BJT 632“Vị nào đã được nổi bật ở vương quốc, đã là người hầu cận của đức vua Aṅga, vị ấy hôm nay là nổi bật về các pháp (siêu thế), Soṇa là người đã đi đến bờ kia của khổ đau.
BJT 633Nên cắt đứt năm, nên từ bỏ năm, và nên tu tập vượt bực về năm. Vị tỳ khưu đã vượt qua khỏi năm sự bám víu được gọi là ‘đã vượt qua cơn lũ.’
BJT 634Đối với vị tỳ khưu kiêu ngạo, xao lãng, hướng ngoại, giới, định, và tuệ của vị ấy không đi đến sự tròn đủ.
BJT 635Bởi vì việc cần làm đã bị bỏ bê, trái lại việc không cần làm được thực hiện. Đối với những kẻ kiêu ngạo, xao lãng, các lậu hoặc của những kẻ ấy tăng trưởng.
BJT 636Và đối với những vị nào, niệm đặt ở thân khéo được tiến hành thường xuyên, những vị ấy không thực hành việc không cần làm, có sự kiên trì thực hiện các việc cần làm. Đối với những vị có niệm, có sự nhận biết rõ rệt, các lậu hoặc của những vị ấy đi đến sự chấm dứt.
BJT 637Các ngươi hãy bước đi ở con đường thẳng tắp đã được chỉ dạy, chớ quay trở lại. Nên tự mình quở trách chính mình, nên đón rước Niết Bàn.
BJT 638Về sự tinh tấn đã được khởi sự quá mức (của tôi), bậc Đạo Sư, đấng Vô Thượng ở thế gian, bậc Hữu Nhãn, sau khi làm ví dụ về cây đàn vīṇā, đã thuyết giảng Giáo Pháp.
BJT 639Sau khi lắng nghe lời nói của Ngài, được thích thú ở lời giáo huấn, tôi đã an trú. Tôi đã thực hành về chỉ tịnh nhằm đạt đến mục đích tối thượng. Ba Minh đã được thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
BJT 640Đối với người đã thiên về sự xuất ly và có tâm ý về việc tách ly, đối với người đã thiên về không hãm hại và có sự cạn kiệt của các chấp thủ, …
BJT 642Đối với vị tỳ khưu, có tâm an tịnh, đã được giải thoát một cách đúng đắn ấy, không có sự tích lũy đối với việc đã làm, việc cần phải làm không có.
BJT 643Giống như tảng đá cứng rắn không bị lay chuyển bởi gió, tương tự như thế toàn bộ các sắc, các vị, các thinh, các hương, các xúc, …
BJT 644… các đối tượng của tâm, được mong muốn và không được mong muốn, không làm xao động tâm vững chắc không bị ràng buộc của vị như thế ấy, và (vị ấy) theo dõi sự diệt của điều này.”
Đại đức trưởng lão Soṇa Koḷivisa đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Soṇa.
TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
“Trưởng lão Soṇa Koḷivisa, chỉ một vị, có đại thần lực, và trường hợp này có mười ba câu kệ ở nhóm mười ba.”
Nhóm Mười Ba được chấm dứt.
“Yāhu raṭṭhe samukkaṭṭho,
rañño aṅgassa paddhagū;
Svajja dhammesu ukkaṭṭho,
soṇo dukkhassa pāragū.
Pañca chinde pañca jahe,
pañca cuttari bhāvaye;
Pañca saṅgātigo bhikkhu,
oghatiṇṇoti vuccati.
Unnaḷassa pamattassa,
bāhirāsassa bhikkhuno;
Sīlaṁ samādhi paññā ca,
pāripūriṁ na gacchati.
Yañhi kiccaṁ apaviddhaṁ,
akiccaṁ pana karīyati;
Unnaḷānaṁ pamattānaṁ,
tesaṁ vaḍḍhanti āsavā.
Yesañca susamāraddhā,
niccaṁ kāyagatā sati;
Akiccaṁ te na sevanti,
kicce sātaccakārino;
Satānaṁ sampajānānaṁ,
atthaṁ gacchanti āsavā.
Ujumaggamhi akkhāte,
gacchatha mā nivattatha;
Attanā codayattānaṁ,
nibbānamabhihāraye.
