BJT 10“Vị đã bỏ đi sự trông mong ở đời này hay đời sau, là người đã đạt được trí tuệ, có bản thân đã được chế ngự, sau khi nhận biết sự sanh và diệt của thân này, không còn bị vấy bẩn trong tất cả các pháp.”
Đại đức trưởng lão Puṇṇamāsa đã nói lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Puṇṇamāsa.
Phẩm thứ nhất.
TÓM LƯỢC PHẨM NÀY
“Vị Subhūti, vị trưởng lão Koṭṭhita, vị được đặt tên là Kaṅkhārevata, vị Mantāṇiputta và vị Dabba, vị Sītavaniya và vị Bhalliya, vị Vīra và vị Piḷindavaccha, vị Puṇṇamāsa là vị xua đi đêm tối.”
“Vihari apekkhaṁ idha vā huraṁ vā,
Yo vedagū samito yatatto;
Sabbesu dhammesu anūpalitto,
Lokassa jaññā udayabbayañcā”ti.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā puṇṇamāso thero gāthaṁ abhāsitthāti.
vaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Subhūti koṭṭhiko thero,
kaṅkhārevatasammato;
Mantāṇiputto dabbo ca,
sītavaniyo ca bhalliyo;
Vīro pilindavaccho ca,
puṇṇamāso tamonudoti.
A knowledge master, peaceful and self-controlled,
is rid of concern for this world and the world beyond.
Unsullied in the midst of all things,
they’d know the arising and passing of the world.
That is how this verse was recited by the senior venerable Puṇṇamāsa.
BJT 10“Vị đã bỏ đi sự trông mong ở đời này hay đời sau, là người đã đạt được trí tuệ, có bản thân đã được chế ngự, sau khi nhận biết sự sanh và diệt của thân này, không còn bị vấy bẩn trong tất cả các pháp.”
Đại đức trưởng lão Puṇṇamāsa đã nói lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Puṇṇamāsa.
Phẩm thứ nhất.
TÓM LƯỢC PHẨM NÀY
“Vị Subhūti, vị trưởng lão Koṭṭhita, vị được đặt tên là Kaṅkhārevata, vị Mantāṇiputta và vị Dabba, vị Sītavaniya và vị Bhalliya, vị Vīra và vị Piḷindavaccha, vị Puṇṇamāsa là vị xua đi đêm tối.”
“Vihari apekkhaṁ idha vā huraṁ vā,
Yo vedagū samito yatatto;
Sabbesu dhammesu anūpalitto,
Lokassa jaññā udayabbayañcā”ti.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā puṇṇamāso thero gāthaṁ abhāsitthāti.
vaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Subhūti koṭṭhiko thero,
kaṅkhārevatasammato;
Mantāṇiputto dabbo ca,
sītavaniyo ca bhalliyo;
Vīro pilindavaccho ca,
puṇṇamāso tamonudoti.