Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Như vầy tôi nghe, một thời Đức Phật trú tại Xá-vệ, trong vườn Kỳ-đà, rừng Cấp Cô Độc.
Lúc bấy giờ, nhiều vị Tỳ-kheo tập trung tại Pháp đường, và tất cả đang may y. Khi ấy, có một vị Tỳ-kheo trẻ, mới xuất gia không lâu và vừa thọ giới. Vị ấy ngồi giữa các Tỳ-kheo, nhưng không may y. Các Tỳ-kheo, sau khi hoàn tất việc may y, đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ dưới chân Ngài rồi ngồi xuống một bên. Họ bạch Đức Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Chúng con đang ngồi trong Pháp đường, may y, và vị Tỳ-kheo trẻ này ngồi giữa chúng con, không làm gì để may y cho Tăng chúng.” Đức Ph���t hỏi vị Tỳ-kheo trẻ: “Có thật là ngươi không giúp may y không?” Vị Tỳ-kheo thưa Đức Phật: “Bạch Thế Tôn! Con cũng đang nỗ lực làm phần việc của một Tỳ-kheo.” Thế Tôn biết rõ tâm tư của vị Tỳ-kheo và bảo các Tỳ-kheo khác: “Các ngươi không nên quở trách vị Tỳ-kheo trẻ này vì không làm việc. Vị Tỳ-kheo này đã làm xong việc cần làm, đã chứng A-la-hán, đã đoạn tận mọi phiền não, đã trút bỏ gánh nặng, và tìm thấy chánh trí. Tâm của vị ấy đã được giải thoát.”
Khi ấy, Đức Phật nói lên bài kệ này:
“Chân lý Niết-bàn của Ta
không phải là điều mà kẻ lười biếng và vô trí
có thể đạt được.
Như ngựa tốt,
hành giả ưu tú nhất
phá vỡ xiềng xích chấp trước,
đoạn tận mọi phiền não,
buông bỏ bốn sự chấp thủ,
chứng Niết-bàn,
có thể đánh bại quân Ma-vương,
mang thân cuối cùng.”
Khi Đức Phật đã thuyết xong, các Tỳ-kheo, sau khi nghe lời Ngài dạy, hoan hỷ và ghi nhớ kỹ.
如是我聞:
一時,佛在舍衛國祇樹給孤T 0376a16獨園。當于爾時,有眾多比丘集講堂中,各作T 0376a17衣服。時,有一年少比丘,出家未久,新受具戒,T 0376a18在僧中坐,不作僧衣。時,諸比丘作衣已訖,往T 0376a19至佛所,頂禮佛足,在一面坐。諸比丘白佛言:T 0376a20「世尊!我等比丘在講堂中裁作衣服,此年少T 0376a21比丘在僧中坐,不為眾僧造作衣服。」
佛告年T 0376a22少比丘言:「汝實不佐眾僧而作衣耶?」比丘白T 0376a23佛言:「世尊!我隨力所能,亦為僧作。」
爾時,世尊T 0376a24知彼比丘心之所念,告諸比丘:「汝等勿嫌年T 0376a25少比丘無所作也,彼比丘者,所作已辦,得阿T 0376a26羅漢,諸漏已盡,捨於重擔,獲於正智,心得解T 0376a27脫。」
爾時,世尊即說偈言:
T 0376a28
「我涅槃法, 終不為彼, 懈怠無智,T 0376a29
之所獲得。 猶如良馬, 上大丈夫,T 0376b01
斷除愛結, 盡諸煩惱。 除祛四取,T 0376b02
獲于寂滅, 能壞魔軍, 住最後身。」
T 0376b03佛說是已,諸比丘聞佛所說,歡喜奉行。
T 0376b04 SC 1Thus have I heard, once, the Buddha was staying at Sāvatthī in the Jeta Grove, the Anāthapiṇḍika Park.
SC 2It happened that at that time a great number of monks had gathered in the Dhamma hall, and all were making robes. At that time there was one young monk, who had only recently gone forth and had just received the precepts. He sat among the monks, but was not making robes. The monks, once finished with the robes, went to the Buddha, paid homage at his feet and sat to one side. They told the Buddha: “World-honored One! We monks were sitting in the Dhamma hall, stitching our robes and this young monk sat between us, not doing anything to make robes for the community.” The Buddha said to the young monk: “Is it true that you did not help with the robes?” The monk answered the Buddha: “World-honored One! I too was striving to do my part of the monk’s work.” The World-honored One knew what the monk was thinking and told the other monks: “You should not reprimand this young monk for not working. This monk has done what is to be done, attained Arahatship, ended all defilements, cast off the heavy burden, and found right knowledge. His mind is liberated.”
