BJT 502“Không nổi giận, không thù hằn, không xảo trá, sự nói đâm thọc là không có, hẳn nhiên vị tỳ khưu có đức tính thế ấy, sau khi qua đời như vậy không bị sầu muộn.
BJT 503Không nổi giận, không thù hằn, không xảo trá, sự nói đâm thọc là không có, vị tỳ khưu luôn có các giác quan được bảo vệ, sau khi qua đời như vậy không bị sầu muộn.
BJT 504Không nổi giận, không thù hằn, không xảo trá, sự nói đâm thọc là không có, vị tỳ khưu ấy có giới tốt đẹp, sau khi qua đời như vậy không bị sầu muộn.
BJT 505Không nổi giận, không thù hằn, không xảo trá, sự nói đâm thọc là không có, vị tỳ khưu ấy có bạn bè tốt đẹp, sau khi qua đời như vậy không bị sầu muộn.
BJT 506Không nổi giận, không thù hằn, không xảo trá, sự nói đâm thọc là không có, vị tỳ khưu ấy có trí tuệ tốt đẹp, sau khi qua đời như vậy không bị sầu muộn.
BJT 507Đối với vị nào niềm tin ở đức Như Lai là không bị dao động, đã khéo được thiết lập, và đối với vị nào có giới tốt đẹp, được ưa thích bởi các bậc Thánh, được ca ngợi, …
BJT 508… đối với vị nào có sự tịnh tín ở Hội Chúng, và sự nhận thức có trạng thái ngay thẳng, họ đã nói về vị ấy rằng: ‘Không bị nghèo khó,’ mạng sống của vị ấy không phải là trống rỗng.
BJT 509Do đó, người thông minh, trong lúc ghi nhớ lời giáo huấn của chư Phật, nên gắn bó với đức tin, giới, sự tịnh tín, và sự nhận thức về Giáo Pháp.”
Đại đức trưởng lão Sirimitta đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Sirimitta.
“Akkodhanonupanāhī,
amāyo rittapesuṇo;
Sa ve tādisako bhikkhu,
evaṁ pecca na socati.
Akkodhanonupanāhī,
amāyo rittapesuṇo;
Guttadvāro sadā bhikkhu,
evaṁ pecca na socati.
Akkodhanonupanāhī,
amāyo rittapesuṇo;
Kalyāṇasīlo so bhikkhu,
evaṁ pecca na socati.
Akkodhanonupanāhī,
amāyo rittapesuṇo;
Kalyāṇamitto so bhikkhu,
evaṁ pecca na socati.
Akkodhanonupanāhī,
amāyo rittapesuṇo;
Kalyāṇapañño so bhikkhu,
evaṁ pecca na socati.
Yassa saddhā tathāgate,
acalā suppatiṭṭhitā;
Sīlañca yassa kalyāṇaṁ,
ariyakantaṁ pasaṁsitaṁ.
Saṅghe pasādo yassatthi,
ujubhūtañca dassanaṁ;
‘Adaliddo’ti taṁ āhu,
amoghaṁ tassa jīvitaṁ.
Tasmā saddhañca sīlañca,
pasādaṁ dhammadassanaṁ;
Anuyuñjetha medhāvī,
saraṁ buddhāna sāsanan”ti.
… Sirimitto thero ….
Free of anger and acrimony,
free of deceit, and rid of slander;
that’s how such a mendicant
doesn’t grieve after passing away.
Free of anger and acrimony,
free of deceit, and rid of slander;
that’s how a mendicant with sense doors always guarded
doesn’t grieve after passing away.
Free of anger and acrimony,
free of deceit, and rid of slander;
that’s how a mendicant of good morals
doesn’t grieve after passing away.
Free of anger and acrimony,
free of deceit, and rid of slander;
that’s how a mendicant with good friends
doesn’t grieve after passing away.
Free of anger and acrimony,
free of deceit, and rid of slander;
that’s how a mendicant of good wisdom,
doesn’t grieve after passing away.
Whoever has faith in the Realized One,
unwavering and well grounded;
whose ethical conduct is good,
praised and loved by the noble ones;
who has confidence in the Saṅgha,
and correct view:
they’re said to be prosperous;
their life is not in vain.
So let the wise devote themselves
to faith, ethical behavior,
confidence, and insight into the teaching,
remembering the instructions of the Buddhas.
BJT 502“Không nổi giận, không thù hằn, không xảo trá, sự nói đâm thọc là không có, hẳn nhiên vị tỳ khưu có đức tính thế ấy, sau khi qua đời như vậy không bị sầu muộn.
BJT 503Không nổi giận, không thù hằn, không xảo trá, sự nói đâm thọc là không có, vị tỳ khưu luôn có các giác quan được bảo vệ, sau khi qua đời như vậy không bị sầu muộn.
BJT 504Không nổi giận, không thù hằn, không xảo trá, sự nói đâm thọc là không có, vị tỳ khưu ấy có giới tốt đẹp, sau khi qua đời như vậy không bị sầu muộn.
BJT 505Không nổi giận, không thù hằn, không xảo trá, sự nói đâm thọc là không có, vị tỳ khưu ấy có bạn bè tốt đẹp, sau khi qua đời như vậy không bị sầu muộn.
BJT 506Không nổi giận, không thù hằn, không xảo trá, sự nói đâm thọc là không có, vị tỳ khưu ấy có trí tuệ tốt đẹp, sau khi qua đời như vậy không bị sầu muộn.
BJT 507Đối với vị nào niềm tin ở đức Như Lai là không bị dao động, đã khéo được thiết lập, và đối với vị nào có giới tốt đẹp, được ưa thích bởi các bậc Thánh, được ca ngợi, …
BJT 508… đối với vị nào có sự tịnh tín ở Hội Chúng, và sự nhận thức có trạng thái ngay thẳng, họ đã nói về vị ấy rằng: ‘Không bị nghèo khó,’ mạng sống của vị ấy không phải là trống rỗng.
BJT 509Do đó, người thông minh, trong lúc ghi nhớ lời giáo huấn của chư Phật, nên gắn bó với đức tin, giới, sự tịnh tín, và sự nhận thức về Giáo Pháp.”
Đại đức trưởng lão Sirimitta đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Sirimitta.
“Akkodhanonupanāhī,
amāyo rittapesuṇo;
Sa ve tādisako bhikkhu,
evaṁ pecca na socati.
Akkodhanonupanāhī,
amāyo rittapesuṇo;
Guttadvāro sadā bhikkhu,
evaṁ pecca na socati.
Akkodhanonupanāhī,
amāyo rittapesuṇo;
Kalyāṇasīlo so bhikkhu,
evaṁ pecca na socati.
Akkodhanonupanāhī,
amāyo rittapesuṇo;
Kalyāṇamitto so bhikkhu,
evaṁ pecca na socati.
Akkodhanonupanāhī,
amāyo rittapesuṇo;
Kalyāṇapañño so bhikkhu,
evaṁ pecca na socati.
Yassa saddhā tathāgate,
acalā suppatiṭṭhitā;
Sīlañca yassa kalyāṇaṁ,
ariyakantaṁ pasaṁsitaṁ.
Saṅghe pasādo yassatthi,
ujubhūtañca dassanaṁ;
‘Adaliddo’ti taṁ āhu,
amoghaṁ tassa jīvitaṁ.
Tasmā saddhañca sīlañca,
pasādaṁ dhammadassanaṁ;
Anuyuñjetha medhāvī,
saraṁ buddhāna sāsanan”ti.
… Sirimitto thero ….