BJT 417“(Con đường Thánh tám chi phần) đã khéo được thuyết giảng bởi đức Phật, bậc Hữu Nhãn, vị thân quyến của mặt trời, người đã vượt qua tất cả các điều ràng buộc, có sự tiêu diệt tất cả các sự xoay vần.
BJT 418(Con đường Thánh tám chi phần) là sự dẫn dắt ra khỏi, có sự vượt lên trên, có sự làm khô héo gốc rễ của tham ái, sau khi cắt đứt gốc rễ của chất độc có sự hủy hoại, rồi giúp cho đạt được sự tịch diệt.
BJT 419Do việc phá vỡ gốc rễ của trạng thái vô trí, có sự phá tung tình trạng khống chế của nghiệp, có sự làm giáng xuống tia sét trí tuệ ở sự nắm giữ của các nhận thức.
BJT 420Có sự giúp cho việc nhận thức các thọ, có sự giải thoát khỏi các chấp thủ, có sự quán xét bằng trí tuệ về sự hiện hữu tựa như hố than hừng.
BJT 421Con đường Thánh tám chi phần, tốt đẹp, có phẩm chất vĩ đại, vô cùng sâu thẳm, có sự cản ngăn trạng thái già và chết, có sự làm an tịnh các khổ đau.
BJT 422Sau khi biết nghiệp là ‘nghiệp’ và quả thành tựu là quả thành tựu, có sự nhìn thấy bằng ánh sáng chân thật đối với các pháp tùy thuận sanh khởi, (con đường Thánh tám chi phần) là an tịnh, có sự dẫn đến chốn an toàn vĩ đại, có sự tốt đẹp ở phần cuối (Niết Bàn).”
Đại đức trưởng lão Migajāla đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Migajāla.
“Sudesito cakkhumatā,
buddhenādiccabandhunā;
Sabbasaṁyojanātīto,
sabbavaṭṭavināsano.
Niyyāniko uttaraṇo,
taṇhāmūlavisosano;
Visamūlaṁ āghātanaṁ,
chetvā pāpeti nibbutiṁ.
Aññāṇamūlabhedāya,
kammayantavighāṭano;
Viññāṇānaṁ pariggahe,
ñāṇavajiranipātano.
Vedanānaṁ viññāpano,
upādānappamocano;
Bhavaṁ aṅgārakāsuṁva,
ñāṇena anupassano.
Mahāraso sugambhīro,
jarāmaccunivāraṇo;
Ariyo aṭṭhaṅgiko maggo,
dukkhūpasamano sivo.
Kammaṁ kammanti ñatvāna,
vipākañca vipākato;
Paṭiccuppannadhammānaṁ,
yathāvālokadassano;
Mahākhemaṅgamo santo,
pariyosānabhaddako”ti.
… Migajālo thero ….
It was well-taught by the Clear-eyed One,
the Buddha, Kinsman of the Sun,
who has transcended all fetters,
and destroyed all rolling-on.
Emancipating, it leads across,
drying up the root of craving,
and, having cut off the poisonous root, the slaughterhouse,
it leads to quenching.
By breaking the root of unknowing,
it smashes the mechanism of deeds,
and drops the thunderbolt of knowledge
on the taking up of consciousnesses.
It informs us of our feelings,
releasing us from grasping,
contemplating with understanding
all states of existence as a pit of burning coals.
It’s very sweet and very deep,
holding birth and death at bay;
it is the noble eightfold path—
the stilling of suffering, bliss.
Knowing deed as deed
and result as result;
seeing dependently originated phenomena
as if they were in a clear light;
leading to the great sanctuary and peace,
it’s excellent at the end.
BJT 417“(Con đường Thánh tám chi phần) đã khéo được thuyết giảng bởi đức Phật, bậc Hữu Nhãn, vị thân quyến của mặt trời, người đã vượt qua tất cả các điều ràng buộc, có sự tiêu diệt tất cả các sự xoay vần.
BJT 418(Con đường Thánh tám chi phần) là sự dẫn dắt ra khỏi, có sự vượt lên trên, có sự làm khô héo gốc rễ của tham ái, sau khi cắt đứt gốc rễ của chất độc có sự hủy hoại, rồi giúp cho đạt được sự tịch diệt.
BJT 419Do việc phá vỡ gốc rễ của trạng thái vô trí, có sự phá tung tình trạng khống chế của nghiệp, có sự làm giáng xuống tia sét trí tuệ ở sự nắm giữ của các nhận thức.
BJT 420Có sự giúp cho việc nhận thức các thọ, có sự giải thoát khỏi các chấp thủ, có sự quán xét bằng trí tuệ về sự hiện hữu tựa như hố than hừng.
BJT 421Con đường Thánh tám chi phần, tốt đẹp, có phẩm chất vĩ đại, vô cùng sâu thẳm, có sự cản ngăn trạng thái già và chết, có sự làm an tịnh các khổ đau.
BJT 422Sau khi biết nghiệp là ‘nghiệp’ và quả thành tựu là quả thành tựu, có sự nhìn thấy bằng ánh sáng chân thật đối với các pháp tùy thuận sanh khởi, (con đường Thánh tám chi phần) là an tịnh, có sự dẫn đến chốn an toàn vĩ đại, có sự tốt đẹp ở phần cuối (Niết Bàn).”
Đại đức trưởng lão Migajāla đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Migajāla.
“Sudesito cakkhumatā,
buddhenādiccabandhunā;
Sabbasaṁyojanātīto,
sabbavaṭṭavināsano.
Niyyāniko uttaraṇo,
taṇhāmūlavisosano;
Visamūlaṁ āghātanaṁ,
chetvā pāpeti nibbutiṁ.
Aññāṇamūlabhedāya,
kammayantavighāṭano;
Viññāṇānaṁ pariggahe,
ñāṇavajiranipātano.
Vedanānaṁ viññāpano,
upādānappamocano;
Bhavaṁ aṅgārakāsuṁva,
ñāṇena anupassano.
Mahāraso sugambhīro,
jarāmaccunivāraṇo;
Ariyo aṭṭhaṅgiko maggo,
dukkhūpasamano sivo.
Kammaṁ kammanti ñatvāna,
vipākañca vipākato;
Paṭiccuppannadhammānaṁ,
yathāvālokadassano;
Mahākhemaṅgamo santo,
pariyosānabhaddako”ti.
… Migajālo thero ….