Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật trú trong giảng đường Trùng-các, bên bờ ao Di-hầu, tại Tỳ-da-ly, Bấy giờ có người Ly-xa tên là Ma-ha-nam , thường ngày hay du hành đến chỗ đức Phật. Ly-xa này bấy giờ tự nghĩ: ‘Nếu ta đến sớm chỗ Phật, thì hiện giờ Ðức Thế Tôn và các Tỳ kheo quen biết của ta đều đang thiền tư. Bây giờ ta nên đến chỗ ngoại đạo A-kỳ-tỳ nơi bảy cây Yêm-la.’ Rồi ông đến chỗ ở của Phú-lan-na Ca-diếp này.
Hiện Phú-lan-na Ca-diếp đang là thủ lãnh chúng ngoại đạo gồm năm trăm người, đang vây quanh trước sau, tiếng cười đùa huyên náo, bàn luận việc thế gian. Bấy giờ, Ca-diếp từ xa nhìn thấy Ly-xa Ma-ha-man đang đến, liền bảo các quyến thuộc của mình nên giữ yên tĩnh, ‘Các ông nên giữ yên lặng, đó là Ly-xa Ma-ha-man, là đệ tử của Sa môn Cù-đàm. Ông ta là đệ tử tại gia của Sa-môn Cù-đàm, và cũng là người đứng đầu ở Tỳ-da-ly. Ông ta luôn thích sự tĩnh lặng, và khen ngợi sự tĩnh lặng; chỗ Ông ta đến là nơi đồ chúng tĩnh lặng, vì thế cho nên các ông nên giữ sự yên lặng.’
Khi Ma-ha-nam đến chỗ đồ chúng Phú-lan-na, cùng với Phú-lan-na thăm hỏi sức khỏe nhau, rồi ngồi qua một bên. Bấy giờ, Ma-ha-nam hỏi Phú-lan-na rằng:
“Tôi nghe Phú-lan-na vì các đệ tử nói pháp rằng, sự cấu uế hiện có của chúng sanh không do nhân, không do duyên và, sự thanh tịnh hiện có của chúng sanh cũng không nhân, không duyên. Hiện thế gian đang truyền luận thuyết này. Ông nên xem xét lại, có phải đây là những lời hủy báng nhau của người ngoài, hay người đời bày đặt ra? đó là pháp, hay phi pháp? Ông có cùng tranh luận với người đời, bị nạn vấn, bị chỉ trích không?
Phú-lan-na Ca-diếp đáp:
“Thật sự, có luận thuyết này, chứ không phải là người đời ngoa truyền. Tôi đã lập ra luận thuyết này. Ðó là luận như pháp. Tôi đã nói pháp này tất cả đều thuận theo pháp. Không có người thế gian nào đến đây nạn vấn và chỉ trích. Vì sao? Ma-ha-nam, tôi thấy như vậy, nói như vậy: ‘sự cấu uế hiện có của chúng sanh là không nhân, không duyên, và sự thanh tịnh hiện có của chúng sanh là không nhân, không duyên.’”
Khi Ma-ha-nam nghe những gì Phú-lan-na đã nói, lòng không vui, chỉ trích, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy ra về. Ông đến chỗ Ðức Thế Tôn, đầu mặt lạy sát chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem tất cả mọi chuyện đã bàn luận cùng Phú-la-na trình hết lên Thế tôn.
Phật bảo Ly-xa Ma-ha-nam:
“Ðó là nhừng lời nói không cân nhắc của Phú-lan-na, không đáng để ghi nhớ. Như vậy, Phú-lan-na là người ngu si, thiếu hiểu biết, không thiện xảo, khi chủ trương không nhân mà nói như vầy: ‘Sự cấu uế hiện có của chúng sanh là không nhân, không duyên, và sự thanh tịnh hiện có của chúng sanh cũng không nhân, không duyên.’ Vì sao? Vì có nhân, có duyên chúng sanh có cấu uế; có nhân, có duyên chúng sanh thanh tịnh.
“Ma-ha-nam, do nhân gì, duyên gì mà chúng sanh có cấu uế?
