Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa1-100
SA53 Kinh 53. bà-la-môn
SA1 Kinh 1. vô thường SA2 Kinh 2. chánh tư duy SA3 Kinh 3. vô tri (1) SA4 Kinh 4. vô tri (2) SA5 Kinh 5. vô tri (3) SA6 Kinh 6. vô tri (4) SA7 Kinh 7. hỷ lạc sắc SA8 Kinh 8. quá khứ vô thường SA9 Kinh 9. yểm ly SA10 Kinh 10. giải thoát SA11 Kinh 11. nhân duyên (1) SA12 Kinh 12. nhân duyên (2) SA13 Kinh 13. vị (1) SA14 Kinh 14. vị (2) SA15 Kinh 15. sử SA16 Kinh 16. tăng chư số SA17 Kinh 17. phi ngã SA18 Kinh 18. phi bỉ SA19 Kinh 19. kết hệ SA20 sa20 SA21 Kinh 21. động dao SA22 Kinh 22. kiếp-ba sở vấn SA23 Kinh 23. la-hầu-la sở vấn (1) SA24 Kinh 24. la-hầu-la sở vấn (2) SA25 Kinh 25. đa văn SA26 Kinh 26. thiện thuyết pháp SA27 Kinh 27. hướng pháp SA28 Kinh 28. niết-bàn SA29 Kinh 29. tam-mật-ly-đề vấn thuyết pháp sư SA30 Kinh 30. thâu-lũ-na (1) SA31 Kinh 31. thâu-lũ-na (2) SA32 Kinh 32. thâu-lũ-na (3) SA33 Kinh 33. phi ngã SA34 Kinh 34. ngũ tỳ-kheo SA35 Kinh 35. tam chánh sĩ SA36 Kinh 36. thập lục tỳ-kheo SA37 Kinh 37. ngã SA38 Kinh 38. ty hạ SA39 Kinh 39. chủng tử SA40 Kinh 40. phong trệ SA41 Kinh 41. ngũ chuyển SA42 Kinh 42. thất xứ SA43 Kinh 43. thủ trước SA44 Kinh 44. hệ trước SA45 Kinh 45. giác SA46 Kinh 46. tam thế ấm thế thực SA47 Kinh 47. tín SA48 Kinh 48. a-nan (1) SA49 Kinh 49. a-nan (2) SA50 Kinh 50. a-nan (3) SA51 Kinh 51. hoại pháp SA52 sa52 SA53 Kinh 53. bà-la-môn SA54 Kinh 54. thế gian SA55 Kinh 55. ấm SA56 Kinh 56. lậu vô lậu SA57 Kinh 57. tật lậu tận SA58 Kinh 58. ấm căn SA59 Kinh 59. sinh diệt SA60 Kinh 60. bất lạc SA61 Kinh 61. phân biệt (1) SA62 Kinh 62. phân biệt (2) SA63 Kinh 63. phân biệt (3) SA64 Kinh 64. ưu-ðà-na SA65 Kinh 65. thọ SA66 Kinh 66. sanh SA67 Kinh 67. lạc SA68 Kinh 68. lục nhập xứ SA69 Kinh 69. kỳ đạo SA70 Kinh 70. thật giác SA71 Kinh 71. hữu thân SA72 Kinh 72. tri pháp SA73 Kinh 73. trọng ðảm SA74 Kinh 74. vãng nghệ SA75 Kinh 75. quán SA76 Kinh 76. dục SA77 Kinh 77. sanh (1) SA78 Kinh 78. sanh (2) SA79 Kinh 79. sanh (3) SA80 Kinh 80. pháp ấn SA81 Kinh 81. phú-lan-na SA82 Kinh 82. trúc viên SA83 Kinh 83. tỳ-da-ly SA84 Kinh 84. thanh tịnh SA85 Kinh 85. chánh quán sát SA86 Kinh 86. vô thường SA87 Kinh 87. khổ SA88 Kinh 88. hiếu dưỡng SA89 Kinh 89. ưu-ba-ca (1) SA90 Kinh 90. ưu-ba-ca (2) SA91 Kinh 91. uất-xà-ca SA92 Kinh 92. kiêu mạn SA93 Kinh 93. tam hỏa SA94 Kinh 94. mặt trăng SA95 Kinh 95. sanh văn SA96 Kinh 96. dị bà-la-môn SA97 Kinh 97. khất thực SA98 Kinh 98. canh điền SA99 Kinh 99. tịnh thiên SA100 Kinh 100. phật (1)
SA53

Kinh 53. bà-la-môn

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật du hành trong nhân gian, đến ở trong rừng Thân-thứ, phía Bắc tụ lạc Tát-la thuộc nước Câu-tát-la.

