Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Có năm thọ ấm. Đó là sắc thọ ấm; thọ, tưởng, hành, thức thọ ấm. Ta đối với năm thọ ấm này, có năm như thật tri. Như thật tri về sắc, về sự tập khởi của sắc, về vị ngọt của sắc, về tai hại của sắc và về sự xuất ly sắc. Cũng vậy, như thật tri về thọ, tưởng, hành, thức, về sự tập khởi của thức, về vị ngọt của thức, về tai hại của thức và về sự xuất ly thức.
“Thế nào là như thật tri về sắc? Những gì là sắc là tất cả bốn đại và sắc do bốn đại sanh ra. Đó gọi là sắc. Như vậy, như thật tri về sắc.
“Thế nào là như thật tri về sự tập khởi của sắc? Đối với sắc mà có hỷ ái. Đó gọi là sự tập khởi của sắc. Như vậy, như thật tri về sự tập khởi của sắc.
“Thế nào là như thật tri về vị ngọt của sắc? Do duyên vào sắc mà sanh ra hỷ lạc. Đó gọi là vị ngọt của sắc. Như vậy, như thật tri về vị ngọt của sắc.
“Thế nào là như thật tri về sự tai hại của sắc? Sắc là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đóù gọi là sự tai hại của sắc. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của sắc.
“Thế nào là như thật tri về sự xuất ly sắc? Đối với sắc mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là sự xuất ly sắc. Như vậy, như thật tri về sự xuất ly sắc.
“Thế nào là như thật tri về thọ? Có sáu thọ thân. Thọ phát sanh từ nhãn xúc, thọ phát sanh từ tai, mũi, lưỡi, thân và ý xúc. Đó gọi là sáu thọ. Như vậy, như thật tri về thọ.
“Thế nào là như thật tri về sự tập khởi của thọ? Sự tập khởi của xúc là sự tập khởi của thọ. Như vậy, như thật tri về sự tập khởi của thọ.
“Thế nào là như thật tri về vị ngọt của thọ? Hỷ lạc duyên vào sáu thọ mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của thọ. Như vậy, như thật tri về vị ngọt của thọ.
“Thế nào là như thật tri về sự tai hại của thọ? Thọ là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đóù gọi là tai hại của thọ. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của thọ.
“Thế nào là như thật tri về sự xuất ly thọ? Đối với thọ mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là lìa thọ. Như vậy, như thật tri về sự lìa thọ.
“Thế nào là như thật tri về về tưởng? Có sáu tưởng thân. Tưởng phát sanh bởi nhãn xúc; tưởng phát sanh bởi tai, mũi, lưỡi, thân, ý xúc. Đó gọi là tưởng. Như vậy, như thật tri về tưởng.
“Thế nào là như thật tri về sự tập khởi của tưởng? Sự tập khởi của xúc là sự tập khởi của tưởng. Như vậy, như thật tri về sự tập khởi của tưởng.
“Thế nào là như thật tri về vị ngọt của tưởng? Hỷ lạc do duyên vào tưởng mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của tưởng. Như vậy, như thật tri về vị ngọt của tưởng.
“Thế nào như thật tri về sự tai hại của tưởng? Tưởng là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai hại của tưởng. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của tưởng.
“Thế nào là như thật tri về sự xuất ly tưởng? Đối với tưởng mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là sự lìa tưởng. Như vậy, như thật tri về sự lìa tưởng.
“Thế nào là như thật tri về sự hiện hữu của hành? Có sáu tư thân. Tư phát sanh bởi nhãn xúc. Tư phát sanh bởi tai, mũi, lưỡi, thân, ý xúc. Đó gọi là hành. Như vậy, như thật tri về hành.
“Thế nào là như thật tri về sự tập khởi của hành? Sự tập khởi của xúc là sự tập khởi của hành. Như vậy, như thật tri về sự tập khởi của hành.
“Thế nào là như thật tri về vị ngọt của hành? Hỷ lạc do duyên vào hành mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của hành. Như vậy, như thật tri về vị ngọt của hành.
“Thế nào gọi là như thật tri về sự tai hại của hành? Hành là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai hại của hành. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của hành.
“Thế nào là như thật tri về sự xuất ly hành? Đối với hành mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là sự xuất ly hành. Như vậy, như thật tri về sự xuất ly hành.
“Thế nào là như thật tri về thức? Có sáu thức thân. Thức của mắt, thức của tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Đó gọi là thức. Như vậy, như thật tri về thức.