At that time the Buddha spoke a verse:
SC 3“This nirvāṇic truth of mine /
is not something those
lazy and without knowledge /
can attain.
SC 4Like a good horse /
the best practitioner
breaks the fetter of attachment /
ends all defilements,
gives up the fourfold clinging /
attains Nirvāṇa,
can defeat Māra’s armies /
wears the final body.”
SC 5When the Buddha had finished speaking, the monks, having listened to what he had said, were happy and remembered it well.
Như vầy tôi nghe, một thời Đức Phật trú tại Xá-vệ, trong vườn Kỳ-đà, rừng Cấp Cô Độc.
Lúc bấy giờ, nhiều vị Tỳ-kheo tập trung tại Pháp đường, và tất cả đang may y. Khi ấy, có một vị Tỳ-kheo trẻ, mới xuất gia không lâu và vừa thọ giới. Vị ấy ngồi giữa các Tỳ-kheo, nhưng không may y. Các Tỳ-kheo, sau khi hoàn tất việc may y, đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ dưới chân Ngài rồi ngồi xuống một bên. Họ bạch Đức Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Chúng con đang ngồi trong Pháp đường, may y, và vị Tỳ-kheo trẻ này ngồi giữa chúng con, không làm gì để may y cho Tăng chúng.” Đức Ph���t hỏi vị Tỳ-kheo trẻ: “Có thật là ngươi không giúp may y không?” Vị Tỳ-kheo thưa Đức Phật: “Bạch Thế Tôn! Con cũng đang nỗ lực làm phần việc của một Tỳ-kheo.” Thế Tôn biết rõ tâm tư của vị Tỳ-kheo và bảo các Tỳ-kheo khác: “Các ngươi không nên quở trách vị Tỳ-kheo trẻ này vì không làm việc. Vị Tỳ-kheo này đã làm xong việc cần làm, đã chứng A-la-hán, đã đoạn tận mọi phiền não, đã trút bỏ gánh nặng, và tìm thấy chánh trí. Tâm của vị ấy đã được giải thoát.”
Khi ấy, Đức Phật nói lên bài kệ này:
“Chân lý Niết-bàn của Ta
không phải là điều mà kẻ lười biếng và vô trí
có thể đạt được.
Như ngựa tốt,
hành giả ưu tú nhất
phá vỡ xiềng xích chấp trước,
đoạn tận mọi phiền não,
buông bỏ bốn sự chấp thủ,
chứng Niết-bàn,
có thể đánh bại quân Ma-vương,
mang thân cuối cùng.”
Khi Đức Phật đã thuyết xong, các Tỳ-kheo, sau khi nghe lời Ngài dạy, hoan hỷ và ghi nhớ kỹ.
SC 1Thus have I heard, once, the Buddha was staying at Sāvatthī in the Jeta Grove, the Anāthapiṇḍika Park.
SC 2It happened that at that time a great number of monks had gathered in the Dhamma hall, and all were making robes. At that time there was one young monk, who had only recently gone forth and had just received the precepts. He sat among the monks, but was not making robes. The monks, once finished with the robes, went to the Buddha, paid homage at his feet and sat to one side. They told the Buddha: “World-honored One! We monks were sitting in the Dhamma hall, stitching our robes and this young monk sat between us, not doing anything to make robes for the community.” The Buddha said to the young monk: “Is it true that you did not help with the robes?” The monk answered the Buddha: “World-honored One! I too was striving to do my part of the monk’s work.” The World-honored One knew what the monk was thinking and told the other monks: “You should not reprimand this young monk for not working. This monk has done what is to be done, attained Arahatship, ended all defilements, cast off the heavy burden, and found right knowledge. His mind is liberated.”
At that time the Buddha spoke a verse:
SC 3“This nirvāṇic truth of mine /
is not something those
lazy and without knowledge /
can attain.
SC 4Like a good horse /
the best practitioner
breaks the fetter of attachment /
ends all defilements,
gives up the fourfold clinging /
attains Nirvāṇa,
can defeat Māra’s armies /
wears the final body.”
SC 5When the Buddha had finished speaking, the monks, having listened to what he had said, were happy and remembered it well.