“Này Ma-ha-nam, nếu sắc chỉ một mực là khổ, không phải lạc, không phải tùy lạc, không được trưởng dưỡng bởi lạc, xa lìa lạc, thì chúng sanh đã không nhân đây mà sanh ra sự ái lạc đắm trước. Nhưng, này Ma-ha-nam, sắc chẳng phải chỉ một mực là khổ, không phải lạc, mà là tùy lạc, được trưởng dưỡng bởi lạc, chẳng xa lìa lạc, cho nên chúng sanh nhiễm đắm sắc. Do nhiễm đắm nên bị trói buộc; vì bị trói buộc, nên có phiền não.
“Này Ma-ha-nam, nếu thọ, tưởng, hành, thức chỉ một mực là khổ, không phải lạc, không phải tùy lạc, không được trưởng dưỡng bởi lạc, xa lìa lạc, thì chúng sanh đã không nhân đây mà sanh ra sự ái lạc đắm trước. Nhưng, này Ma-ha-nam, vì …… thức chẳng phải chỉ một mực là khổ, không phải lạc, mà là tùy lạc, được trưởng dưỡng bởi lạc, chẳng xa lìa lạc, cho nên chúng sanh nhiễm đắm …… thức. Vì đã bị nhiễm đắm nên bị trói buộc; vì bị trói buộc nên sanh ra phiền não.
“Ðó gọi là có sự cấu uế của chúng sanh là có nhân, có duyên.
“Ma-ha-nam, vì nhân gì, duyên gì mà chúng sanh thanh tịnh?
“Này Ma-ha-nam, nếu sắc chỉ một mực là lạc, chẳng phải khổ, chẳng phải tùy khổ, chẳng phải trưởng dưỡng ưu khổ, xa lìa khổ, thì chúng sanh không nên nhân sắc này mà sanh ra nhàm chán, xa lìa. Nhưng, này Ma-ha-nam, vì sắc chẳng phải chỉ một mực là lạc, mà là khổ, tùy khổ, nuôi lớn sầu khổ, chẳng xa lìa khổ, cho nên chúng sanh đối với sắc sanh ra nhàm chán, xa lìa. Vì nhàm chán nên không thích; vì không thích nên giải thóat.
“Này Ma-ha-nam, nếu thọ, tưởng, hành, thức chỉ một mực là lạc, chẳng phải khổ, chẳng phải tùy khổ, chẳng phải trưởng dưỡng ưu khổ, xa lìa khổ, thì chúng sanh không nên nhân nơi …… thức mà sanh ra nhàm chán, xalìa. Nhưng, này Ma-ha-nam, vì thọ, tưởng, hành, thức chẳng phải chỉ một mực là lạc, mà là khổ, tùy khổ, nuôi lớn sầu khổ, chẳng xa lìa khổ, cho nên chúng sanh đối với sắc sanh ra nhàm chán, xa lìa. Vì nhàm chán nên không thích; vì không thích nên giải thóat.
“Này Ma-ha-nam, đó gọi là sự thanh tịnh của chúng sanh là có nhân, có duyên.”
Khi Ma-ha-nam nghe những gì đức Phật đã dạy, hoan hỷ phụng hành.
Bài kệ tóm tắt
Tri pháp cùng trọng đảm,
Vãng nghệ, quán, dục tham.
Kinh sanh, và lược thuyết,
Pháp ấn, Phú-lan-na.