“Thế nào là như thật tri về sự tập khởi của thức? Sự tập khởi của sắc là sự tập khởi của thức. Như vậy, như thật tri về sự tập khởi của thức.
“Thế nào là như thật tri về vị ngọt của thức? Hỷ lạc do duyên vào thức mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của thức. Như vậy, như thật tri về vị ngọt của thức.
“Thế nào là như thật tri về sự tại hại của thức? Thức là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai hại của thức. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của thức.
“Thế nào là như thật tri về sự xuất ly thức? Đối với thức mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là sự lìa thức. Như vậy, như thật tri về sự xuất ly của thức.
“Tỳ-kheo, nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào, đối với sắc mà biết như vậy, mà thấy như vậy, thì do biết như vậy, thấy như vậy người đó hướng đến ly dục, đó gọi là chánh hướng. Nếu người nào hướng đến chân chánh, thì ta nói người đó đã được thể nhập. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.
“Nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào, đối với sắc mà biết như thật, thấy như thật; do biết như thật, thấy như thật, đối với sắc sanh yểm ly, ly dục, không khởi lên các lậu, tâm đạt được giải thoát. Nếu người nào đã đạt được tâm giải thoát, thì người đó thuần nhứt. Người nào đã được thuần nhứt, thì phạm hạnh đã lập. Người nào phạm hạnh đã lập, không còn bị ai khống chế. Đó gọi là biên tế của khổ. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
如是我聞:
一時,佛住舍衛國祇樹給孤T 0009b08獨園。
爾時,世尊告諸比丘:「有五受陰——色受T 0009b09陰,受、想、行、識受陰。我於此五受陰,五種如T 0009b10實知——色如實知,色集、色味、色患、色離如實知。T 0009b11如是受、想、行、識如實知,識集、識味、識患、識離T 0009b12如實知。
「云何色如實知?諸所有色,一切四大T 0009b13及四大造色,是名色,如是色如實知。云何色T 0009b14集如實知?於色喜愛,是名色集,如是色集T 0009b15如實知。云何色味如實知?謂色因緣生喜樂,T 0009b16是名色味,如是色味如實知。云何色患如實T 0009b17知?若色無常、苦、變易法,是名色患,如是色T 0009b18患如實知。云何色離如實知?若於色調伏T 0009b19欲貪、斷欲貪、越欲貪,是名色離,如是色T 0009b20離如實知。
「云何受如實知?有六受身——眼觸生T 0009b21受,耳、鼻、舌、身、意觸生受,是名受,如是受如T 0009b22實知。云何受集如實知?觸集是受集,如是T 0009b23受集如實知。云何受味如實知?緣六受生T 0009b24喜樂,是名受味,如是受味如實知。云何受T 0009b25患如實知?若受無常、苦、變易法,是名受患,如T 0009b26是受患如實知。云何受離如實知?於受調T 0009b27伏欲貪、斷欲貪、越欲貪,是名受離,如是T 0009b28受離如實知。
「云何想如實知?謂六想身。云何T 0009b29為六?謂眼觸生想,耳、鼻、舌、身、意觸生想,是T 0009c01名想,如是想如實知。云何想集如實知?謂T 0009c02觸集是想集,如是想集如實知。云何想味如T 0009c03實知?想因緣生喜樂,是名想味,如是想味T 0009c04如實知。云何想患如實知?謂想無常、苦、變易T 0009c05法,是名想患,如是想患如實知。云何想離T 0009c06如實知?若於想調伏欲貪、斷欲貪、越欲T 0009c07貪,是名想離,如是想離如實知。
「云何行如T 0009c08實知?謂六思身——眼觸生思,耳、鼻、舌、身、意觸T 0009c09生思,是名為行,如是行如實知。云何行T 0009c10集如實知?觸集是行集,如是行集如實知。T 0009c11云何行味如實知?謂行因緣生喜樂,是名T 0009c12行味,如是行味如實知。云何行患如實知?T 0009c13若行無常、苦、變易法,是名行患,如是行患如T 0009c14實知。云何行離如實知?若行調伏欲貪、T 0009c15斷欲貪、越欲貪,是名行離,如是行離如實T 0009c16知。
「云何識如實知?謂六識身——眼識身,耳、鼻、T 0009c17舌、身、意識身,是名為識身,如是識身如實T 0009c18知。云何識集如實知?謂名色集,是名識T 0009c19集,如是識集如實知。云何識味如實知?T 0009c20識因緣生喜樂,是名識味,如是識味如T 0009c21實知。云何識患如實知?若識無常、苦、變易法,T 0009c22是名識患,如是識患如實知。云何識離如實T 0009c23知?謂於識調伏欲貪、斷欲貪、越欲貪,是T 0009c24名識離,如是識離如實知。
「比丘!若沙門、婆T 0009c25羅門於色如是知、如是見;如是知、如是見,T 0009c26離欲向,是名正向。若正向者,我說彼入。T 0009c27受、想、行、識亦復如是。若沙門、婆羅門於色如T 0009c28實知、如實見,於色生厭、離欲,不起諸漏,T 0009c29心得解脫;若心得解脫者,則為純一;純T 0010a01一者,則梵行立;梵行立者,離他自在,是名苦T 0010a02邊。受、想、行、識亦復如是。」
佛說此經已,諸比T 0010a03丘聞佛所說,歡喜奉行。
T 0010a04 SC 1Thus have I heard: One time, the Buddha was staying at Anāthapiṇḍada’s Park in Jeta’s Grove of Śrāvastī.
