Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa1-100
SA41 Kinh 41. ngũ chuyển
SA1 Kinh 1. vô thường SA2 Kinh 2. chánh tư duy SA3 Kinh 3. vô tri (1) SA4 Kinh 4. vô tri (2) SA5 Kinh 5. vô tri (3) SA6 Kinh 6. vô tri (4) SA7 Kinh 7. hỷ lạc sắc SA8 Kinh 8. quá khứ vô thường SA9 Kinh 9. yểm ly SA10 Kinh 10. giải thoát SA11 Kinh 11. nhân duyên (1) SA12 Kinh 12. nhân duyên (2) SA13 Kinh 13. vị (1) SA14 Kinh 14. vị (2) SA15 Kinh 15. sử SA16 Kinh 16. tăng chư số SA17 Kinh 17. phi ngã SA18 Kinh 18. phi bỉ SA19 Kinh 19. kết hệ SA20 sa20 SA21 Kinh 21. động dao SA22 Kinh 22. kiếp-ba sở vấn SA23 Kinh 23. la-hầu-la sở vấn (1) SA24 Kinh 24. la-hầu-la sở vấn (2) SA25 Kinh 25. đa văn SA26 Kinh 26. thiện thuyết pháp SA27 Kinh 27. hướng pháp SA28 Kinh 28. niết-bàn SA29 Kinh 29. tam-mật-ly-đề vấn thuyết pháp sư SA30 Kinh 30. thâu-lũ-na (1) SA31 Kinh 31. thâu-lũ-na (2) SA32 Kinh 32. thâu-lũ-na (3) SA33 Kinh 33. phi ngã SA34 Kinh 34. ngũ tỳ-kheo SA35 Kinh 35. tam chánh sĩ SA36 Kinh 36. thập lục tỳ-kheo SA37 Kinh 37. ngã SA38 Kinh 38. ty hạ SA39 Kinh 39. chủng tử SA40 Kinh 40. phong trệ SA41 Kinh 41. ngũ chuyển SA42 Kinh 42. thất xứ SA43 Kinh 43. thủ trước SA44 Kinh 44. hệ trước SA45 Kinh 45. giác SA46 Kinh 46. tam thế ấm thế thực SA47 Kinh 47. tín SA48 Kinh 48. a-nan (1) SA49 Kinh 49. a-nan (2) SA50 Kinh 50. a-nan (3) SA51 Kinh 51. hoại pháp SA52 sa52 SA53 Kinh 53. bà-la-môn SA54 Kinh 54. thế gian SA55 Kinh 55. ấm SA56 Kinh 56. lậu vô lậu SA57 Kinh 57. tật lậu tận SA58 Kinh 58. ấm căn SA59 Kinh 59. sinh diệt SA60 Kinh 60. bất lạc SA61 Kinh 61. phân biệt (1) SA62 Kinh 62. phân biệt (2) SA63 Kinh 63. phân biệt (3) SA64 Kinh 64. ưu-ðà-na SA65 Kinh 65. thọ SA66 Kinh 66. sanh SA67 Kinh 67. lạc SA68 Kinh 68. lục nhập xứ SA69 Kinh 69. kỳ đạo SA70 Kinh 70. thật giác SA71 Kinh 71. hữu thân SA72 Kinh 72. tri pháp SA73 Kinh 73. trọng ðảm SA74 Kinh 74. vãng nghệ SA75 Kinh 75. quán SA76 Kinh 76. dục SA77 Kinh 77. sanh (1) SA78 Kinh 78. sanh (2) SA79 Kinh 79. sanh (3) SA80 Kinh 80. pháp ấn SA81 Kinh 81. phú-lan-na SA82 Kinh 82. trúc viên SA83 Kinh 83. tỳ-da-ly SA84 Kinh 84. thanh tịnh SA85 Kinh 85. chánh quán sát SA86 Kinh 86. vô thường SA87 Kinh 87. khổ SA88 Kinh 88. hiếu dưỡng SA89 Kinh 89. ưu-ba-ca (1) SA90 Kinh 90. ưu-ba-ca (2) SA91 Kinh 91. uất-xà-ca SA92 Kinh 92. kiêu mạn SA93 Kinh 93. tam hỏa SA94 Kinh 94. mặt trăng SA95 Kinh 95. sanh văn SA96 Kinh 96. dị bà-la-môn SA97 Kinh 97. khất thực SA98 Kinh 98. canh điền SA99 Kinh 99. tịnh thiên SA100 Kinh 100. phật (1)
SA41

Kinh 41. ngũ chuyển

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

“Có năm thọ ấm. Đó là sắc thọ ấm; thọ, tưởng, hành, thức thọ ấm. Ta đối với năm thọ ấm này, có năm như thật tri. Như thật tri về sắc, về sự tập khởi của sắc, về vị ngọt của sắc, về tai hại của sắc và về sự xuất ly sắc. Cũng vậy, như thật tri về thọ, tưởng, hành, thức, về sự tập khởi của thức, về vị ngọt của thức, về tai hại của thức và về sự xuất ly thức.

“Thế nào là như thật tri về sắc? Những gì là sắc là tất cả bốn đại và sắc do bốn đại sanh ra. Đó gọi là sắc. Như vậy, như thật tri về sắc.