如是我聞:
一時,佛住毘耶離獼猴池T 0020b29側重閣講堂。
爾時,有離車名摩訶男,日T 0020c01日遊行,往詣佛所。時,彼離車作是念:「若我T 0020c02早詣世尊所者,世尊及我知識比丘皆悉T 0020c03禪思,我今當詣七菴羅樹阿耆毘外道所。」T 0020c04即往詣彼富蘭那迦葉住處。
時,富蘭那迦T 0020c05葉——外道眾主,與五百外道前後圍遶,高聲T 0020c06嬉戲,論說俗事。時,富蘭那迦葉遙見離車T 0020c07摩訶男來,告其眷屬,令寂靜住:「汝等默然!T 0020c08是離車摩訶男是沙門瞿曇弟子,此是沙門T 0020c09瞿曇白衣弟子,毘耶離中最為上首,常樂T 0020c10靜寂,讚歎寂靜,彼所之詣寂靜之眾,是故T 0020c11汝等應當寂靜。」
時,摩訶男詣彼眾富蘭那T 0020c12所,與富蘭那共相問訊,相慰勞已,却坐一T 0020c13面。時,摩訶男語富蘭那言:「我聞富蘭那為T 0020c14諸弟子說法:『無因、無緣眾生有垢,無因、無緣T 0020c15眾生清淨。』世有此論,汝為審有此,為是外T 0020c16人相毀之言?世人所撰,為是法、為非法,頗T 0020c17有世人共論、難問、嫌責以不?」
富蘭那迦葉T 0020c18言:「實有此論,非世妄傳。我立此論,是如法T 0020c19論,我說此法,皆是順法,無有世人來共難T 0020c20問而呵責者。所以者何?摩訶男!我如是見、如T 0020c21是說:『無因、無緣眾生有垢,無因、無緣眾生清T 0020c22淨。』」
時,摩訶男聞富蘭那所說,心不喜樂,呵T 0020c23罵已,從坐起去,向世尊所,頭面禮足,却坐T 0020c24一面,以向與富蘭那所論事,向佛廣說。
佛T 0020c25告離車摩訶男:「彼富蘭那為出意語,不足T 0020c26記也。如是富蘭那愚癡,不辨、不善、非因T 0020c27而作是說:『無因、無緣眾生有垢,無因、無緣眾T 0020c28生清淨。』所以者何?有因、有緣眾生有垢,有T 0020c29因、有緣眾生清淨。
「摩訶男!何因、何緣眾生有T 0021a01垢,何因、何緣眾生清淨?摩訶男!若色一向T 0021a02是苦,非樂、非隨樂、非樂長養、離樂者,眾生T 0021a03不應因此而生樂著。摩訶男!以色非一向T 0021a04是苦,是樂、隨樂、樂所長養、不離樂,是故眾T 0021a05生於色染著;染著故繫,繫故有惱。摩訶男!T 0021a06若受、想、行、識一向是苦,非樂、非隨樂、非T 0021a07樂長養、離樂者,眾生不應因此而生樂著。T 0021a08摩訶男!以識非一向是苦,是樂,隨樂、樂所T 0021a09長養、不離樂,是故眾生於識染著;染著故T 0021a10繫,繫故生惱。摩訶男!是名有因、有緣眾T 0021a11生有垢。
「摩訶男!何因、何緣眾生清淨?摩訶T 0021a12男!若色一向是樂,非苦、非隨苦、非憂苦T 0021a13長養、離苦者,眾生不應因色而生厭離。摩T 0021a14訶男!以色非一向樂,是苦、隨苦、憂苦長養、T 0021a15不離苦,是故眾生厭離於色;厭故不樂,T 0021a16不樂故解脫。摩訶男!若受、想、行、識一向是T 0021a17樂,非苦、非隨苦、非憂苦長養、離苦者,眾T 0021a18生不應因識而生厭離。摩訶男!以受、想、行、T 0021a19識非一向樂,是苦、隨苦、憂苦長養、不離苦,T 0021a20是故眾生厭離於識;厭故不樂,不樂故解T 0021a21脫。摩訶男!是名有因、有緣眾生清淨。」
時,摩訶T 0021a22男聞佛所說,歡喜隨喜,禮佛而退。
T 0021a23
知法及重擔 往詣、觀、欲貪T 0021a24
生及與略說 法印、富蘭那
T 0021a25 Thus have I heard. At one time the Buddha was staying at Vesalī in the Hall with the Peaked Roof by the side of the Monkey Pond.
At that time there was a Licchavi by the name of Mahānāma, who every day used to roam around. T 20c While he was approaching the Buddha, that Licchavi thought: ‘If I were to approach the Blessed One in the morning, then the Blessed One and the monks known to me will all be meditating. Let me now approach the ājīvikas and heterodox practitioners who are at the Seven Mango Trees.’ He approached the place where Pūraṇa Kassapa stayed.
Then Pūraṇa Kassapa, being the leader of an assembly of heterodox practitioners, was surrounded on all sides by five hundred heterodox practitioners, who were making a loud clamour discussing worldly things. Then Pūraṇa Kassapa, on seeing from afar that the Licchavi Mahānāma was coming, told his followers that they should stay quiet: “You be silent! This is the Licchavi Mahānāma, who is a disciple of the recluse Gotama. Among those who are white clothed disciples of the recluse Gotama in Vesalī he is foremost. They always delight in quietude and commend quietude. He approaches quiet assemblies, therefore you should be quiet.”