SC 2It was then that the Bhagavān addressed the monks, “There are five acquired aggregates: The acquired aggregate of form … feeling … conception … volition … the acquired aggregate of consciousness. I truly know these five acquired aggregates in five ways: I truly know form … form’s formation … form’s enjoyment … form’s trouble … truly know form’s escape. Thus, I truly know feeling … conception … volition … consciousness … consciousness’s formation … consciousness’s enjoyment … consciousness’s trouble … truly know consciousness’s escape.
Form
SC 3“How is form truly known? All forms that exist, all four elements and forms made of the four elements, are called form. Form is thus truly known.
SC 4“How is form’s formation truly known? Delight and craving for form are called form’s formation. Form’s formation is thus truly known.
SC 5“How is form’s enjoyment truly known? Delight and pleasure that dependently arise from form are called form’s enjoyment. Form’s enjoyment is thus truly known.
SC 6“How is form’s trouble truly known? When form is impermanent, painful, and liable to change, this is called form’s trouble. Form’s trouble is thus truly known.
SC 7“How is form’s escape truly known? When desire for form is controlled, stopped, and transcended, this is called form’s escape. Form’s escape is thus truly known.
Feeling
SC 8“How is feeling truly known? There is the body of six feelings: Feeling that arises from eye contact … ear … nose … tongue … body … feeling that arises from mind contact. This is called feeling. Feeling is thus truly known.
SC 9“How is feeling’s formation truly known? The formation of contact is feeling’s formation. Feeling’s formation is thus truly known.
SC 10“How is feeling’s enjoyment truly known? Delight and pleasure that dependently arise from the six feelings are called feeling’s enjoyment. Feeling’s enjoyment is thus truly known.
SC 11“How is feeling’s trouble truly known? When feeling is impermanent, painful, and liable to change, this is called feeling’s trouble. Feeling’s trouble is thus truly known.
SC 12“How is feeling’s escape truly known? When desire for feeling is controlled, stopped, and transcended, this is called feeling’s escape. Feeling’s escape is thus truly known.
Conception
SC 13“How is conception truly known? There’s the body of six conceptions. What are the six? They are conception that arises from eye contact … ear … nose … tongue … body … conception that arises from mind contact. This is called conception. Conception is thus truly known.
SC 14“How is conception’s formation truly known? The formation of contact is conception’s formation. Conception’s formation is thus truly known.
SC 15“How is conception’s enjoyment truly known? Delight and pleasure that dependently arise from conception are called conception’s enjoyment. Conception’s enjoyment is thus truly known.
SC 16“How is conception’s trouble truly known? When conception is impermanent, painful, and liable to change, this is called conception’s trouble. Conception’s trouble is thus truly known.
SC 17“How is conception’s escape truly known? When desire for conception is controlled, stopped, and transcended, this is called conception’s escape. Conception’s escape is thus truly known.
Volition
SC 18“How is volition truly known? There’s the body of six intentions: Intention that arises from eye contact … ear … nose … tongue … body, and intention that arises from mind contact. This is called volition. Volition is thus truly known.
SC 19“How is volition’s formation truly known? The formation of contact is volition’s formation. Volition’s formation is thus truly known.
SC 20“How is volition’s enjoyment truly known? Delight and pleasure that dependently arise from volition are called volition’s enjoyment. Volition’s enjoyment is thus truly known.
