BJT 537“Nếu không tìm thấy người nào khác ở phía trước hoặc ở phía sau, là điều thoải mái vô cùng cho người đang sống một mình ở khu rừng.
BJT 538Giờ đây, tôi sẽ một mình đi vào khu rừng, (là nơi) đã được đức Phật ca ngợi, (là nơi) thoải mái cho vị tỳ khưu có bản tính cương quyết, cư trú một mình.
BJT 539Là người có khả năng đối với mục đích, một mình tôi sẽ đi nhanh chóng vào khu rừng đáng yêu, nơi tạo ra niềm phỉ lạc cho các hành giả, được lai vãng bởi những con voi đã bị lên cơn động dục.
BJT 540Ở khu rừng mát mẻ, khéo nở rộ hoa, trong hang núi mát lạnh, sau khi rửa ráy các phần thân thể, tôi sẽ đi kinh hành, đơn độc một mình.
BJT 541Đơn độc một mình, không người thứ hai, ở khu rừng lớn đáng yêu, khi nào tôi sẽ sống không còn lậu hoặc, có phận sự đã được làm xong?
BJT 542Tôi có ước muốn thực hiện như vậy, mong sao ý định của tôi được thành tựu. Chính tôi sẽ hoàn thành, không ai là người làm thế cho ai.
BJT 543Tôi đây buộc chặt lại áo giáp (tinh tấn), tôi sẽ đi vào khu rừng. Chưa đạt được sự cạn kiệt các lậu hoặc, tôi sẽ không lìa khỏi nơi ấy.
BJT 544Khi ngọn gió mát lạnh có mùi hương ngọt ngào đang thổi, ngồi ở đỉnh ngọn núi, tôi sẽ phá vỡ vô minh.
BJT 545Tại khu rừng được bao phủ bông hoa, trong hang động quả thật mát lạnh, được an lạc với sự an lạc giải thoát, tôi sẽ vui thích ở Giribbaja.
BJT 546Tôi đây, với ý định đã được tròn đủ giống như mặt trăng ngày rằm, đã được hoàn toàn cạn kiệt mọi lậu hoặc, giờ đây không còn tái sanh nữa.”
Đại đức trưởng lão Ekavihāriya đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Ekavihāriya.
“Purato pacchato vāpi,
aparo ce na vijjati;
Atīva phāsu bhavati,
ekassa vasato vane.
Handa eko gamissāmi,
araññaṁ buddhavaṇṇitaṁ;
Phāsu ekavihārissa,
pahitattassa bhikkhuno.
Yogi-pītikaraṁ rammaṁ,
mattakuñjarasevitaṁ;
Eko attavasī khippaṁ,
pavisissāmi kānanaṁ.
Supupphite sītavane,
sītale girikandare;
Gattāni parisiñcitvā,
caṅkamissāmi ekako.
Ekākiyo adutiyo,
ramaṇīye mahāvane;
Kadāhaṁ viharissāmi,
katakicco anāsavo.
Evaṁ me kattukāmassa,
adhippāyo samijjhatu;
Sādhayissāmahaṁyeva,
nāñño aññassa kārako.
Esa bandhāmi sannāhaṁ,
pavisissāmi kānanaṁ;
Na tato nikkhamissāmi,
appatto āsavakkhayaṁ.
Mālute upavāyante,
sīte surabhigandhike;
Avijjaṁ dālayissāmi,
nisinno nagamuddhani.
Vane kusumasañchanne,
pabbhāre nūna sītale;
Vimuttisukhena sukhito,
ramissāmi giribbaje.
Sohaṁ paripuṇṇasaṅkappo,
cando pannaraso yathā;
Sabbāsavaparikkhīṇo,
natthi dāni punabbhavo”ti.
… Ekavihāriyo thero ….
If no-one else is found
before or behind,
it’s extremely pleasant
to be dwelling alone in a forest grove.
Come now, I’ll go alone
to the wilderness praised by the Buddha.
It’s pleasant for a mendicant
to be dwelling alone and resolute.
Alone and self-disciplined,
I’ll quickly enter the delightful forest,
which gives joy to meditators,
and is frequented by rutting elephants.
In the Cool Grove, so full of flowers,
in a cool mountain cave,
I’ll bathe my limbs
and walk mindfully alone.
When will I dwell alone,
without a companion,
in the great wood, so delightful,
my task complete, free of defilements?