Then Mahānāma approached the assembly of Pūraṇa and exchanged polite greetings with Pūraṇa. Having friendly greeted each other, he withdrew to sit at one side. Then Mahānāma said to Pūraṇa: “I heard that Pūraṇa gives this teaching to his disciples: ‘There is no cause, there is no condition for the defilement of living beings; there is no cause, there is no condition for the purification of living beings.’
“In the world, is there such a doctrine? Is this truly yours? Or is this a saying by an outsider to discredit you? Is this composed by people in the world, is this your teaching or is this not your teaching? Are there people in the world who have discussed this with you, closely questioned you about it, and criticized it?”
Pūraṇa Kassapa said: “It is true that there is such a doctrine by me, it is not handed down wrongly in the world. I have established this doctrine, this doctrine is in accordance with my teaching and doctrines. I proclaim this teaching, it is all in line with my teaching and no person in the world has come and, closely questioning me, criticized it. Why is that? Mahānāma, I have this view and make this proclamation: ‘There is no cause, there is no condition for the defilement of living beings; there is no cause, there is no condition for the purification of living beings.’”
Then Mahānāma, hearing what Pūraṇa had said, was not pleased in his mind. Having disapproved of it, he rose from his seat and left. He approached the Blessed One, paid homage with his head at the Buddha’s feet, withdrew to sit at one side and told the Buddha fully the discussion he had had with Pūraṇa.
The Buddha said to the Licchavi Mahānāma: “What that Pūraṇa has said, giving vent to his ideas, is not worth being remembered. Pūraṇa is thus a fool, he does not differentiate and is unskilful. Denying causation, he says this: ‘There is no cause, there is no condition for the defilement of living beings; there is no cause, there is no condition for the purification of living beings.’ Why is that? There is a cause, there is a condition for the defilement of living beings; there is a cause, there is a condition for the purification of living beings.’
“Mahānāma, what is the cause, what is the condition for the defilement of living beings? T 21a What is the cause, what is the condition for the purification of living beings?
“Mahānāma, if bodily form were entirely dukkha and unpleasant, not followed by pleasure and not nourishing pleasure, being without pleasure, then living beings would not give rise to delight and attachment because of it. Mahānāma, because bodily form is not entirely dukkha and unpleasant, but is followed by pleasure and nourishes pleasure, being not without pleasure, therefore living beings are defiled by attachment to bodily form. Because of being defiled by attachment, they are tied to it. Because of being tied to it, there is vexation.
“Mahānāma, if feeling … perception … formations … consciousness were entirely dukkha and unpleasant, not followed by pleasure and not nourishing pleasure, being without pleasure, then living beings would not give rise to delight and attachment because of it. Mahānāma, because consciousness is not entirely dukkha and unpleasant, but is followed by pleasure and nourishes pleasure, being not without pleasure, therefore living beings are defiled by attachment to consciousness. Because of being defiled by attachment, they are tied to it. Because of being tied to it, vexation arises.
“Mahānāma, this is called the explanation of: ‘there is a cause, there is a condition for the defilement of living beings.’
“Mahānāma, what is the cause, what is the condition for the purification of living beings?
“Mahānāma, if bodily form were entirely pleasant and not dukkha, not followed by dukkha and not nourishing sorrow and pain, being without dukkha, then living beings would not give rise to disenchantment because of bodily form. Mahānāma, because bodily form is not entirely pleasant and is dukkha, is followed by dukkha and nourishes sorrow and pain, not being without dukkha, therefore living beings give rise to disenchantment towards bodily form. Because of being disenchanted, they do not delight in it. Because of not delighting in it, they are liberated from it.
“Mahānāma, if feeling … perception … formations … consciousness were entirely pleasant and not dukkha, not followed by dukkha and not nourishing sorrow and pain, being without dukkha, then living beings would not give rise to disenchantment because of consciousness. Mahānāma, because feeling … perception … formations … consciousness is not entirely pleasant and is dukkha, is followed by dukkha and nourishes sorrow and pain, not being without dukkha, therefore living beings give rise to disenchantment towards consciousness. Because of being disenchanted, they do not delight in it. Because of not delighting in it, they are liberated from it.
“Mahānāma, this is called the explanation of: ‘There is a cause, there is a condition for the purification of living beings.”