“Thế nào là như thật tri về sự tập khởi của sắc? Đối với sắc mà có hỷ ái. Đó gọi là sự tập khởi của sắc. Như vậy, như thật tri về sự tập khởi của sắc.

“Thế nào là như thật tri về vị ngọt của sắc? Do duyên vào sắc mà sanh ra hỷ lạc. Đó gọi là vị ngọt của sắc. Như vậy, như thật tri về vị ngọt của sắc.

“Thế nào là như thật tri về sự tai hại của sắc? Sắc là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đóù gọi là sự tai hại của sắc. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của sắc.

“Thế nào là như thật tri về sự xuất ly sắc? Đối với sắc mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là sự xuất ly sắc. Như vậy, như thật tri về sự xuất ly sắc.

“Thế nào là như thật tri về thọ? Có sáu thọ thân. Thọ phát sanh từ nhãn xúc, thọ phát sanh từ tai, mũi, lưỡi, thân và ý xúc. Đó gọi là sáu thọ. Như vậy, như thật tri về thọ.

“Thế nào là như thật tri về sự tập khởi của thọ? Sự tập khởi của xúc là sự tập khởi của thọ. Như vậy, như thật tri về sự tập khởi của thọ.

“Thế nào là như thật tri về vị ngọt của thọ? Hỷ lạc duyên vào sáu thọ mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của thọ. Như vậy, như thật tri về vị ngọt của thọ.

“Thế nào là như thật tri về sự tai hại của thọ? Thọ là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đóù gọi là tai hại của thọ. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của thọ.

“Thế nào là như thật tri về sự xuất ly thọ? Đối với thọ mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là lìa thọ. Như vậy, như thật tri về sự lìa thọ.

“Thế nào là như thật tri về về tưởng? Có sáu tưởng thân. Tưởng phát sanh bởi nhãn xúc; tưởng phát sanh bởi tai, mũi, lưỡi, thân, ý xúc. Đó gọi là tưởng. Như vậy, như thật tri về tưởng.

“Thế nào là như thật tri về sự tập khởi của tưởng? Sự tập khởi của xúc là sự tập khởi của tưởng. Như vậy, như thật tri về sự tập khởi của tưởng.

“Thế nào là như thật tri về vị ngọt của tưởng? Hỷ lạc do duyên vào tưởng mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của tưởng. Như vậy, như thật tri về vị ngọt của tưởng.

“Thế nào như thật tri về sự tai hại của tưởng? Tưởng là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai hại của tưởng. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của tưởng.

“Thế nào là như thật tri về sự xuất ly tưởng? Đối với tưởng mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là sự lìa tưởng. Như vậy, như thật tri về sự lìa tưởng.

“Thế nào là như thật tri về sự hiện hữu của hành? Có sáu tư thân. Tư phát sanh bởi nhãn xúc. Tư phát sanh bởi tai, mũi, lưỡi, thân, ý xúc. Đó gọi là hành. Như vậy, như thật tri về hành.

“Thế nào là như thật tri về sự tập khởi của hành? Sự tập khởi của xúc là sự tập khởi của hành. Như vậy, như thật tri về sự tập khởi của hành.

“Thế nào là như thật tri về vị ngọt của hành? Hỷ lạc do duyên vào hành mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của hành. Như vậy, như thật tri về vị ngọt của hành.

“Thế nào gọi là như thật tri về sự tai hại của hành? Hành là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai hại của hành. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của hành.

“Thế nào là như thật tri về sự xuất ly hành? Đối với hành mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là sự xuất ly hành. Như vậy, như thật tri về sự xuất ly hành.

“Thế nào là như thật tri về thức? Có sáu thức thân. Thức của mắt, thức của tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Đó gọi là thức. Như vậy, như thật tri về thức.

“Thế nào là như thật tri về sự tập khởi của thức? Sự tập khởi của sắc là sự tập khởi của thức. Như vậy, như thật tri về sự tập khởi của thức.

“Thế nào là như thật tri về vị ngọt của thức? Hỷ lạc do duyên vào thức mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của thức. Như vậy, như thật tri về vị ngọt của thức.

“Thế nào là như thật tri về sự tại hại của thức? Thức là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai hại của thức. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của thức.

“Thế nào là như thật tri về sự xuất ly thức? Đối với thức mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là sự lìa thức. Như vậy, như thật tri về sự xuất ly của thức.

“Tỳ-kheo, nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào, đối với sắc mà biết như vậy, mà thấy như vậy, thì do biết như vậy, thấy như vậy người đó hướng đến ly dục, đó gọi là chánh hướng. Nếu người nào hướng đến chân chánh, thì ta nói người đó đã được thể nhập. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.

“Nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào, đối với sắc mà biết như thật, thấy như thật; do biết như thật, thấy như thật, đối với sắc sanh yểm ly, ly dục, không khởi lên các lậu, tâm đạt được giải thoát. Nếu người nào đã đạt được tâm giải thoát, thì người đó thuần nhứt. Người nào đã được thuần nhứt, thì phạm hạnh đã lập. Người nào phạm hạnh đã lập, không còn bị ai khống chế. Đó gọi là biên tế của khổ. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.”

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

⏳ Đang tải SA42...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc