BJT 557“Ngu đần đã là phần số của tôi; trước đây tôi đã bị xem thường. Và người anh trai đã đuổi tôi đi: ‘Giờ đây, ngươi hãy đi về nhà.’
BJT 558Bị đuổi đi bởi người anh trai tại cánh cổng của tu viện thuộc về hội chúng, với tâm trí buồn bã, tôi đây đã đứng ở nơi ấy, trông mong lời giáo huấn.
BJT 559Đức Thế Tôn đã đi đến nơi ấy, đã sờ vào đầu của tôi, sau khi nắm tôi bằng cánh tay, rồi đã dẫn tôi vào tu viện thuộc về hội chúng.
BJT 560Vì lòng thương tưởng đến tôi, bậc Đạo Sư đã trao cho miếng giẻ chùi chân (nói rằng): ‘Hãy (ngồi xuống) ở một bên rồi chú tâm vào vật trong sạch này cho đến khi đã được chú tâm vững chắc.’
BJT 561Sau khi lắng nghe lời nói của Ngài, được thích thú ở lời giáo huấn, tôi đã an trú. Tôi đã thực hành về định nhằm đạt đến mục đích tối thượng.
BJT 562Có Thiên nhãn đã được trong sạch, tôi biết được đời sống trong thời quá khứ. Ba Minh đã được thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
BJT 564Sau đó, bậc Đạo Sư đã phái sứ giả thông báo về thời gian cho tôi. Khi thời gian đã được thông báo, tôi đã đi đến bằng đường không trung.
BJT 565Sau khi đảnh lễ hai bàn chân của bậc Đạo Sư, tôi đã ngồi xuống ở một bên. Sau khi biết tôi đã ngồi xuống, khi ấy bậc Đạo Sư đã thọ nhận.
BJT 566Là nơi dâng cúng của tất cả thế gian, là vị thọ nhận các vật hiến cúng, là thửa ruộng phước báu của loài người, Ngài đã thọ nhận vật cúng dường.”
Đại đức trưởng lão Cūḷapanthaka đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Cūḷapanthaka.
“Dandhā mayhaṁ gatī āsi,
paribhūto pure ahaṁ;
Bhātā ca maṁ paṇāmesi,
‘gaccha dāni tuvaṁ gharaṁ’.
Sohaṁ paṇāmito santo,
saṅghārāmassa koṭṭhake;
Dummano tattha aṭṭhāsiṁ,
sāsanasmiṁ apekkhavā.
Bhagavā tattha āgacchi,
sīsaṁ mayhaṁ parāmasi;
Bāhāya maṁ gahetvāna,
saṅghārāmaṁ pavesayi.
Anukampāya me satthā,
pādāsi pādapuñchaniṁ;
‘Etaṁ suddhaṁ adhiṭṭhehi,
ekamantaṁ svadhiṭṭhitaṁ’.
Tassāhaṁ vacanaṁ sutvā,
vihāsiṁ sāsane rato;
Samādhiṁ paṭipādesiṁ,
uttamatthassa pattiyā.
Pubbenivāsaṁ jānāmi,
dibbacakkhu visodhitaṁ;
Tisso vijjā anuppattā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Sahassakkhattumattānaṁ,
nimminitvāna panthako;
Nisīdambavane ramme,
yāva kālappavedanā.
Tato me satthā pāhesi,
dūtaṁ kālappavedakaṁ;
Paveditamhi kālamhi,
vehāsādupasaṅkamiṁ.
Vanditvā satthuno pāde,
ekamantaṁ nisīdahaṁ;
Nisinnaṁ maṁ viditvāna,
atha satthā paṭiggahi.
Āyāgo sabbalokassa,
āhutīnaṁ paṭiggaho;
Puññakkhettaṁ manussānaṁ,
paṭiggaṇhittha dakkhiṇan”ti.
… Cūḷapanthako thero ….
My progress was slow,
I was despised in the past.
Even my brother turned me away,
saying, “Go home now.”
Turned away at the gate
of the Saṅgha’s monastery,
I stood there sadly,
longing for the dispensation.
Then the Buddha came
and touched my head.
Taking me by the arm,
he brought me into the Saṅgha’s monastery.
The Teacher, out of sympathy,
gave me a foot-wiping cloth, saying:
“Focus your awareness
exclusively on this clean cloth.”
After hearing his words,
I happily did his bidding.
I practiced meditative immersion
for the attainment of the highest goal.