Then Mahānāma, hearing what the Buddha had said, rejoiced and was delighted. He paid respect to the Buddha and left.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật trú trong giảng đường Trùng-các, bên bờ ao Di-hầu, tại Tỳ-da-ly, Bấy giờ có người Ly-xa tên là Ma-ha-nam , thường ngày hay du hành đến chỗ đức Phật. Ly-xa này bấy giờ tự nghĩ: ‘Nếu ta đến sớm chỗ Phật, thì hiện giờ Ðức Thế Tôn và các Tỳ kheo quen biết của ta đều đang thiền tư. Bây giờ ta nên đến chỗ ngoại đạo A-kỳ-tỳ nơi bảy cây Yêm-la.’ Rồi ông đến chỗ ở của Phú-lan-na Ca-diếp này.
Hiện Phú-lan-na Ca-diếp đang là thủ lãnh chúng ngoại đạo gồm năm trăm người, đang vây quanh trước sau, tiếng cười đùa huyên náo, bàn luận việc thế gian. Bấy giờ, Ca-diếp từ xa nhìn thấy Ly-xa Ma-ha-man đang đến, liền bảo các quyến thuộc của mình nên giữ yên tĩnh, ‘Các ông nên giữ yên lặng, đó là Ly-xa Ma-ha-man, là đệ tử của Sa môn Cù-đàm. Ông ta là đệ tử tại gia của Sa-môn Cù-đàm, và cũng là người đứng đầu ở Tỳ-da-ly. Ông ta luôn thích sự tĩnh lặng, và khen ngợi sự tĩnh lặng; chỗ Ông ta đến là nơi đồ chúng tĩnh lặng, vì thế cho nên các ông nên giữ sự yên lặng.’
Khi Ma-ha-nam đến chỗ đồ chúng Phú-lan-na, cùng với Phú-lan-na thăm hỏi sức khỏe nhau, rồi ngồi qua một bên. Bấy giờ, Ma-ha-nam hỏi Phú-lan-na rằng:
“Tôi nghe Phú-lan-na vì các đệ tử nói pháp rằng, sự cấu uế hiện có của chúng sanh không do nhân, không do duyên và, sự thanh tịnh hiện có của chúng sanh cũng không nhân, không duyên. Hiện thế gian đang truyền luận thuyết này. Ông nên xem xét lại, có phải đây là những lời hủy báng nhau của người ngoài, hay người đời bày đặt ra? đó là pháp, hay phi pháp? Ông có cùng tranh luận với người đời, bị nạn vấn, bị chỉ trích không?
Phú-lan-na Ca-diếp đáp:
“Thật sự, có luận thuyết này, chứ không phải là người đời ngoa truyền. Tôi đã lập ra luận thuyết này. Ðó là luận như pháp. Tôi đã nói pháp này tất cả đều thuận theo pháp. Không có người thế gian nào đến đây nạn vấn và chỉ trích. Vì sao? Ma-ha-nam, tôi thấy như vậy, nói như vậy: ‘sự cấu uế hiện có của chúng sanh là không nhân, không duyên, và sự thanh tịnh hiện có của chúng sanh là không nhân, không duyên.’”
Khi Ma-ha-nam nghe những gì Phú-lan-na đã nói, lòng không vui, chỉ trích, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy ra về. Ông đến chỗ Ðức Thế Tôn, đầu mặt lạy sát chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem tất cả mọi chuyện đã bàn luận cùng Phú-la-na trình hết lên Thế tôn.
Phật bảo Ly-xa Ma-ha-nam:
“Ðó là nhừng lời nói không cân nhắc của Phú-lan-na, không đáng để ghi nhớ. Như vậy, Phú-lan-na là người ngu si, thiếu hiểu biết, không thiện xảo, khi chủ trương không nhân mà nói như vầy: ‘Sự cấu uế hiện có của chúng sanh là không nhân, không duyên, và sự thanh tịnh hiện có của chúng sanh cũng không nhân, không duyên.’ Vì sao? Vì có nhân, có duyên chúng sanh có cấu uế; có nhân, có duyên chúng sanh thanh tịnh.
“Ma-ha-nam, do nhân gì, duyên gì mà chúng sanh có cấu uế?