Bấy giờ chủ tụ lạc Bà-la-môn Đại Tánh nghe đồn rằng, “Sa-môn dòng họ Thích, ở nơi dòng họ lớn Thích-ca mà cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chánh tín xuất gia, học đạo, sống không gia đình, thành Bậc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác, đang du hành trong nhân gian, đến ở trong rừng Thân-thứ, phía Bắc tụ lạc Tát-la thuộc nước Câu-tát-la này. Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm này, tướng mạo danh xưng, công đức chân thật như vậy được cả trời và người ca tụng, tiếng đồn bay khắp tám phương; là Bậc Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài ở giữa các cõi, chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, với trí tuệ rộng lớn có thể tự mình chứng biết rõ rằng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những điều cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’ Ngài vì đời nói pháp, khoảng đầu, khoảng giữa và khoảng cuối đều toàn thiện; có nghĩa, có vị đều thiện, thuần nhất thanh tịnh, phạm hạnh thanh bạch, diễn nói chánh pháp vi diệu. Lành thay, nên gặp! Lành thay, nên đi đến! Lành thay, nên cung kính thừa sự!”

Nghĩ như vậy rồi, ông liền sửa soạn xe cộ, đem theo nhiều tùy tùng, bưng bình vàng, người cầm lọng cán vàng, đi đến chỗ Đức Phật, cung kính phụng sự. Khi đến cửa rừng, xuống xe đi bộ đến chỗ Đức Thế Tôn, hỏi thăm sức khỏe có an lành không? Rồi ngồi qua một bên, bạch Đức Thế Tôn rằng:

“Thưa Sa-môn Cù-đàm, Ngài luận về cái gì? Và thuyết về cái gì?”

Phật bảo Bà-la-môn:

“Ta luận về nhân và thuyết về nhân.”

Lại bạch Phật rằng:

“Thế nào là luận về nhân? Và thế nào là thuyết về nhân?”

Đức Phật bảo Bà-la-môn:

“Có nhân, có duyên để thế gian tập khởi; có nhân, có duyên cho sự tập khởi của thế gian. Có nhân, có duyên để thế gian diệt; có nhân, có duyên cho sự diệt tận của thế gian.”

Bà-la-môn bạch Phật rằng:

“Bạch Thế Tôn, thế nào là có nhân, có duyên để thế gian tập khởi? Và có nhân, có duyên cho sự tập khởi của thế gian?”

Đức Phật bảo Bà-la-môn:

“Phàm phu ngu si không học, nên không biết như thật về sự tập khởi của sắc, về sự diệt tận của sắc, về vị ngọt của sắc, về sự tai hại của sắc, về sự xuất ly sắc. Vì không biết như thật, nên ái lạc sắc, khen ngợi sắc, tâm nhiễm đắm mà trụ. Kia đối với sắc mà ái lạc nên sanh thủ; duyên thủ nên có hữu; duyên hữu nên có sanh; duyên sanh nên có lão, tử, ưu, bi, khổ, não. Đó chính là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ lớn. Đối với thọ, tưởng, hành, thức, lại cũng như vậy. Này Bà-la-môn, đó gọi là có nhân, có duyên để thế gian tập khởi; có nhân, có duyên cho sự tập khởi của thế gian.”

Bà-la-môn bạch Phật:

“Thế nào là có nhân, có duyên để thế gian diệt tận? Và có nhân, có duyên cho sự diệt tận của thế gian?”

Đức Phật bảo Bà-la-môn:

“Đa văn Thánh đệ tử biết như thật về sự tập khởi của sắc, về sự diệt tận của sắc, về vị ngọt của sắc, về sự tai hại của sắc, về sự xuất ly sắc. Do biết như thật, đối với sắc không ái lạc, không khen ngợi, không nhiễm đắm, không lưu trú. Không ái lạc, không lưu trú, nên sắc ái bị diệt; ái diệt nên thủ diệt; thủ diệt nên hữu diệt; hữu diệt nên sanh diệt; sanh diệt nên lão, tử, ưu, bi, khổ, não diệt. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy. Này Bà-la-môn, đó gọi là có nhân, có duyên để thế gian diệt tận; cũng gọi là có nhân, có duyên cho sự diệt tận của thế gian.

“Này Bà-la-môn, đó gọi là luận nhân, đó gọi là thuyết nhân.”

Bà-la-môn bạch Phật rằng:

“Thưa Cù-đàm, luận nhân là như vậy, thuyết nhân là như vậy. Tôi bận nhiều việc thế gian, nay xin từ giã ra về.”

Phật bảo Bà-la-môn:

“Nên biết đúng thời.”

Phật nói kinh này xong, các Bà-la-môn nghe những gì Đức Phật đã dạy, hoan hỷ tùy hỷ, lễ dưới chân rồi lui.

⏳ Đang tải SA54...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc