BJT 279“Thật ghê tởm những thân xác, có mùi khó chịu, thuộc phe cánh Ma Vương, bị rò rỉ, ở thân thể của nàng có chín dòng chảy luôn luôn tuôn trào.
BJT 280Chớ nghĩ ngợi về các thân xác, chớ công kích các đức Như Lai. Ngay cả cõi trời, các vị cũng không bị luyến ái, vậy thì có điều gì ở loài người?
BJT 281Còn những kẻ nào ngu dốt, kém thông minh, có trí tồi, bị mê muội bao trùm, những kẻ như thế ấy bị luyến ái ở nơi ấy, ở sự trói buộc đã được Ma Vương bày ra.
BJT 282Những người nào có tham ái, sân hận, và vô minh đã được xa lìa, những người như thế ấy không bị luyến ái ở nơi ấy, có các sợi dây đã được cắt đứt, không còn sự trói buộc.”
Đại đức trưởng lão Nandaka đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Nandaka.
“Dhiratthu pūre duggandhe,
mārapakkhe avassute;
Navasotāni te kāye,
yāni sandanti sabbadā.
Mā purāṇaṁ amaññittho,
māsādesi tathāgate;
Saggepi te na rajjanti,
kimaṅgaṁ pana mānuse.
Ye ca kho bālā dummedhā,
dummantī mohapārutā;
Tādisā tattha rajjanti,
mārakhittamhi bandhane.
Yesaṁ rāgo ca doso ca,
avijjā ca virājitā;
Tādī tattha na rajjanti,
chinnasuttā abandhanā”ti.
… Nandako thero ….
Curse you mortal frame, you stink!
You’re on Māra’s side, you fester!
O body, you have nine streams
that are flowing all the time.
Don’t think much of mortal frames;
don’t disparage the Realized Ones.
They’re not even aroused by heaven,
let alone by humans.
But those who are fools and simpletons,
with bad advisors, shrouded in delusion,
that kind of person is aroused by bodies,
when Māra has laid down the snare.
Those in whom greed, hate, and ignorance
have faded away;
such people are not aroused by bodies,
they’ve cut the strings, unbound.
BJT 279“Thật ghê tởm những thân xác, có mùi khó chịu, thuộc phe cánh Ma Vương, bị rò rỉ, ở thân thể của nàng có chín dòng chảy luôn luôn tuôn trào.
BJT 280Chớ nghĩ ngợi về các thân xác, chớ công kích các đức Như Lai. Ngay cả cõi trời, các vị cũng không bị luyến ái, vậy thì có điều gì ở loài người?
BJT 281Còn những kẻ nào ngu dốt, kém thông minh, có trí tồi, bị mê muội bao trùm, những kẻ như thế ấy bị luyến ái ở nơi ấy, ở sự trói buộc đã được Ma Vương bày ra.
BJT 282Những người nào có tham ái, sân hận, và vô minh đã được xa lìa, những người như thế ấy không bị luyến ái ở nơi ấy, có các sợi dây đã được cắt đứt, không còn sự trói buộc.”
Đại đức trưởng lão Nandaka đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Nandaka.
“Dhiratthu pūre duggandhe,
mārapakkhe avassute;
Navasotāni te kāye,
yāni sandanti sabbadā.
Mā purāṇaṁ amaññittho,
māsādesi tathāgate;
Saggepi te na rajjanti,
kimaṅgaṁ pana mānuse.
Ye ca kho bālā dummedhā,
dummantī mohapārutā;
Tādisā tattha rajjanti,
mārakhittamhi bandhane.
Yesaṁ rāgo ca doso ca,
avijjā ca virājitā;
Tādī tattha na rajjanti,
chinnasuttā abandhanā”ti.
… Nandako thero ….