BJT 315“Là vị tỳ khưu, sau khi đi đến bãi tha ma, tôi đã nhìn thấy (thây) người phụ nữ bị liệng bỏ, bị quăng ở nghĩa địa, đang bị gặm nhấm, lúc nhúc những dòi.
BJT 316Sau khi nhìn thấy chính nàng ấy, đã chết, xấu xa, nhiều người ghê tởm. Còn tôi đã giống như người mù đối với thây người đang rò rỉ, sự luyến ái về các dục đã xuất hiện (ở tôi).
BJT 317Nhanh chóng hơn việc nấu chín nồi cơm, tôi đã lìa khỏi địa điểm ấy. Có niệm, có sự nhận biết rõ, tôi đã ngồi xuống ở một góc.
BJT 318Do đó, sự tác ý theo đúng đường lối đã khởi lên ở tôi, điều bất lợi đã hiện rõ, sự nhàm chán đã được thiết lập.
BJT 319Do đó, tâm của tôi đã được giải thoát; hãy nhìn xem bản chất tốt đẹp của Giáo Pháp. Ba Minh đã được thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Đại đức trưởng lão Rājadatta đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Rājadatta.
“Bhikkhu sivathikaṁ gantvā,
Addasa itthimujjhitaṁ;
Apaviddhaṁ susānasmiṁ,
Khajjantiṁ kimihī phuṭaṁ.
Yañhi eke jigucchanti,
mataṁ disvāna pāpakaṁ;
Kāmarāgo pāturahu,
andhova savatī ahuṁ.
Oraṁ odanapākamhā,
tamhā ṭhānā apakkamiṁ;
Satimā sampajānohaṁ,
ekamantaṁ upāvisiṁ.
Tato me manasīkāro,
yoniso udapajjatha;
Ādīnavo pāturahu,
nibbidā samatiṭṭhatha.
Tato cittaṁ vimucci me,
passa dhammasudhammataṁ;
Tisso vijjā anuppattā,
kataṁ buddhassa sāsanan”ti.
… Rājadatto thero ….
I, a monk, went to a charnel ground
and saw a woman’s body abandoned there,
dumped in a cemetery,
full of worms that devoured.
Some men were disgusted,
seeing her dead and rotten;
but sexual desire arose in me,
I was as if blind to her oozing body.
Quicker than the cooking of rice
I left that place!
Mindful and aware,
I retired to a discreet place.
Then the realization
came upon me—
the danger became clear,
and I was firmly disillusioned.
Then my mind was freed—
behold the clear rightness of the teaching!
I’ve attained the three knowledges
and fulfilled the Buddha’s instructions.
BJT 315“Là vị tỳ khưu, sau khi đi đến bãi tha ma, tôi đã nhìn thấy (thây) người phụ nữ bị liệng bỏ, bị quăng ở nghĩa địa, đang bị gặm nhấm, lúc nhúc những dòi.
BJT 316Sau khi nhìn thấy chính nàng ấy, đã chết, xấu xa, nhiều người ghê tởm. Còn tôi đã giống như người mù đối với thây người đang rò rỉ, sự luyến ái về các dục đã xuất hiện (ở tôi).
BJT 317Nhanh chóng hơn việc nấu chín nồi cơm, tôi đã lìa khỏi địa điểm ấy. Có niệm, có sự nhận biết rõ, tôi đã ngồi xuống ở một góc.
BJT 318Do đó, sự tác ý theo đúng đường lối đã khởi lên ở tôi, điều bất lợi đã hiện rõ, sự nhàm chán đã được thiết lập.
BJT 319Do đó, tâm của tôi đã được giải thoát; hãy nhìn xem bản chất tốt đẹp của Giáo Pháp. Ba Minh đã được thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Đại đức trưởng lão Rājadatta đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Rājadatta.
“Bhikkhu sivathikaṁ gantvā,
Addasa itthimujjhitaṁ;
Apaviddhaṁ susānasmiṁ,
Khajjantiṁ kimihī phuṭaṁ.
Yañhi eke jigucchanti,
mataṁ disvāna pāpakaṁ;
Kāmarāgo pāturahu,
andhova savatī ahuṁ.
Oraṁ odanapākamhā,
tamhā ṭhānā apakkamiṁ;
Satimā sampajānohaṁ,
ekamantaṁ upāvisiṁ.
Tato me manasīkāro,
yoniso udapajjatha;
Ādīnavo pāturahu,
nibbidā samatiṭṭhatha.
Tato cittaṁ vimucci me,
passa dhammasudhammataṁ;
Tisso vijjā anuppattā,
kataṁ buddhassa sāsanan”ti.
… Rājadatto thero ….