BJT 547“Người nào nhìn thấy trước tương lai, về sự việc có lợi, có hại, và cả hai điều ấy, những kẻ thù hoặc bạn bè của người ấy, trong khi tìm kiếm, không nhìn ra sự sơ hở (của người ấy).
BJT 548Niệm hơi thở vào hơi thở ra của vị nào được tròn đủ, khéo được tu tập, được tích lũy theo thứ lớp giống như điều đã được thuyết giảng bởi đức Phật, vị ấy chiếu sáng thế gian này, tựa như mặt trăng được thoát khỏi đám mây.
BJT 549Thật vậy, tâm của tôi trong trắng, không hạn lượng, đã được khéo tu tập, đã được thấu triệt, và đã được nắm chắc, nó chiếu sáng tất cả các phương.
BJT 550Người có trí tuệ cũng vẫn sinh tồn cho dầu có sự khánh tận về tài sản, nhưng với việc không đạt được trí tuệ, người có tài sản cũng không sinh tồn.
BJT 551Trí tuệ có sự phán xét điều đã được nghe, trí tuệ có sự làm tăng trưởng danh thơm tiếng tốt. Ở thế gian này, người sở hữu trí tuệ tìm thấy các niềm an lạc thậm chí ở những nỗi khổ đau.
BJT 552Quy luật này không phải (chỉ riêng) cho hôm nay, không là kỳ bí, cũng không bất thường. Bất luận ở đâu, sanh ra rồi chết; trong trường hợp ấy có điều gì là bất thường?
BJT 553Bởi vì đối với kẻ đã được sanh ra, sau sự sống thì có cái chết là điều chắc chắn, không bị gián đoạn. Ở đây, những ai được sanh ra đều chết, bởi vì các sanh mạng có quy luật tự nhiên như vậy.
BJT 554Bởi vì điều lợi ích cho mạng sống của những người khác không đem lại lợi ích ấy cho người đã chết. Việc than khóc về người đã chết không phải là tiếng tốt, không phải là sự trong sạch, không được các Sa-môn, Bà-la-môn khen ngợi.
BJT 555Việc than khóc hủy diệt con mắt và thân xác, còn dung nhan, sức lực, và trí óc bị tàn tạ. Những kẻ thù của người ấy trở nên mừng rỡ, những thân hữu của người này không được hạnh phúc.
BJT 556Chính vì thế, nên mong mỏi (có được) những người thông minh và luôn cả những người học rộng sống ở trong gia tộc, nhờ vào năng lực trí tuệ của chính những người ấy mà họ hoàn thành phận sự, tựa như nhờ vào chiếc thuyền mà vượt qua dòng sông ngập tràn.”
Đại đức trưởng lão Mahākappina đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Mahākappina.
“Anāgataṁ yo paṭikacca passati,
Hitañca atthaṁ ahitañca taṁ dvayaṁ;
Viddesino tassa hitesino vā,
Randhaṁ na passanti samekkhamānā.
Ānāpānasatī yassa,
paripuṇṇā subhāvitā;
Anupubbaṁ paricitā,
yathā buddhena desitā;
Somaṁ lokaṁ pabhāseti,
abbhā muttova candimā.
Odātaṁ vata me cittaṁ,
appamāṇaṁ subhāvitaṁ;
Nibbiddhaṁ paggahītañca,
sabbā obhāsate disā.
Jīvate vāpi sappañño,
api vittaparikkhayo;
Paññāya ca alābhena,
vittavāpi na jīvati.
Paññā sutavinicchinī,
Paññā kittisilokavaddhanī;
Paññāsahito naro idha,
Api dukkhesu sukhāni vindati.
Nāyaṁ ajjatano dhammo,
nacchero napi abbhuto;
Yattha jāyetha mīyetha,
tattha kiṁ viya abbhutaṁ.
Anantaraṁ hi jātassa,
jīvitā maraṇaṁ dhuvaṁ;
Jātā jātā marantīdha,
evaṁdhammā hi pāṇino.
Na hetadatthāya matassa hoti,
Yaṁ jīvitatthaṁ paraporisānaṁ;
Matamhi ruṇṇaṁ na yaso na lokyaṁ,
Na vaṇṇitaṁ samaṇabrāhmaṇehi.
Cakkhuṁ sarīraṁ upahanti tena,
Nihīyati vaṇṇabalaṁ matī ca;
Ānandino tassa disā bhavanti,
Hitesino nāssa sukhī bhavanti.
Tasmā hi iccheyya kule vasante,
Medhāvino ceva bahussute ca;
Yesaṁ hi paññāvibhavena kiccaṁ,
Taranti nāvāya nadiṁva puṇṇan”ti.
… Mahākappino thero ….
If you’re prepared for the future,
both the good and the bad,
then those, whether enemies or well-wishers,
who examine you for weakness will see none.
One who has fulfilled, developed,
and gradually consolidated
mindfulness of breathing
as it was taught by the Buddha:
they light up the world,
like the moon freed from clouds.
Yes, my mind is clean,
limitless and well-developed;
it has broken through and been uplifted—
it radiates in every direction.
A wise person lives on
even after loss of wealth;
but without gaining wisdom,
even a rich person doesn’t really live.
Wisdom questions what is learned;
wisdom grows fame and reputation;
a person united with wisdom
finds happiness even among sufferings.