Accāraddhamhi vīriyamhi,
satthā loke anuttaro;
Vīṇopamaṁ karitvā me,
dhammaṁ desesi cakkhumā;
Tassāhaṁ vacanaṁ sutvā,
vihāsiṁ sāsane rato.
Samathaṁ paṭipādesiṁ,
uttamatthassa pattiyā;
Tisso vijjā anuppattā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Nekkhamme adhimuttassa,
pavivekañca cetaso;
Abyāpajjādhimuttassa,
upādānakkhayassa ca.
Taṇhakkhayādhimuttassa,
asammohañca cetaso;
Disvā āyatanuppādaṁ,
sammā cittaṁ vimuccati.
Tassa sammā vimuttassa,
santacittassa bhikkhuno;
Katassa paṭicayo natthi,
karaṇīyaṁ na vijjati.
Selo yathā ekagghano,
vātena na samīrati;
Evaṁ rūpā rasā saddā,
gandhā phassā ca kevalā.
Iṭṭhā dhammā aniṭṭhā ca,
nappavedhenti tādino;
Ṭhitaṁ cittaṁ visaññuttaṁ,
vayañcassānupassatī”ti.
… Soṇo koḷiviso thero …
Terasanipāto niṭṭhito.
Tatruddānaṁ
Soṇo koḷiviso thero,
ekoyeva mahiddhiko;
Terasamhi nipātamhi,
gāthāyo cettha terasāti.
He who was special in the kingdom,
the footman to the king of Aṅga,
today is special in the Dhamma—
Soṇa has gone beyond suffering.
Five to cut, five to drop,
and five more to develop.
When a mendicant slips five chains
they’re said to have crossed the flood.
If a monk is insolent and negligent,
concerned only with externals,
their ethics, immersion, and wisdom
do not become fulfilled.
They dump what should be done,
and do what should not be done.
For the insolent and the negligent,
their defilements only grow.
Those that have properly undertaken
constant mindfulness of the body,
don’t cultivate what should not be done,
but always do what should be done.
Mindful and aware,
their defilements come to an end.
The straight path has been explained—
go on it and don’t turn back.
Urge yourself on
and take yourself to extinguishment.
When my energy was over-exerted,
the supreme Teacher in the world
created the simile of the arched harp for me.
The Clear-eyed One taught the Dhamma,
and when I heard what he said,
I happily did his bidding.
Practicing serenity of mind
for the attainment of the highest goal.
I’ve attained the three knowledges
and fulfilled the Buddha’s instructions.
When you’re dedicated to renunciation
and seclusion of the heart;
when you’re dedicated to kindness
and the end of grasping;
when you’re dedicated to the ending of craving
and clarity of heart;
and you’ve seen the arising of the senses,
your mind is rightly freed.
For that one, rightly freed,
a mendicant with peaceful mind,
there’s nothing to be improved,
and nothing more to do.
As the wind cannot stir
a solid mass of rock,
so too sights, tastes, sounds,
smells, and touches—the lot—
and ideas, whether liked or disliked,
don’t disturb the unaffected one.
Their mind is steady and unfettered
as they observe fall.
BJT 632“Vị nào đã được nổi bật ở vương quốc, đã là người hầu cận của đức vua Aṅga, vị ấy hôm nay là nổi bật về các pháp (siêu thế), Soṇa là người đã đi đến bờ kia của khổ đau.
BJT 633Nên cắt đứt năm, nên từ bỏ năm, và nên tu tập vượt bực về năm. Vị tỳ khưu đã vượt qua khỏi năm sự bám víu được gọi là ‘đã vượt qua cơn lũ.’
BJT 634Đối với vị tỳ khưu kiêu ngạo, xao lãng, hướng ngoại, giới, định, và tuệ của vị ấy không đi đến sự tròn đủ.
BJT 635Bởi vì việc cần làm đã bị bỏ bê, trái lại việc không cần làm được thực hiện. Đối với những kẻ kiêu ngạo, xao lãng, các lậu hoặc của những kẻ ấy tăng trưởng.
BJT 636Và đối với những vị nào, niệm đặt ở thân khéo được tiến hành thường xuyên, những vị ấy không thực hành việc không cần làm, có sự kiên trì thực hiện các việc cần làm. Đối với những vị có niệm, có sự nhận biết rõ rệt, các lậu hoặc của những vị ấy đi đến sự chấm dứt.
