BJT 127“Cái cốc của tôi ở bờ sông Gaṅgā được làm với ba chiếc lá cọ, bình bát của tôi chính là cái chậu đựng đồ cúng cho người chết, và y may bằng vải quăng bỏ.
BJT 128Trong khoảng thời gian hai năm, một câu nói đã được tôi thốt ra. Vào khoảng giữa năm thứ ba, khối đống tăm tối (vô minh) đã được phá tan.”
Đại đức trưởng lão Gaṅgātīriya đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Gaṅgātīriya.
“Tiṇṇaṁ me tālapattānaṁ,
gaṅgātīre kuṭī katā;
Chavasittova me patto,
paṁsukūlañca cīvaraṁ.
Dvinnaṁ antaravassānaṁ,
ekā vācā me bhāsitā;
Tatiye antaravassamhi,
tamokhandho padālito”ti.
… Gaṅgātīriyo thero ….
My hut on the bank of the Ganges
is made from three palm leaves.
My alms-bowl is a funeral pot,
my robe is cast-off rags.
In my first two rainy seasons
I spoke only one word.
In my third rainy season
the mass of darkness was shattered.
BJT 127“Cái cốc của tôi ở bờ sông Gaṅgā được làm với ba chiếc lá cọ, bình bát của tôi chính là cái chậu đựng đồ cúng cho người chết, và y may bằng vải quăng bỏ.
BJT 128Trong khoảng thời gian hai năm, một câu nói đã được tôi thốt ra. Vào khoảng giữa năm thứ ba, khối đống tăm tối (vô minh) đã được phá tan.”
Đại đức trưởng lão Gaṅgātīriya đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Gaṅgātīriya.
“Tiṇṇaṁ me tālapattānaṁ,
gaṅgātīre kuṭī katā;
Chavasittova me patto,
paṁsukūlañca cīvaraṁ.
Dvinnaṁ antaravassānaṁ,
ekā vācā me bhāsitā;
Tatiye antaravassamhi,
tamokhandho padālito”ti.
… Gaṅgātīriyo thero ….