This is what I want to do:
may my wish succeed!
I’ll make it happen myself,
for no-one can do another’s duty.
Fastening my armor,
I’ll enter the forest.
I won’t leave
without attaining the end of defilements.
As the cool gale blows
with fragrant scent,
I’ll split ignorance apart,
sitting on the mountain-peak.
In a forest grove covered with blossoms,
in a cave so very cool,
I take pleasure in the Mountainfold,
happy with the happiness of freedom.
I’ve got all I wished for
like the moon on the fifteenth day.
With the utter ending of all defilements,
now there’ll be no more future lives.
BJT 537“Nếu không tìm thấy người nào khác ở phía trước hoặc ở phía sau, là điều thoải mái vô cùng cho người đang sống một mình ở khu rừng.
BJT 538Giờ đây, tôi sẽ một mình đi vào khu rừng, (là nơi) đã được đức Phật ca ngợi, (là nơi) thoải mái cho vị tỳ khưu có bản tính cương quyết, cư trú một mình.
BJT 539Là người có khả năng đối với mục đích, một mình tôi sẽ đi nhanh chóng vào khu rừng đáng yêu, nơi tạo ra niềm phỉ lạc cho các hành giả, được lai vãng bởi những con voi đã bị lên cơn động dục.
BJT 540Ở khu rừng mát mẻ, khéo nở rộ hoa, trong hang núi mát lạnh, sau khi rửa ráy các phần thân thể, tôi sẽ đi kinh hành, đơn độc một mình.
BJT 541Đơn độc một mình, không người thứ hai, ở khu rừng lớn đáng yêu, khi nào tôi sẽ sống không còn lậu hoặc, có phận sự đã được làm xong?
BJT 542Tôi có ước muốn thực hiện như vậy, mong sao ý định của tôi được thành tựu. Chính tôi sẽ hoàn thành, không ai là người làm thế cho ai.
BJT 543Tôi đây buộc chặt lại áo giáp (tinh tấn), tôi sẽ đi vào khu rừng. Chưa đạt được sự cạn kiệt các lậu hoặc, tôi sẽ không lìa khỏi nơi ấy.
BJT 544Khi ngọn gió mát lạnh có mùi hương ngọt ngào đang thổi, ngồi ở đỉnh ngọn núi, tôi sẽ phá vỡ vô minh.
BJT 545Tại khu rừng được bao phủ bông hoa, trong hang động quả thật mát lạnh, được an lạc với sự an lạc giải thoát, tôi sẽ vui thích ở Giribbaja.
BJT 546Tôi đây, với ý định đã được tròn đủ giống như mặt trăng ngày rằm, đã được hoàn toàn cạn kiệt mọi lậu hoặc, giờ đây không còn tái sanh nữa.”
Đại đức trưởng lão Ekavihāriya đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Ekavihāriya.
“Purato pacchato vāpi,
aparo ce na vijjati;
Atīva phāsu bhavati,
ekassa vasato vane.
Handa eko gamissāmi,
araññaṁ buddhavaṇṇitaṁ;
Phāsu ekavihārissa,
pahitattassa bhikkhuno.
Yogi-pītikaraṁ rammaṁ,
mattakuñjarasevitaṁ;
Eko attavasī khippaṁ,
pavisissāmi kānanaṁ.
Supupphite sītavane,
sītale girikandare;
Gattāni parisiñcitvā,
caṅkamissāmi ekako.
Ekākiyo adutiyo,
ramaṇīye mahāvane;
Kadāhaṁ viharissāmi,
katakicco anāsavo.
Evaṁ me kattukāmassa,
adhippāyo samijjhatu;
Sādhayissāmahaṁyeva,
nāñño aññassa kārako.
Esa bandhāmi sannāhaṁ,
pavisissāmi kānanaṁ;
Na tato nikkhamissāmi,
appatto āsavakkhayaṁ.
Mālute upavāyante,
sīte surabhigandhike;
Avijjaṁ dālayissāmi,
nisinno nagamuddhani.
Vane kusumasañchanne,
pabbhāre nūna sītale;
Vimuttisukhena sukhito,
ramissāmi giribbaje.
Sohaṁ paripuṇṇasaṅkappo,
cando pannaraso yathā;
Sabbāsavaparikkhīṇo,
natthi dāni punabbhavo”ti.
… Ekavihāriyo thero ….