SC 21“How is volition’s trouble truly known? When volition is impermanent, painful, and liable to change, this is called volition’s trouble. Volition’s trouble is thus truly known.
SC 22“How is volition’s escape truly known? When desire for volition is controlled, stopped, and transcended, this is called volition’s escape. Volition’s escape is thus truly known.
Consciousness
SC 23“How is consciousness truly known? There’s the six bodies of consciousnesses: The body of eye consciousness … ear … nose … tongue … body … the body of mind consciousness. This is called the bodies of consciousness. The bodies of consciousness are thus truly known.
SC 24“How is consciousness’s formation truly known? The formation of name and form is called consciousness’s formation. Consciousness’s formation is thus truly known.
SC 25“How is consciousness’s enjoyment truly known? Delight and pleasure that dependently arise from consciousness are called consciousness’s enjoyment. Consciousness’s enjoyment is thus truly known.
SC 26“How is consciousness’s trouble truly known? When consciousness is impermanent, painful, and liable to change, this is called consciousness’s trouble. Consciousness’s trouble is thus truly known.
SC 27“How is consciousness’s escape truly known? When desire for consciousness is controlled, stopped, and transcended, this is called consciousness’s escape. Consciousness’s escape is thus truly known.
SC 28“Monks, if an ascetic or priest knows and sees form in this way and knows and sees the way to part with desire for it in this way, this is called the correct heading. If someone is correctly headed, I say that they have entered. Feeling, conception, volition, and consciousness are likewise.
SC 29“If an ascetic or priest truly knows and sees form, then disillusionment with form arises. Parting with desire for it, they don’t produce contaminants, and the mind becomes liberated. If someone’s mind becomes liberated, then it’s consistent. It being consistent, the religious life is established. Someone established in the religious life is free of another’s control. This is called the end of suffering. Feeling, conception, volition, and consciousness is likewise.”
SC 30After the Buddha spoke this sūtra, the monks who heard what the Buddha taught rejoiced and approved.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Có năm thọ ấm. Đó là sắc thọ ấm; thọ, tưởng, hành, thức thọ ấm. Ta đối với năm thọ ấm này, có năm như thật tri. Như thật tri về sắc, về sự tập khởi của sắc, về vị ngọt của sắc, về tai hại của sắc và về sự xuất ly sắc. Cũng vậy, như thật tri về thọ, tưởng, hành, thức, về sự tập khởi của thức, về vị ngọt của thức, về tai hại của thức và về sự xuất ly thức.
“Thế nào là như thật tri về sắc? Những gì là sắc là tất cả bốn đại và sắc do bốn đại sanh ra. Đó gọi là sắc. Như vậy, như thật tri về sắc.
“Thế nào là như thật tri về sự tập khởi của sắc? Đối với sắc mà có hỷ ái. Đó gọi là sự tập khởi của sắc. Như vậy, như thật tri về sự tập khởi của sắc.
“Thế nào là như thật tri về vị ngọt của sắc? Do duyên vào sắc mà sanh ra hỷ lạc. Đó gọi là vị ngọt của sắc. Như vậy, như thật tri về vị ngọt của sắc.
“Thế nào là như thật tri về sự tai hại của sắc? Sắc là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đóù gọi là sự tai hại của sắc. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của sắc.
“Thế nào là như thật tri về sự xuất ly sắc? Đối với sắc mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là sự xuất ly sắc. Như vậy, như thật tri về sự xuất ly sắc.
“Thế nào là như thật tri về thọ? Có sáu thọ thân. Thọ phát sanh từ nhãn xúc, thọ phát sanh từ tai, mũi, lưỡi, thân và ý xúc. Đó gọi là sáu thọ. Như vậy, như thật tri về thọ.
“Thế nào là như thật tri về sự tập khởi của thọ? Sự tập khởi của xúc là sự tập khởi của thọ. Như vậy, như thật tri về sự tập khởi của thọ.
“Thế nào là như thật tri về vị ngọt của thọ? Hỷ lạc duyên vào sáu thọ mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của thọ. Như vậy, như thật tri về vị ngọt của thọ.
“Thế nào là như thật tri về sự tai hại của thọ? Thọ là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đóù gọi là tai hại của thọ. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của thọ.
“Thế nào là như thật tri về sự xuất ly thọ? Đối với thọ mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là lìa thọ. Như vậy, như thật tri về sự lìa thọ.