It’s not a teaching just for today;
it isn’t incredible or amazing.
When you’re born, you die—
what’s amazing about that?
For anyone who is born,
death always follows after life.
Everyone who is born here dies here;
such is the nature of living creatures.
The things that are useful for the living
are of no use for the dead—not fame, not celebrity,
not praise by ascetics and brahmins.
For the dead, there is only weeping.
And weeping impairs the eye and the body;
complexion, strength, and intelligence decline.
Your enemies rejoice;
but your well-wishers are not happy.
So you should wish that those who stay in your family
have intelligence and learning,
and do their duty through the power of wisdom,
just as you’d cross a full river by boat.
BJT 547“Người nào nhìn thấy trước tương lai, về sự việc có lợi, có hại, và cả hai điều ấy, những kẻ thù hoặc bạn bè của người ấy, trong khi tìm kiếm, không nhìn ra sự sơ hở (của người ấy).
BJT 548Niệm hơi thở vào hơi thở ra của vị nào được tròn đủ, khéo được tu tập, được tích lũy theo thứ lớp giống như điều đã được thuyết giảng bởi đức Phật, vị ấy chiếu sáng thế gian này, tựa như mặt trăng được thoát khỏi đám mây.
BJT 549Thật vậy, tâm của tôi trong trắng, không hạn lượng, đã được khéo tu tập, đã được thấu triệt, và đã được nắm chắc, nó chiếu sáng tất cả các phương.
BJT 550Người có trí tuệ cũng vẫn sinh tồn cho dầu có sự khánh tận về tài sản, nhưng với việc không đạt được trí tuệ, người có tài sản cũng không sinh tồn.
BJT 551Trí tuệ có sự phán xét điều đã được nghe, trí tuệ có sự làm tăng trưởng danh thơm tiếng tốt. Ở thế gian này, người sở hữu trí tuệ tìm thấy các niềm an lạc thậm chí ở những nỗi khổ đau.
BJT 552Quy luật này không phải (chỉ riêng) cho hôm nay, không là kỳ bí, cũng không bất thường. Bất luận ở đâu, sanh ra rồi chết; trong trường hợp ấy có điều gì là bất thường?
BJT 553Bởi vì đối với kẻ đã được sanh ra, sau sự sống thì có cái chết là điều chắc chắn, không bị gián đoạn. Ở đây, những ai được sanh ra đều chết, bởi vì các sanh mạng có quy luật tự nhiên như vậy.
BJT 554Bởi vì điều lợi ích cho mạng sống của những người khác không đem lại lợi ích ấy cho người đã chết. Việc than khóc về người đã chết không phải là tiếng tốt, không phải là sự trong sạch, không được các Sa-môn, Bà-la-môn khen ngợi.
BJT 555Việc than khóc hủy diệt con mắt và thân xác, còn dung nhan, sức lực, và trí óc bị tàn tạ. Những kẻ thù của người ấy trở nên mừng rỡ, những thân hữu của người này không được hạnh phúc.
BJT 556Chính vì thế, nên mong mỏi (có được) những người thông minh và luôn cả những người học rộng sống ở trong gia tộc, nhờ vào năng lực trí tuệ của chính những người ấy mà họ hoàn thành phận sự, tựa như nhờ vào chiếc thuyền mà vượt qua dòng sông ngập tràn.”
Đại đức trưởng lão Mahākappina đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Mahākappina.
“Anāgataṁ yo paṭikacca passati,
Hitañca atthaṁ ahitañca taṁ dvayaṁ;
Viddesino tassa hitesino vā,
Randhaṁ na passanti samekkhamānā.
Ānāpānasatī yassa,
paripuṇṇā subhāvitā;
Anupubbaṁ paricitā,
yathā buddhena desitā;
Somaṁ lokaṁ pabhāseti,
abbhā muttova candimā.
Odātaṁ vata me cittaṁ,
appamāṇaṁ subhāvitaṁ;
Nibbiddhaṁ paggahītañca,
sabbā obhāsate disā.
Jīvate vāpi sappañño,
api vittaparikkhayo;
Paññāya ca alābhena,
vittavāpi na jīvati.
Paññā sutavinicchinī,
Paññā kittisilokavaddhanī;
Paññāsahito naro idha,
Api dukkhesu sukhāni vindati.
Nāyaṁ ajjatano dhammo,
nacchero napi abbhuto;
Yattha jāyetha mīyetha,
tattha kiṁ viya abbhutaṁ.
Anantaraṁ hi jātassa,
jīvitā maraṇaṁ dhuvaṁ;
Jātā jātā marantīdha,
evaṁdhammā hi pāṇino.
Na hetadatthāya matassa hoti,
Yaṁ jīvitatthaṁ paraporisānaṁ;
Matamhi ruṇṇaṁ na yaso na lokyaṁ,
Na vaṇṇitaṁ samaṇabrāhmaṇehi.
Cakkhuṁ sarīraṁ upahanti tena,
Nihīyati vaṇṇabalaṁ matī ca;
Ānandino tassa disā bhavanti,
Hitesino nāssa sukhī bhavanti.
Tasmā hi iccheyya kule vasante,
Medhāvino ceva bahussute ca;
Yesaṁ hi paññāvibhavena kiccaṁ,
Taranti nāvāya nadiṁva puṇṇan”ti.
… Mahākappino thero ….