BJT 689“Bậc Toàn Giác, có bản thể nhân loại, đã chế ngự bản thân, được định tĩnh, trong khi cư xử theo đường lối Phạm hạnh, được thích thú trong sự tĩnh lặng của tâm.
BJT 690Mọi người lễ bái Ngài, bậc đã đi đến bờ kia của tất cả các pháp, chư Thiên cũng lễ bái Ngài, tôi đã được nghe như vậy từ bậc A-la-hán
BJT 691Ngài đã vượt qua tất cả các điều ràng buộc, từ khu rừng (phiền não) đã đi đến nơi không còn là rừng (Niết Bàn), được thích thú với việc xuất ly khỏi các dục, đã được giải thoát, tựa như vàng đã được thoát ra khỏi khối đá.
BJT 692Bậc Long Tượng ấy quả thật đã chói sáng vượt trội, tựa như núi Hi-mã-lạp chói sáng vượt trội các ngọn núi khác; trong số tất cả các vị được gọi là bậc long tượng, vị có tên Sự Thật là bậc không vượt hơn được.
BJT 693Tôi sẽ tán dương với quý vị về bậc Long Tượng, bởi vì Ngài không làm điều tội lỗi. Nhã nhặn và không hãm hại là hai chân (trước) của bậc Long Tượng ấy.
BJT 694Niệm và sự nhận biết rõ rệt là hai chân khác của bậc Long Tượng. Bậc Long Tượng khổng lồ có đức tin là cái vòi, có tâm xả là hai ngà màu trắng.
BJT 695Niệm là cần cổ, cái đầu là tuệ, việc xem xét là sự suy nghĩ về các pháp, cái bụng là nơi cư trú bình đẳng của các pháp, cái đuôi là sự ẩn cư của Long Tượng.
BJT 696Ngài chứng thiền, thích thú việc thở vào, khéo định tĩnh nội tâm. Bậc Long Tượng định tĩnh trong khi đi, bậc Long Tượng định tĩnh khi đứng.
BJT 697Bậc Long Tượng định tĩnh trong khi nằm, cũng định tĩnh khi ngồi xuống. Ở mọi nơi, bậc Long Tượng đã được thu thúc; điều này là sự thành đạt của bậc Long Tượng.
BJT 698Sau khi nhận được vật thực và y phục, trong khi lánh xa việc tích trữ, bậc Long Tượng thọ dụng các vật không lỗi lầm, không thọ dụng các vật lầm lỗi.
BJT 700Cũng giống như loài sen, được sanh ra ở nước, tăng trưởng, không bị lấm lem bởi nước, có hương thơm tinh khiết, làm thích ý.
BJT 701Và tương tự y như thế, đức Phật, được sanh ra ở đời, sống ở đời, không bị ô nhiễm bởi đời, giống như loài sen không bị lấm lem bởi nước.
BJT 702Đống lửa lớn cháy rực, không có nhiên liệu thì được lắng dịu, và khi các tro than được lặng yên thì được gọi là ‘tịch tịnh.’
BJT 703Ví dụ này, giúp cho hiểu rõ về ý nghĩa, đã được thuyết giảng bởi các bậc hiểu biết, các bậc Long Tượng vĩ đại sẽ hiểu được về bậc Long Tượng đã được thuyết giảng bởi bậc Long Tượng.
BJT 704Có luyến ái đã được xa lìa, có sân hận đã được xa lìa, có si mê đã được xa lìa, không còn lậu hoặc, trong khi dứt bỏ xác thân, bậc Long Tượng sẽ viên tịch Niết Bàn, không còn lậu hoặc.”
Đại đức trưởng lão Udāyi đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Udāyi.
TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
“Hai vị trưởng lão Koṇḍañña và Udāyi ấy có đại thần lực, ở nhóm mười sáu có ba mươi hai câu kệ.”
Nhóm Mười Sáu được chấm dứt.
“Manussabhūtaṁ sambuddhaṁ,
Attadantaṁ samāhitaṁ;
Iriyamānaṁ brahmapathe,
Cittassūpasame rataṁ.
Yaṁ manussā namassanti,
sabbadhammāna pāraguṁ;
Devāpi taṁ namassanti,
iti me arahato sutaṁ.
Sabbasaṁyojanātītaṁ,
vanā nibbanamāgataṁ;
Kāmehi nekkhammarataṁ,
muttaṁ selāva kañcanaṁ.
Sa ve accaruci nāgo,
himavāvaññe siluccaye;
Sabbesaṁ nāganāmānaṁ,
saccanāmo anuttaro.
Nāgaṁ vo kittayissāmi,
na hi āguṁ karoti so;
Soraccaṁ avihiṁsā ca,
pādā nāgassa te duve.
Sati ca sampajaññañca,
caraṇā nāgassa tepare;
Saddhāhattho mahānāgo,
upekkhāsetadantavā.
Sati gīvā siro paññā,
vīmaṁsā dhammacintanā;
Dhammakucchisamāvāso,
viveko tassa vāladhi.
So jhāyī assāsarato,
ajjhattaṁ susamāhito;
Gacchaṁ samāhito nāgo,
ṭhito nāgo samāhito.
Sayaṁ samāhito nāgo,
nisinnopi samāhito;
Sabbattha saṁvuto nāgo,
esā nāgassa sampadā.
Bhuñjati anavajjāni,
sāvajjāni na bhuñjati;
Ghāsamacchādanaṁ laddhā,
sannidhiṁ parivajjayaṁ.
Saṁyojanaṁ aṇuṁ thūlaṁ,
sabbaṁ chetvāna bandhanaṁ;
Yena yeneva gacchati,
anapekkhova gacchati.
Yathāpi udake jātaṁ,
puṇḍarīkaṁ pavaḍḍhati;
Nopalippati toyena,
sucigandhaṁ manoramaṁ.
Tatheva ca loke jāto,
buddho loke viharati;
Nopalippati lokena,
toyena padumaṁ yathā.
Mahāgini pajjalito,
anāhāropasammati;
Aṅgāresu ca santesu,
nibbutoti pavuccati.
Atthassāyaṁ viññāpanī,
upamā viññūhi desitā;
Viññissanti mahānāgā,
nāgaṁ nāgena desitaṁ.
Vītarāgo vītadoso,
Vītamoho anāsavo;
Sarīraṁ vijahaṁ nāgo,
Parinibbissatyanāsavo”ti.
… Udāyī thero …
Soḷasakanipāto niṭṭhito.
Tatruddānaṁ
Koṇḍañño ca udāyī ca,
therā dve te mahiddhikā;
Soḷasamhi nipātamhi,
gāthāyo dve ca tiṁsa cāti.
Awakened as a human being,
self-tamed and immersed in samādhi,
following the spiritual path,
he loves peace of mind.
Revered by people,
gone beyond all things,
even the gods revere him;
so I’ve heard from the perfected one.
He has transcended all fetters,
and escaped from entanglements.
Delighting to renounce sensual pleasures,
he’s freed like lustrous gold from stone.
That giant outshines all,
like the Himalaya beside other mountains.
Of all those named “giant”,
he is truly named, supreme.
I shall extol the giant for you,
for he does nothing monstrous.
gentleness and harmlessness
are two feet of the giant.
Mindfulness and awareness
are his two other feet.
Faith is the giant’s trunk,
and equanimity his white tusks.
Mindfulness is his neck, his head is wisdom—
investigation and thinking about principles.
His belly is the sacred hearth of the Dhamma,
and his tail is seclusion.
Practicing absorption, enjoying the breath,
he is serene within.
The giant is serene when walking,
the giant is serene when standing,
the giant is serene when lying down,
and when sitting, the giant is serene.
The giant is restrained everywhere:
this is the accomplishment of the giant.
He eats blameless things,
he doesn’t eat blameworthy things.
When he gets food and clothes,
he avoids storing them up.
Having severed all bonds,
fetters large and small,
wherever he goes,
he goes without concern.
A white lotus,
fragrant and delightful,
sprouts in water and grows there,
but the water doesn’t cling to it.
Just so the Buddha is born in the world,
and lives in the world,
but the world doesn’t stick to him,
as water does not stick to the lotus.
A great blazing fire
dies down when the fuel runs out.
And when the coals have gone out
it’s said to be “quenched”.
This simile is taught by the discerning
to express the meaning clearly.
Great giants will understand
what the giant taught the giant.
Free of greed, free of hate,
free of delusion, undefiled;
the giant, giving up his body,
undefiled, will be fully quenched.
BJT 689“Bậc Toàn Giác, có bản thể nhân loại, đã chế ngự bản thân, được định tĩnh, trong khi cư xử theo đường lối Phạm hạnh, được thích thú trong sự tĩnh lặng của tâm.
BJT 690Mọi người lễ bái Ngài, bậc đã đi đến bờ kia của tất cả các pháp, chư Thiên cũng lễ bái Ngài, tôi đã được nghe như vậy từ bậc A-la-hán
BJT 691Ngài đã vượt qua tất cả các điều ràng buộc, từ khu rừng (phiền não) đã đi đến nơi không còn là rừng (Niết Bàn), được thích thú với việc xuất ly khỏi các dục, đã được giải thoát, tựa như vàng đã được thoát ra khỏi khối đá.
BJT 692Bậc Long Tượng ấy quả thật đã chói sáng vượt trội, tựa như núi Hi-mã-lạp chói sáng vượt trội các ngọn núi khác; trong số tất cả các vị được gọi là bậc long tượng, vị có tên Sự Thật là bậc không vượt hơn được.
BJT 693Tôi sẽ tán dương với quý vị về bậc Long Tượng, bởi vì Ngài không làm điều tội lỗi. Nhã nhặn và không hãm hại là hai chân (trước) của bậc Long Tượng ấy.
BJT 694Niệm và sự nhận biết rõ rệt là hai chân khác của bậc Long Tượng. Bậc Long Tượng khổng lồ có đức tin là cái vòi, có tâm xả là hai ngà màu trắng.