“Thế nào là như thật tri về về tưởng? Có sáu tưởng thân. Tưởng phát sanh bởi nhãn xúc; tưởng phát sanh bởi tai, mũi, lưỡi, thân, ý xúc. Đó gọi là tưởng. Như vậy, như thật tri về tưởng.
“Thế nào là như thật tri về sự tập khởi của tưởng? Sự tập khởi của xúc là sự tập khởi của tưởng. Như vậy, như thật tri về sự tập khởi của tưởng.
“Thế nào là như thật tri về vị ngọt của tưởng? Hỷ lạc do duyên vào tưởng mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của tưởng. Như vậy, như thật tri về vị ngọt của tưởng.
“Thế nào như thật tri về sự tai hại của tưởng? Tưởng là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai hại của tưởng. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của tưởng.
“Thế nào là như thật tri về sự xuất ly tưởng? Đối với tưởng mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là sự lìa tưởng. Như vậy, như thật tri về sự lìa tưởng.
“Thế nào là như thật tri về sự hiện hữu của hành? Có sáu tư thân. Tư phát sanh bởi nhãn xúc. Tư phát sanh bởi tai, mũi, lưỡi, thân, ý xúc. Đó gọi là hành. Như vậy, như thật tri về hành.
“Thế nào là như thật tri về sự tập khởi của hành? Sự tập khởi của xúc là sự tập khởi của hành. Như vậy, như thật tri về sự tập khởi của hành.
“Thế nào là như thật tri về vị ngọt của hành? Hỷ lạc do duyên vào hành mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của hành. Như vậy, như thật tri về vị ngọt của hành.
“Thế nào gọi là như thật tri về sự tai hại của hành? Hành là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai hại của hành. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của hành.
“Thế nào là như thật tri về sự xuất ly hành? Đối với hành mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là sự xuất ly hành. Như vậy, như thật tri về sự xuất ly hành.
“Thế nào là như thật tri về thức? Có sáu thức thân. Thức của mắt, thức của tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Đó gọi là thức. Như vậy, như thật tri về thức.
“Thế nào là như thật tri về sự tập khởi của thức? Sự tập khởi của sắc là sự tập khởi của thức. Như vậy, như thật tri về sự tập khởi của thức.
“Thế nào là như thật tri về vị ngọt của thức? Hỷ lạc do duyên vào thức mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của thức. Như vậy, như thật tri về vị ngọt của thức.
“Thế nào là như thật tri về sự tại hại của thức? Thức là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai hại của thức. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của thức.
“Thế nào là như thật tri về sự xuất ly thức? Đối với thức mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là sự lìa thức. Như vậy, như thật tri về sự xuất ly của thức.
“Tỳ-kheo, nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào, đối với sắc mà biết như vậy, mà thấy như vậy, thì do biết như vậy, thấy như vậy người đó hướng đến ly dục, đó gọi là chánh hướng. Nếu người nào hướng đến chân chánh, thì ta nói người đó đã được thể nhập. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.
“Nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào, đối với sắc mà biết như thật, thấy như thật; do biết như thật, thấy như thật, đối với sắc sanh yểm ly, ly dục, không khởi lên các lậu, tâm đạt được giải thoát. Nếu người nào đã đạt được tâm giải thoát, thì người đó thuần nhứt. Người nào đã được thuần nhứt, thì phạm hạnh đã lập. Người nào phạm hạnh đã lập, không còn bị ai khống chế. Đó gọi là biên tế của khổ. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
SC 1Thus have I heard: One time, the Buddha was staying at Anāthapiṇḍada’s Park in Jeta’s Grove of Śrāvastī.
SC 2It was then that the Bhagavān addressed the monks, “There are five acquired aggregates: The acquired aggregate of form … feeling … conception … volition … the acquired aggregate of consciousness. I truly know these five acquired aggregates in five ways: I truly know form … form’s formation … form’s enjoyment … form’s trouble … truly know form’s escape. Thus, I truly know feeling … conception … volition … consciousness … consciousness’s formation … consciousness’s enjoyment … consciousness’s trouble … truly know consciousness’s escape.
Form
SC 3“How is form truly known? All forms that exist, all four elements and forms made of the four elements, are called form. Form is thus truly known.
SC 4“How is form’s formation truly known? Delight and craving for form are called form’s formation. Form’s formation is thus truly known.
SC 5“How is form’s enjoyment truly known? Delight and pleasure that dependently arise from form are called form’s enjoyment. Form’s enjoyment is thus truly known.