I know my past lives,
my clairvoyance is clarified;
I’ve attained the three knowledges,
and fulfilled the Buddha’s instructions.
I, Panthaka, created a thousand
images of myself,
and sat in the delightful mango grove
until the time for the meal offering was announced.
Then the teacher sent to me
a messenger to announce the time.
When the time was announced,
I flew to him through the air.
I paid homage at the teacher’s feet,
and sat to one side.
When he knew I was seated,
the teacher received the offering.
Recipient of gifts from the whole world,
receiver of sacrifices,
field of merit for humanity,
he received the religious donation.
BJT 557“Ngu đần đã là phần số của tôi; trước đây tôi đã bị xem thường. Và người anh trai đã đuổi tôi đi: ‘Giờ đây, ngươi hãy đi về nhà.’
BJT 558Bị đuổi đi bởi người anh trai tại cánh cổng của tu viện thuộc về hội chúng, với tâm trí buồn bã, tôi đây đã đứng ở nơi ấy, trông mong lời giáo huấn.
BJT 559Đức Thế Tôn đã đi đến nơi ấy, đã sờ vào đầu của tôi, sau khi nắm tôi bằng cánh tay, rồi đã dẫn tôi vào tu viện thuộc về hội chúng.
BJT 560Vì lòng thương tưởng đến tôi, bậc Đạo Sư đã trao cho miếng giẻ chùi chân (nói rằng): ‘Hãy (ngồi xuống) ở một bên rồi chú tâm vào vật trong sạch này cho đến khi đã được chú tâm vững chắc.’
BJT 561Sau khi lắng nghe lời nói của Ngài, được thích thú ở lời giáo huấn, tôi đã an trú. Tôi đã thực hành về định nhằm đạt đến mục đích tối thượng.
BJT 562Có Thiên nhãn đã được trong sạch, tôi biết được đời sống trong thời quá khứ. Ba Minh đã được thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
BJT 564Sau đó, bậc Đạo Sư đã phái sứ giả thông báo về thời gian cho tôi. Khi thời gian đã được thông báo, tôi đã đi đến bằng đường không trung.
BJT 565Sau khi đảnh lễ hai bàn chân của bậc Đạo Sư, tôi đã ngồi xuống ở một bên. Sau khi biết tôi đã ngồi xuống, khi ấy bậc Đạo Sư đã thọ nhận.
BJT 566Là nơi dâng cúng của tất cả thế gian, là vị thọ nhận các vật hiến cúng, là thửa ruộng phước báu của loài người, Ngài đã thọ nhận vật cúng dường.”
Đại đức trưởng lão Cūḷapanthaka đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Cūḷapanthaka.
“Dandhā mayhaṁ gatī āsi,
paribhūto pure ahaṁ;
Bhātā ca maṁ paṇāmesi,
‘gaccha dāni tuvaṁ gharaṁ’.
Sohaṁ paṇāmito santo,
saṅghārāmassa koṭṭhake;
Dummano tattha aṭṭhāsiṁ,
sāsanasmiṁ apekkhavā.
Bhagavā tattha āgacchi,
sīsaṁ mayhaṁ parāmasi;
Bāhāya maṁ gahetvāna,
saṅghārāmaṁ pavesayi.
Anukampāya me satthā,
pādāsi pādapuñchaniṁ;
‘Etaṁ suddhaṁ adhiṭṭhehi,
ekamantaṁ svadhiṭṭhitaṁ’.
Tassāhaṁ vacanaṁ sutvā,
vihāsiṁ sāsane rato;
Samādhiṁ paṭipādesiṁ,
uttamatthassa pattiyā.
Pubbenivāsaṁ jānāmi,
dibbacakkhu visodhitaṁ;
Tisso vijjā anuppattā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Sahassakkhattumattānaṁ,
nimminitvāna panthako;
Nisīdambavane ramme,
yāva kālappavedanā.
Tato me satthā pāhesi,
dūtaṁ kālappavedakaṁ;
Paveditamhi kālamhi,
vehāsādupasaṅkamiṁ.
Vanditvā satthuno pāde,
ekamantaṁ nisīdahaṁ;
Nisinnaṁ maṁ viditvāna,
atha satthā paṭiggahi.
Āyāgo sabbalokassa,
āhutīnaṁ paṭiggaho;
Puññakkhettaṁ manussānaṁ,
paṭiggaṇhittha dakkhiṇan”ti.
… Cūḷapanthako thero ….