BJT 311“Tôi đã xuất gia vì mục đích mạng sống, sau khi đã đạt được sự tu lên bậc trên, nhờ đó tôi đã có được niềm tin, với sự tinh tấn vững vàng, tôi đã ra sức.
BJT 312Hãy để thân xác này bị rã tan theo như ước muốn, hãy để cho các mẩu thịt bị phân hủy, hãy để cho cả hai ống quyển của tôi bị rơi rụng khỏi các chỗ nối ở đầu gối.
BJT 313Khi mũi tên tham ái chưa được nhổ lên, tôi sẽ không ăn, không uống, và sẽ không đi ra khỏi trú xá, tôi cũng sẽ không nằm xuống một bên hông.
BJT 314Trong khi tôi đây sống như vậy, hãy nhìn xem sự tinh tấn và nỗ lực của tôi. Ba Minh đã được thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Đại đức trưởng lão Mudita đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Mudita.
TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
“Vị Nāgasamāla, và vị Bhagu, vị Sabhiya, và vị Nandaka nữa, vị Jambuka, vị trưởng lão Senaka, vị Sambhūta, và vị Rāhula nữa.
Candana là vị trưởng lão; mười vị này là các đệ tử của đức Phật. Vị Dhammika, vị trưởng lão Sappaka, và vị Mudita nữa là ba. Có năm mươi hai câu kệ và tất cả các vị trưởng lão là mười ba.”
Nhóm Bốn được chấm dứt.
“Pabbajiṁ jīvikatthohaṁ,
laddhāna upasampadaṁ;
Tato saddhaṁ paṭilabhiṁ,
daḷhavīriyo parakkamiṁ.
Kāmaṁ bhijjatuyaṁ kāyo,
maṁsapesī visīyaruṁ;
Ubho jaṇṇukasandhīhi,
jaṅghāyo papatantu me.
Nāsissaṁ na pivissāmi,
vihārā ca na nikkhame;
Napi passaṁ nipātessaṁ,
taṇhāsalle anūhate.
Tassa mevaṁ viharato,
passa vīriyaparakkamaṁ;
Tisso vijjā anuppattā,
kataṁ buddhassa sāsanan”ti.
… Mudito thero …
Catukkanipāto niṭṭhito.
Tatruddānaṁ
Nāgasamālo bhagu ca,
sabhiyo nandakopi ca;
Jambuko senako thero,
sambhūto rāhulopi ca.
Bhavati candano thero,
dasete buddhasāvakā;
Dhammiko sappako thero,
mudito cāpi te tayo;
Gāthāyo dve ca paññāsa,
therā sabbepi terasāti.
I went forth to save my life.
But I embraced faith
after receiving full ordination.
I strove, strong in effort:
gladly, let this body be broken!
Let this scrap of meat disintegrate!
Let both my legs fall off
at the knees!
I won’t eat, I won’t drink,
I won’t leave my dwelling,
nor will I lie down on my side,
until the dart of craving is plucked.
As I meditate like this,
see my energy and vigor!
I’ve attained the three knowledges
and fulfilled the Buddha’s instructions.
BJT 311“Tôi đã xuất gia vì mục đích mạng sống, sau khi đã đạt được sự tu lên bậc trên, nhờ đó tôi đã có được niềm tin, với sự tinh tấn vững vàng, tôi đã ra sức.
BJT 312Hãy để thân xác này bị rã tan theo như ước muốn, hãy để cho các mẩu thịt bị phân hủy, hãy để cho cả hai ống quyển của tôi bị rơi rụng khỏi các chỗ nối ở đầu gối.
BJT 313Khi mũi tên tham ái chưa được nhổ lên, tôi sẽ không ăn, không uống, và sẽ không đi ra khỏi trú xá, tôi cũng sẽ không nằm xuống một bên hông.
BJT 314Trong khi tôi đây sống như vậy, hãy nhìn xem sự tinh tấn và nỗ lực của tôi. Ba Minh đã được thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Đại đức trưởng lão Mudita đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Mudita.
TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
“Vị Nāgasamāla, và vị Bhagu, vị Sabhiya, và vị Nandaka nữa, vị Jambuka, vị trưởng lão Senaka, vị Sambhūta, và vị Rāhula nữa.
Candana là vị trưởng lão; mười vị này là các đệ tử của đức Phật. Vị Dhammika, vị trưởng lão Sappaka, và vị Mudita nữa là ba. Có năm mươi hai câu kệ và tất cả các vị trưởng lão là mười ba.”
Nhóm Bốn được chấm dứt.
“Pabbajiṁ jīvikatthohaṁ,
laddhāna upasampadaṁ;
Tato saddhaṁ paṭilabhiṁ,
daḷhavīriyo parakkamiṁ.
Kāmaṁ bhijjatuyaṁ kāyo,
maṁsapesī visīyaruṁ;
Ubho jaṇṇukasandhīhi,
jaṅghāyo papatantu me.
Nāsissaṁ na pivissāmi,
vihārā ca na nikkhame;
Napi passaṁ nipātessaṁ,
taṇhāsalle anūhate.
Tassa mevaṁ viharato,
passa vīriyaparakkamaṁ;
Tisso vijjā anuppattā,
kataṁ buddhassa sāsanan”ti.
… Mudito thero …
Catukkanipāto niṭṭhito.
Tatruddānaṁ
Nāgasamālo bhagu ca,
sabhiyo nandakopi ca;
Jambuko senako thero,
sambhūto rāhulopi ca.
Bhavati candano thero,
dasete buddhasāvakā;
Dhammiko sappako thero,
mudito cāpi te tayo;
Gāthāyo dve ca paññāsa,
therā sabbepi terasāti.