“Này Ma-ha-nam, nếu sắc chỉ một mực là khổ, không phải lạc, không phải tùy lạc, không được trưởng dưỡng bởi lạc, xa lìa lạc, thì chúng sanh đã không nhân đây mà sanh ra sự ái lạc đắm trước. Nhưng, này Ma-ha-nam, sắc chẳng phải chỉ một mực là khổ, không phải lạc, mà là tùy lạc, được trưởng dưỡng bởi lạc, chẳng xa lìa lạc, cho nên chúng sanh nhiễm đắm sắc. Do nhiễm đắm nên bị trói buộc; vì bị trói buộc, nên có phiền não.
“Này Ma-ha-nam, nếu thọ, tưởng, hành, thức chỉ một mực là khổ, không phải lạc, không phải tùy lạc, không được trưởng dưỡng bởi lạc, xa lìa lạc, thì chúng sanh đã không nhân đây mà sanh ra sự ái lạc đắm trước. Nhưng, này Ma-ha-nam, vì …… thức chẳng phải chỉ một mực là khổ, không phải lạc, mà là tùy lạc, được trưởng dưỡng bởi lạc, chẳng xa lìa lạc, cho nên chúng sanh nhiễm đắm …… thức. Vì đã bị nhiễm đắm nên bị trói buộc; vì bị trói buộc nên sanh ra phiền não.
“Ðó gọi là có sự cấu uế của chúng sanh là có nhân, có duyên.
“Ma-ha-nam, vì nhân gì, duyên gì mà chúng sanh thanh tịnh?
“Này Ma-ha-nam, nếu sắc chỉ một mực là lạc, chẳng phải khổ, chẳng phải tùy khổ, chẳng phải trưởng dưỡng ưu khổ, xa lìa khổ, thì chúng sanh không nên nhân sắc này mà sanh ra nhàm chán, xa lìa. Nhưng, này Ma-ha-nam, vì sắc chẳng phải chỉ một mực là lạc, mà là khổ, tùy khổ, nuôi lớn sầu khổ, chẳng xa lìa khổ, cho nên chúng sanh đối với sắc sanh ra nhàm chán, xa lìa. Vì nhàm chán nên không thích; vì không thích nên giải thóat.
“Này Ma-ha-nam, nếu thọ, tưởng, hành, thức chỉ một mực là lạc, chẳng phải khổ, chẳng phải tùy khổ, chẳng phải trưởng dưỡng ưu khổ, xa lìa khổ, thì chúng sanh không nên nhân nơi …… thức mà sanh ra nhàm chán, xalìa. Nhưng, này Ma-ha-nam, vì thọ, tưởng, hành, thức chẳng phải chỉ một mực là lạc, mà là khổ, tùy khổ, nuôi lớn sầu khổ, chẳng xa lìa khổ, cho nên chúng sanh đối với sắc sanh ra nhàm chán, xa lìa. Vì nhàm chán nên không thích; vì không thích nên giải thóat.
“Này Ma-ha-nam, đó gọi là sự thanh tịnh của chúng sanh là có nhân, có duyên.”
Khi Ma-ha-nam nghe những gì đức Phật đã dạy, hoan hỷ phụng hành.
Bài kệ tóm tắt
Tri pháp cùng trọng đảm,
Vãng nghệ, quán, dục tham.
Kinh sanh, và lược thuyết,
Pháp ấn, Phú-lan-na.
Thus have I heard. At one time the Buddha was staying at Vesalī in the Hall with the Peaked Roof by the side of the Monkey Pond.
At that time there was a Licchavi by the name of Mahānāma, who every day used to roam around. T 20c While he was approaching the Buddha, that Licchavi thought: ‘If I were to approach the Blessed One in the morning, then the Blessed One and the monks known to me will all be meditating. Let me now approach the ājīvikas and heterodox practitioners who are at the Seven Mango Trees.’ He approached the place where Pūraṇa Kassapa stayed.
Then Pūraṇa Kassapa, being the leader of an assembly of heterodox practitioners, was surrounded on all sides by five hundred heterodox practitioners, who were making a loud clamour discussing worldly things. Then Pūraṇa Kassapa, on seeing from afar that the Licchavi Mahānāma was coming, told his followers that they should stay quiet: “You be silent! This is the Licchavi Mahānāma, who is a disciple of the recluse Gotama. Among those who are white clothed disciples of the recluse Gotama in Vesalī he is foremost. They always delight in quietude and commend quietude. He approaches quiet assemblies, therefore you should be quiet.”