BJT 637Các ngươi hãy bước đi ở con đường thẳng tắp đã được chỉ dạy, chớ quay trở lại. Nên tự mình quở trách chính mình, nên đón rước Niết Bàn.
BJT 638Về sự tinh tấn đã được khởi sự quá mức (của tôi), bậc Đạo Sư, đấng Vô Thượng ở thế gian, bậc Hữu Nhãn, sau khi làm ví dụ về cây đàn vīṇā, đã thuyết giảng Giáo Pháp.
BJT 639Sau khi lắng nghe lời nói của Ngài, được thích thú ở lời giáo huấn, tôi đã an trú. Tôi đã thực hành về chỉ tịnh nhằm đạt đến mục đích tối thượng. Ba Minh đã được thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
BJT 640Đối với người đã thiên về sự xuất ly và có tâm ý về việc tách ly, đối với người đã thiên về không hãm hại và có sự cạn kiệt của các chấp thủ, …
BJT 642Đối với vị tỳ khưu, có tâm an tịnh, đã được giải thoát một cách đúng đắn ấy, không có sự tích lũy đối với việc đã làm, việc cần phải làm không có.
BJT 643Giống như tảng đá cứng rắn không bị lay chuyển bởi gió, tương tự như thế toàn bộ các sắc, các vị, các thinh, các hương, các xúc, …
BJT 644… các đối tượng của tâm, được mong muốn và không được mong muốn, không làm xao động tâm vững chắc không bị ràng buộc của vị như thế ấy, và (vị ấy) theo dõi sự diệt của điều này.”
Đại đức trưởng lão Soṇa Koḷivisa đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Soṇa.
TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
“Trưởng lão Soṇa Koḷivisa, chỉ một vị, có đại thần lực, và trường hợp này có mười ba câu kệ ở nhóm mười ba.”
Nhóm Mười Ba được chấm dứt.
“Yāhu raṭṭhe samukkaṭṭho,
rañño aṅgassa paddhagū;
Svajja dhammesu ukkaṭṭho,
soṇo dukkhassa pāragū.
Pañca chinde pañca jahe,
pañca cuttari bhāvaye;
Pañca saṅgātigo bhikkhu,
oghatiṇṇoti vuccati.
Unnaḷassa pamattassa,
bāhirāsassa bhikkhuno;
Sīlaṁ samādhi paññā ca,
pāripūriṁ na gacchati.
Yañhi kiccaṁ apaviddhaṁ,
akiccaṁ pana karīyati;
Unnaḷānaṁ pamattānaṁ,
tesaṁ vaḍḍhanti āsavā.
Yesañca susamāraddhā,
niccaṁ kāyagatā sati;
Akiccaṁ te na sevanti,
kicce sātaccakārino;
Satānaṁ sampajānānaṁ,
atthaṁ gacchanti āsavā.
Ujumaggamhi akkhāte,
gacchatha mā nivattatha;
Attanā codayattānaṁ,
nibbānamabhihāraye.
Accāraddhamhi vīriyamhi,
satthā loke anuttaro;
Vīṇopamaṁ karitvā me,
dhammaṁ desesi cakkhumā;
Tassāhaṁ vacanaṁ sutvā,
vihāsiṁ sāsane rato.
Samathaṁ paṭipādesiṁ,
uttamatthassa pattiyā;
Tisso vijjā anuppattā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Nekkhamme adhimuttassa,
pavivekañca cetaso;
Abyāpajjādhimuttassa,
upādānakkhayassa ca.
Taṇhakkhayādhimuttassa,
asammohañca cetaso;
Disvā āyatanuppādaṁ,
sammā cittaṁ vimuccati.
Tassa sammā vimuttassa,
santacittassa bhikkhuno;
Katassa paṭicayo natthi,
karaṇīyaṁ na vijjati.
Selo yathā ekagghano,
vātena na samīrati;
Evaṁ rūpā rasā saddā,
gandhā phassā ca kevalā.
Iṭṭhā dhammā aniṭṭhā ca,
nappavedhenti tādino;
Ṭhitaṁ cittaṁ visaññuttaṁ,
vayañcassānupassatī”ti.
… Soṇo koḷiviso thero …
Terasanipāto niṭṭhito.
Tatruddānaṁ
Soṇo koḷiviso thero,
ekoyeva mahiddhiko;
Terasamhi nipātamhi,
gāthāyo cettha terasāti.