BJT 399“Đối với người có thói quen xao lãng, tham ái tăng trưởng tựa như giống dây chùm gởi, kẻ ấy trôi nổi từ đời này sang đời khác, tựa như con khỉ ở trong rừng đang muốn trái cây.
BJT 400Tham ái hạ liệt ấy, sự quyến luyến ở thế gian, chế ngự kẻ nào, các sầu muộn phát khởi nơi kẻ ấy, tựa như giống cỏ bīraṇa được đổ mưa.
BJT 401Và người nào chế ngự tham ái hạ liệt ấy, là việc khó vượt qua ở trên đời, các sầu muộn rơi khỏi vị ấy, tựa như giọt nước trượt khỏi lá sen.
BJT 402Tôi nói với quý vị về điều tốt đẹp ấy, cho đến hết thảy quý vị đã tụ hội ở đây. Quý vị hãy đào bới gốc rễ của tham ái, tựa như người cần rễ cỏ usīra đào bới cỏ bīraṇa. Chớ để Ma Vương còn tiếp tục bẻ gãy quý vị, tựa như chính dòng nước đã bẻ gãy cây sậy.
BJT 403Quý vị hãy thực hành lời dạy của đức Phật, chớ để thời khắc của quý vị trôi qua, bởi vì những kẻ đã để thời khắc trôi qua bị sầu muộn khi bị đưa vào trong địa ngục.
BJT 404Sự xao lãng luôn luôn là ô nhiễm, ô nhiễm được trỗi dậy do xao lãng, nhờ vào sự không xao lãng và sự hiểu biết, quý vị nên nhổ lên mũi tên của chính mình.”
Đại đức trưởng lão Māluṅkyaputta đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Māluṅkyaputta.
“Manujassa pamattacārino,
Taṇhā vaḍḍhati māluvā viya;
So plavatī hurā huraṁ,
Phalamicchaṁva vanasmi vānaro.
Yaṁ esā sahate jammī,
taṇhā loke visattikā;
Sokā tassa pavaḍḍhanti,
abhivaṭṭhaṁva bīraṇaṁ.
Yo cetaṁ sahate jammiṁ,
taṇhaṁ loke duraccayaṁ;
Sokā tamhā papatanti,
udabindūva pokkharā.
Taṁ vo vadāmi bhaddaṁ vo,
yāvantettha samāgatā;
Taṇhāya mūlaṁ khaṇatha,
usīratthova bīraṇaṁ;
Mā vo naḷaṁva sotova,
māro bhañji punappunaṁ.
Karotha buddhavacanaṁ,
khaṇo vo mā upaccagā;
Khaṇātītā hi socanti,
nirayamhi samappitā.
Pamādo rajo pamādo,
pamādānupatito rajo;
Appamādena vijjāya,
abbahe sallamattano”ti.
… Mālukyaputto thero ….
When a man lives heedlessly,
craving grows in them like a camel’s foot creeper.
They jump from one thing to the next, like a langur
greedy for fruit in a forest grove.
Whoever is beaten by this wretched craving,
this attachment to the world,
their sorrow grows,
like grass in the rain.
But whoever prevails over this wretched craving,
so hard to get over in the world,
their sorrows fall from them,
like a drop from a lotus-leaf.
I say this to you, good people,
all those who have gathered here:
dig up the root of craving,
as you’d dig up the grass in search of roots.
Don’t let Māra break you again and again,
like a stream breaking a reed.
Act on the Buddha’s words,
don’t let the moment pass you by.
For if you miss your moment
you’ll grieve when sent to hell.
Negligence is always dust;
dust follows right behind negligence.
Through diligence and knowledge,
pluck out the dart from yourself.
BJT 399“Đối với người có thói quen xao lãng, tham ái tăng trưởng tựa như giống dây chùm gởi, kẻ ấy trôi nổi từ đời này sang đời khác, tựa như con khỉ ở trong rừng đang muốn trái cây.
BJT 400Tham ái hạ liệt ấy, sự quyến luyến ở thế gian, chế ngự kẻ nào, các sầu muộn phát khởi nơi kẻ ấy, tựa như giống cỏ bīraṇa được đổ mưa.
BJT 401Và người nào chế ngự tham ái hạ liệt ấy, là việc khó vượt qua ở trên đời, các sầu muộn rơi khỏi vị ấy, tựa như giọt nước trượt khỏi lá sen.
BJT 402Tôi nói với quý vị về điều tốt đẹp ấy, cho đến hết thảy quý vị đã tụ hội ở đây. Quý vị hãy đào bới gốc rễ của tham ái, tựa như người cần rễ cỏ usīra đào bới cỏ bīraṇa. Chớ để Ma Vương còn tiếp tục bẻ gãy quý vị, tựa như chính dòng nước đã bẻ gãy cây sậy.
BJT 403Quý vị hãy thực hành lời dạy của đức Phật, chớ để thời khắc của quý vị trôi qua, bởi vì những kẻ đã để thời khắc trôi qua bị sầu muộn khi bị đưa vào trong địa ngục.
BJT 404Sự xao lãng luôn luôn là ô nhiễm, ô nhiễm được trỗi dậy do xao lãng, nhờ vào sự không xao lãng và sự hiểu biết, quý vị nên nhổ lên mũi tên của chính mình.”
Đại đức trưởng lão Māluṅkyaputta đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Māluṅkyaputta.
“Manujassa pamattacārino,
Taṇhā vaḍḍhati māluvā viya;
So plavatī hurā huraṁ,
Phalamicchaṁva vanasmi vānaro.
Yaṁ esā sahate jammī,
taṇhā loke visattikā;
Sokā tassa pavaḍḍhanti,
abhivaṭṭhaṁva bīraṇaṁ.
Yo cetaṁ sahate jammiṁ,
taṇhaṁ loke duraccayaṁ;
Sokā tamhā papatanti,
udabindūva pokkharā.
Taṁ vo vadāmi bhaddaṁ vo,
yāvantettha samāgatā;
Taṇhāya mūlaṁ khaṇatha,
usīratthova bīraṇaṁ;
Mā vo naḷaṁva sotova,
māro bhañji punappunaṁ.
Karotha buddhavacanaṁ,
khaṇo vo mā upaccagā;
Khaṇātītā hi socanti,
nirayamhi samappitā.
Pamādo rajo pamādo,
pamādānupatito rajo;
Appamādena vijjāya,
abbahe sallamattano”ti.
… Mālukyaputto thero ….