BJT 695Niệm là cần cổ, cái đầu là tuệ, việc xem xét là sự suy nghĩ về các pháp, cái bụng là nơi cư trú bình đẳng của các pháp, cái đuôi là sự ẩn cư của Long Tượng.
BJT 696Ngài chứng thiền, thích thú việc thở vào, khéo định tĩnh nội tâm. Bậc Long Tượng định tĩnh trong khi đi, bậc Long Tượng định tĩnh khi đứng.
BJT 697Bậc Long Tượng định tĩnh trong khi nằm, cũng định tĩnh khi ngồi xuống. Ở mọi nơi, bậc Long Tượng đã được thu thúc; điều này là sự thành đạt của bậc Long Tượng.
BJT 698Sau khi nhận được vật thực và y phục, trong khi lánh xa việc tích trữ, bậc Long Tượng thọ dụng các vật không lỗi lầm, không thọ dụng các vật lầm lỗi.
BJT 700Cũng giống như loài sen, được sanh ra ở nước, tăng trưởng, không bị lấm lem bởi nước, có hương thơm tinh khiết, làm thích ý.
BJT 701Và tương tự y như thế, đức Phật, được sanh ra ở đời, sống ở đời, không bị ô nhiễm bởi đời, giống như loài sen không bị lấm lem bởi nước.
BJT 702Đống lửa lớn cháy rực, không có nhiên liệu thì được lắng dịu, và khi các tro than được lặng yên thì được gọi là ‘tịch tịnh.’
BJT 703Ví dụ này, giúp cho hiểu rõ về ý nghĩa, đã được thuyết giảng bởi các bậc hiểu biết, các bậc Long Tượng vĩ đại sẽ hiểu được về bậc Long Tượng đã được thuyết giảng bởi bậc Long Tượng.
BJT 704Có luyến ái đã được xa lìa, có sân hận đã được xa lìa, có si mê đã được xa lìa, không còn lậu hoặc, trong khi dứt bỏ xác thân, bậc Long Tượng sẽ viên tịch Niết Bàn, không còn lậu hoặc.”
Đại đức trưởng lão Udāyi đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Udāyi.
TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
“Hai vị trưởng lão Koṇḍañña và Udāyi ấy có đại thần lực, ở nhóm mười sáu có ba mươi hai câu kệ.”
Nhóm Mười Sáu được chấm dứt.
“Manussabhūtaṁ sambuddhaṁ,
Attadantaṁ samāhitaṁ;
Iriyamānaṁ brahmapathe,
Cittassūpasame rataṁ.
Yaṁ manussā namassanti,
sabbadhammāna pāraguṁ;
Devāpi taṁ namassanti,
iti me arahato sutaṁ.
Sabbasaṁyojanātītaṁ,
vanā nibbanamāgataṁ;
Kāmehi nekkhammarataṁ,
muttaṁ selāva kañcanaṁ.
Sa ve accaruci nāgo,
himavāvaññe siluccaye;
Sabbesaṁ nāganāmānaṁ,
saccanāmo anuttaro.
Nāgaṁ vo kittayissāmi,
na hi āguṁ karoti so;
Soraccaṁ avihiṁsā ca,
pādā nāgassa te duve.
Sati ca sampajaññañca,
caraṇā nāgassa tepare;
Saddhāhattho mahānāgo,
upekkhāsetadantavā.
Sati gīvā siro paññā,
vīmaṁsā dhammacintanā;
Dhammakucchisamāvāso,
viveko tassa vāladhi.
So jhāyī assāsarato,
ajjhattaṁ susamāhito;
Gacchaṁ samāhito nāgo,
ṭhito nāgo samāhito.
Sayaṁ samāhito nāgo,
nisinnopi samāhito;
Sabbattha saṁvuto nāgo,
esā nāgassa sampadā.
Bhuñjati anavajjāni,
sāvajjāni na bhuñjati;
Ghāsamacchādanaṁ laddhā,
sannidhiṁ parivajjayaṁ.
Saṁyojanaṁ aṇuṁ thūlaṁ,
sabbaṁ chetvāna bandhanaṁ;
Yena yeneva gacchati,
anapekkhova gacchati.
Yathāpi udake jātaṁ,
puṇḍarīkaṁ pavaḍḍhati;
Nopalippati toyena,
sucigandhaṁ manoramaṁ.
Tatheva ca loke jāto,
buddho loke viharati;
Nopalippati lokena,
toyena padumaṁ yathā.
Mahāgini pajjalito,
anāhāropasammati;
Aṅgāresu ca santesu,
nibbutoti pavuccati.
Atthassāyaṁ viññāpanī,
upamā viññūhi desitā;
Viññissanti mahānāgā,
nāgaṁ nāgena desitaṁ.
Vītarāgo vītadoso,
Vītamoho anāsavo;
Sarīraṁ vijahaṁ nāgo,
Parinibbissatyanāsavo”ti.
… Udāyī thero …
Soḷasakanipāto niṭṭhito.
Tatruddānaṁ
Koṇḍañño ca udāyī ca,
therā dve te mahiddhikā;
Soḷasamhi nipātamhi,
gāthāyo dve ca tiṁsa cāti.