Then Mahānāma approached the assembly of Pūraṇa and exchanged polite greetings with Pūraṇa. Having friendly greeted each other, he withdrew to sit at one side. Then Mahānāma said to Pūraṇa: “I heard that Pūraṇa gives this teaching to his disciples: ‘There is no cause, there is no condition for the defilement of living beings; there is no cause, there is no condition for the purification of living beings.’
“In the world, is there such a doctrine? Is this truly yours? Or is this a saying by an outsider to discredit you? Is this composed by people in the world, is this your teaching or is this not your teaching? Are there people in the world who have discussed this with you, closely questioned you about it, and criticized it?”
Pūraṇa Kassapa said: “It is true that there is such a doctrine by me, it is not handed down wrongly in the world. I have established this doctrine, this doctrine is in accordance with my teaching and doctrines. I proclaim this teaching, it is all in line with my teaching and no person in the world has come and, closely questioning me, criticized it. Why is that? Mahānāma, I have this view and make this proclamation: ‘There is no cause, there is no condition for the defilement of living beings; there is no cause, there is no condition for the purification of living beings.’”
Then Mahānāma, hearing what Pūraṇa had said, was not pleased in his mind. Having disapproved of it, he rose from his seat and left. He approached the Blessed One, paid homage with his head at the Buddha’s feet, withdrew to sit at one side and told the Buddha fully the discussion he had had with Pūraṇa.
The Buddha said to the Licchavi Mahānāma: “What that Pūraṇa has said, giving vent to his ideas, is not worth being remembered. Pūraṇa is thus a fool, he does not differentiate and is unskilful. Denying causation, he says this: ‘There is no cause, there is no condition for the defilement of living beings; there is no cause, there is no condition for the purification of living beings.’ Why is that? There is a cause, there is a condition for the defilement of living beings; there is a cause, there is a condition for the purification of living beings.’
“Mahānāma, what is the cause, what is the condition for the defilement of living beings? T 21a What is the cause, what is the condition for the purification of living beings?
“Mahānāma, if bodily form were entirely dukkha and unpleasant, not followed by pleasure and not nourishing pleasure, being without pleasure, then living beings would not give rise to delight and attachment because of it. Mahānāma, because bodily form is not entirely dukkha and unpleasant, but is followed by pleasure and nourishes pleasure, being not without pleasure, therefore living beings are defiled by attachment to bodily form. Because of being defiled by attachment, they are tied to it. Because of being tied to it, there is vexation.
“Mahānāma, if feeling … perception … formations … consciousness were entirely dukkha and unpleasant, not followed by pleasure and not nourishing pleasure, being without pleasure, then living beings would not give rise to delight and attachment because of it. Mahānāma, because consciousness is not entirely dukkha and unpleasant, but is followed by pleasure and nourishes pleasure, being not without pleasure, therefore living beings are defiled by attachment to consciousness. Because of being defiled by attachment, they are tied to it. Because of being tied to it, vexation arises.
“Mahānāma, this is called the explanation of: ‘there is a cause, there is a condition for the defilement of living beings.’
“Mahānāma, what is the cause, what is the condition for the purification of living beings?
“Mahānāma, if bodily form were entirely pleasant and not dukkha, not followed by dukkha and not nourishing sorrow and pain, being without dukkha, then living beings would not give rise to disenchantment because of bodily form. Mahānāma, because bodily form is not entirely pleasant and is dukkha, is followed by dukkha and nourishes sorrow and pain, not being without dukkha, therefore living beings give rise to disenchantment towards bodily form. Because of being disenchanted, they do not delight in it. Because of not delighting in it, they are liberated from it.
“Mahānāma, if feeling … perception … formations … consciousness were entirely pleasant and not dukkha, not followed by dukkha and not nourishing sorrow and pain, being without dukkha, then living beings would not give rise to disenchantment because of consciousness. Mahānāma, because feeling … perception … formations … consciousness is not entirely pleasant and is dukkha, is followed by dukkha and nourishes sorrow and pain, not being without dukkha, therefore living beings give rise to disenchantment towards consciousness. Because of being disenchanted, they do not delight in it. Because of not delighting in it, they are liberated from it.
“Mahānāma, this is called the explanation of: ‘There is a cause, there is a condition for the purification of living beings.”
Then Mahānāma, hearing what the Buddha had said, rejoiced and was delighted. He paid respect to the Buddha and left.