SC 6“How is form’s trouble truly known? When form is impermanent, painful, and liable to change, this is called form’s trouble. Form’s trouble is thus truly known.
SC 7“How is form’s escape truly known? When desire for form is controlled, stopped, and transcended, this is called form’s escape. Form’s escape is thus truly known.
Feeling
SC 8“How is feeling truly known? There is the body of six feelings: Feeling that arises from eye contact … ear … nose … tongue … body … feeling that arises from mind contact. This is called feeling. Feeling is thus truly known.
SC 9“How is feeling’s formation truly known? The formation of contact is feeling’s formation. Feeling’s formation is thus truly known.
SC 10“How is feeling’s enjoyment truly known? Delight and pleasure that dependently arise from the six feelings are called feeling’s enjoyment. Feeling’s enjoyment is thus truly known.
SC 11“How is feeling’s trouble truly known? When feeling is impermanent, painful, and liable to change, this is called feeling’s trouble. Feeling’s trouble is thus truly known.
SC 12“How is feeling’s escape truly known? When desire for feeling is controlled, stopped, and transcended, this is called feeling’s escape. Feeling’s escape is thus truly known.
Conception
SC 13“How is conception truly known? There’s the body of six conceptions. What are the six? They are conception that arises from eye contact … ear … nose … tongue … body … conception that arises from mind contact. This is called conception. Conception is thus truly known.
SC 14“How is conception’s formation truly known? The formation of contact is conception’s formation. Conception’s formation is thus truly known.
SC 15“How is conception’s enjoyment truly known? Delight and pleasure that dependently arise from conception are called conception’s enjoyment. Conception’s enjoyment is thus truly known.
SC 16“How is conception’s trouble truly known? When conception is impermanent, painful, and liable to change, this is called conception’s trouble. Conception’s trouble is thus truly known.
SC 17“How is conception’s escape truly known? When desire for conception is controlled, stopped, and transcended, this is called conception’s escape. Conception’s escape is thus truly known.
Volition
SC 18“How is volition truly known? There’s the body of six intentions: Intention that arises from eye contact … ear … nose … tongue … body, and intention that arises from mind contact. This is called volition. Volition is thus truly known.
SC 19“How is volition’s formation truly known? The formation of contact is volition’s formation. Volition’s formation is thus truly known.
SC 20“How is volition’s enjoyment truly known? Delight and pleasure that dependently arise from volition are called volition’s enjoyment. Volition’s enjoyment is thus truly known.
SC 21“How is volition’s trouble truly known? When volition is impermanent, painful, and liable to change, this is called volition’s trouble. Volition’s trouble is thus truly known.
SC 22“How is volition’s escape truly known? When desire for volition is controlled, stopped, and transcended, this is called volition’s escape. Volition’s escape is thus truly known.
Consciousness
SC 23“How is consciousness truly known? There’s the six bodies of consciousnesses: The body of eye consciousness … ear … nose … tongue … body … the body of mind consciousness. This is called the bodies of consciousness. The bodies of consciousness are thus truly known.
SC 24“How is consciousness’s formation truly known? The formation of name and form is called consciousness’s formation. Consciousness’s formation is thus truly known.
SC 25“How is consciousness’s enjoyment truly known? Delight and pleasure that dependently arise from consciousness are called consciousness’s enjoyment. Consciousness’s enjoyment is thus truly known.
SC 26“How is consciousness’s trouble truly known? When consciousness is impermanent, painful, and liable to change, this is called consciousness’s trouble. Consciousness’s trouble is thus truly known.
SC 27“How is consciousness’s escape truly known? When desire for consciousness is controlled, stopped, and transcended, this is called consciousness’s escape. Consciousness’s escape is thus truly known.
SC 28“Monks, if an ascetic or priest knows and sees form in this way and knows and sees the way to part with desire for it in this way, this is called the correct heading. If someone is correctly headed, I say that they have entered. Feeling, conception, volition, and consciousness are likewise.
SC 29“If an ascetic or priest truly knows and sees form, then disillusionment with form arises. Parting with desire for it, they don’t produce contaminants, and the mind becomes liberated. If someone’s mind becomes liberated, then it’s consistent. It being consistent, the religious life is established. Someone established in the religious life is free of another’s control. This is called the end of suffering. Feeling, conception, volition, and consciousness is likewise.”
SC 30After the Buddha spoke this sūtra, the monks who heard what the Buddha taught rejoiced and approved.