. phân biệt (2) SA63 Kinh 63. phân biệt (3) SA64 Kinh 64. ưu-ðà-na SA65 Kinh 65. thọ SA66 Kinh 66. sanh SA67 Kinh 67. lạc SA68 Kinh 68. lục nhập xứ SA69 Kinh 69. kỳ đạo SA70 Kinh 70. thật giác SA71 Kinh 71. hữu thân SA72 Kinh 72. tri pháp SA73 Kinh 73. trọng ðảm SA74 Kinh 74. vãng nghệ SA75 Kinh 75. quán SA76 Kinh 76. dục SA77 Kinh 77. sanh (1) SA78 Kinh 78. sanh (2) SA79 Kinh 79. sanh (3) SA80 Kinh 80. pháp ấn SA81 Kinh 81. phú-lan-na SA82 Kinh 82. trúc viên SA83 Kinh 83. tỳ-da-ly SA84 Kinh 84. thanh tịnh SA85 Kinh 85. chánh quán sát SA86 Kinh 86. vô thường SA87 Kinh 87. khổ SA88 Kinh 88. hiếu dưỡng SA89 Kinh 89. ưu-ba-ca (1) SA90 Kinh 90. ưu-ba-ca (2) SA91 Kinh 91. uất-xà-ca SA92 Kinh 92. kiêu mạn SA93 Kinh 93. tam hỏa SA94 Kinh 94. mặt trăng SA95 Kinh 95. sanh văn SA96 Kinh 96. dị bà-la-môn SA97 Kinh 97. khất thực SA98 Kinh 98. canh điền SA99 Kinh 99. tịnh thiên SA100 Kinh 100. phật (1)
SA98

Kinh 98. canh điền

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Đức Phật từ Câu-tát-la du hành trong nhân gian đến trụ trong rừng Nhất-na-la, tại tụ lạc Nhất-na-la. Bấy giờ Đức Thế Tôn đắp y mang bát vào tụ lạc Nhất-na-la khất thực. Rồi Thế Tôn nghĩ: “Nay trời còn quá sớm. Giờ Ta hãy đi đến chỗ phân phát ẩm thực của Bà-la-môn làm ruộng là Bà-la-đậu-bà-giá.” Bà-la-môn chuẩn bị đủ năm trăm cái cày, đang phân phát ẩm thực. Từ xa Bà-la-môn cày ruộng Bà-la-đậu-bà-giá nhìn thấy Đức Thế Tôn, bèn thưa rằng:

“Bạch Cù-đàm, nay tôi cày ruộng, gieo giống để cung cấp lương thực. Vậy, Sa-môn Cù-đàm cũng nên cày ruộng gieo giống để cung cấp lương thực!”

Phật bảo Bà-la-môn:

“Ta cũng cày ruộng gieo giống, để cung cấp lương thực.”

Bà-la-môn bạch Phật:

“Tôi không thấy Sa-môn Cù-đàm sắm cái cày, cái ách, dây buộc, cái bừa, hay cái roi, mà nay Cù-đàm lại nói: “Ta cũng cày ruộng, gieo giống, để cung cấp lương thực!”

Lúc ấy, Bà-la-môn cày ruộng Bà-la-đậu-bà-giá liền nói kệ rằng:

Người tự nói cày ruộng,
Mà không thấy cái cày;
Lại bảo tôi cày ruộng.

Xin cho biết phép cày.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói kệ đáp lại rằng:

Tín tâm là hạt giống,
Khổ hạnh mưa đúng mùa,
Trí tuệ là cày, ách,
Tàm quý là cán cày.

Tự gìn giữ chánh niệm,
Là người giỏi chế ngự.
Giữ kín nghiệp thân, miệng,
Như thực phẩm trong kho.

Chân thật là xe tốt,
Sống vui không biếng nhác,
Tinh tấn không bỏ hoang,
An ổn mà tiến nhanh,
Thẳng đến không trở lại,
Đến được chỗ không lo.

Người cày ruộng như vậy,
Chứng đắc quả Niết-bàn.
Người cày ruộng như vậy,
Không tái sinh các hữu.

Bấy giờ, Bà-la-môn cày ruộng Bà-la-đậu-bà-giá bạch Phật rằng:

“Cù-đàm rất giỏi cày ruộng! Cù-đàm cày ruộng thật hay!”

Rồi thì, sau khi nghe Đức Thế Tôn nói kệ, tín tâm đối với ông càng tăng, Bà-la-môn cày ruộng Bà-la-đậu-bà-giá đem dâng cúng Phật một bát đầy đồ ăn thức uống thơm ngon. Đức Thế Tôn không nhận, vì có được là do nói bài kệ. Ngài bèn nói kệ rằng:

Không vì việc nói pháp,
Nhận ăn thức ăn này.
Chỉ vì lợi ích người,
Nói pháp không thọ thực.

Nói rộng như đã nói rộng với Hỏa chủng Bà-la-môn ở trước như vậy.

Lúc này, Bà-la-môn cày ruộng Bà-la-đậu-bà-giá bạch Đức Phật rằng:

“Bạch Cù-đàm, giờ con đem thức ăn này để chỗ nào?”

Phật bảo Bà-la-môn:

“Ta không thấy chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, thiên thần, hay người thế gian nào, mà dùng thức ăn này được an ổn được. Này Bà-la-môn, ông hãy đem thức ăn này để vào trong nước không có trùng hay chỗ đất nào ít cỏ tươi.”

Khi ấy, người Bà-la-môn này đem thức ăn đặt vào trong nước không có trùng, nước liền bốc khói, sôi bùng kêu xèo xèo. Như hòn sắt nóng được ném vào trong nước lạnh phát ra tiếng kêu xèo xèo; cũng vậy, thức ăn này được để vào trong nước không có trùng thì sôi bùng khói bốc lên và phát ra tiếng kêu xèo xèo. Bà-la-môn tự nghĩ: “Sa-môn Cù-đàm thật là kỳ đặc, có oai đức lớn, có oai lực lớn nên mới có thể làm cho đồ ăn thức uống thần biến như vậy.” Khi Bà-la-môn thấy thức ăn hiện điềm lành, lòng tin của ông càng tăng, lại bạch Phật rằng:

“Bạch Cù-đàm, nay con có thể được phép ở trong chánh pháp xuất gia thọ cụ túc không?”

Đức Phật bảo Bà-la-môn:

“Nay ông có thể được phép ở trong chánh pháp, xuất gia thọ cụ túc; được làm Tỳ-kheo.”

Sau khi Bà-la-môn này xuất gia rồi, một mình lặng lẽ tư duy về lý do người dòng họ quý tộc cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chánh tín, xuất gia, học đạo, sống không gia đình, cho đến đắc quả A-la-hán, tâm khéo giải thoát.

⏳ Đang tải SA99...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc