TTC 1Bấy giờ có du sĩ Ajita đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, du sĩ Ajita nói với Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi có người đồng Phạm hạnh là vị Hiền trí, vị này có nghĩ đến năm trăm tâm xứ. Với những tâm xứ ấy, các người ngoại đạo khi bị cật nạn, biết rằng: “Chúng tôi đang bị cật nạn”. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, các Thầy có thọ trì những căn bản địa của bậc Hiền trí không?
—Bạch Thế Tôn, nay đến thời, bạch Thiện Thệ, nay đến thời Thế Tôn thuyết. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
—Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người với lời phi pháp, bài xích, công kích lời phi pháp. Với lời ấy, vị ấy kích thích một hội chúng phi pháp đến la cao tiếng, lớn tiếng rằng: “Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! “.
TTC 3Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có người với lời phi pháp bài xích, công kích lời đúng pháp. Với lời ấy, vị ấy kích thích một hội chúng phi pháp đến la cao tiếng, lớn tiếng rằng: “Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! “.
TTC 4Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có người với lời phi pháp bài xích, công kích lời đúng pháp và lời phi pháp. Với lời ấy, vị ấy kích thích một hội chúng phi pháp đến la cao tiếng, lớn tiếng rằng: “Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! “.
TTC 5Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có người với lời đúng pháp bài xích, công kích lời phi pháp. Với lời ấy, vị ấy kích thích một hội chúng phi pháp đến la cao tiếng, lớn tiếng rằng: “Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! “.
TTC 6Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết; phi mục đích và mục đích, cần phải hiểu biết; phi mục đích và mục đích, cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy, cần phải thực hành. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là phi pháp, thế nào là pháp, thế nào là phi mục đích, thế nào là mục đích?
TTC 7Tà kiến, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh kiến là pháp, do duyên tà kiến, các pháp ác bất thiện nào khởi lên, đây là phi mục đích; do duyên chánh kiến, các pháp thiện đi đến viên mãn trong tu tập, đây là mục đích. Tà tư duy, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh tư duy là pháp… Tà ngữ, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh ngữ là pháp… Tà nghiệp, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh nghiệp là pháp… Tà mạng, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh mạng là pháp… Tà tinh tấn, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh tinh tấn là pháp… Tà niệm, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh niệm là pháp… Tà định, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh định là pháp… Tà trí, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh trí là pháp… Tà giải thoát, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh giải thoát là pháp. Do duyên tà giải thoát, các pháp ác bất thiện nào khởi lên, đây là phi mục đích. Do duyên chánh giải thoát, các pháp thiện đi đến viên mãn trong tu tập, đây là mục đích.
Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết. Phi mục đích và mục đích, cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy, cần phải thực hành. Ðược nói đến như vậy, do duyên này được nói đến như vậy.
Atha kho ajito paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho ajito paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“Amhākaṁ, bho gotama, paṇḍito nāma sabrahmacārī.
Tena pañcamattāni cittaṭṭhānasatāni cintitāni, yehi aññatitthiyā upāraddhāva jānanti upāraddhasmā”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“dhāretha no tumhe, bhikkhave, paṇḍitavatthūnī”ti?
“Etassa, bhagavā, kālo etassa, sugata, kālo
yaṁ bhagavā bhāseyya, bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tena hi, bhikkhave, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Idha, bhikkhave, ekacco adhammikena vādena adhammikaṁ vādaṁ abhiniggaṇhāti abhinippīḷeti, tena ca adhammikaṁ parisaṁ rañjeti.
Tena sā adhammikā parisā uccāsaddamahāsaddā hoti:
‘paṇḍito vata bho, paṇḍito vata bho’ti.
Idha pana, bhikkhave, ekacco adhammikena vādena dhammikaṁ vādaṁ abhiniggaṇhāti abhinippīḷeti, tena ca adhammikaṁ parisaṁ rañjeti.
Tena sā adhammikā parisā uccāsaddamahāsaddā hoti:
‘paṇḍito vata bho, paṇḍito vata bho’ti.
Idha pana, bhikkhave, ekacco adhammikena vādena dhammikañca vādaṁ adhammikañca vādaṁ abhiniggaṇhāti abhinippīḷeti, tena ca adhammikaṁ parisaṁ rañjeti.
Tena sā adhammikā parisā uccāsaddamahāsaddā hoti:
‘paṇḍito vata bho, paṇḍito vata bho’ti.
Adhammo ca, bhikkhave, veditabbo dhammo ca;
anattho ca veditabbo attho ca.
Adhammañca viditvā dhammañca, anatthañca viditvā atthañca yathā dhammo yathā attho tathā paṭipajjitabbaṁ.
Katamo ca, bhikkhave, adhammo, katamo ca dhammo, katamo ca anattho, katamo ca attho?
Micchādiṭṭhi, bhikkhave, adhammo;
sammādiṭṭhi dhammo;
ye ca micchādiṭṭhipaccayā aneke pāpakā akusalā dhammā sambhavanti, ayaṁ anattho;
sammādiṭṭhipaccayā ca aneke kusalā dhammā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, ayaṁ attho.
Micchāsaṅkappo, bhikkhave, adhammo;
sammāsaṅkappo dhammo …
micchāvācā, bhikkhave, adhammo;
sammāvācā dhammo …
micchākammanto, bhikkhave, adhammo;
sammākammanto dhammo …
micchāājīvo, bhikkhave, adhammo;
sammāājīvo dhammo …
micchāvāyāmo, bhikkhave, adhammo;
sammāvāyāmo dhammo …
micchāsati, bhikkhave, adhammo;
sammāsati dhammo …
micchāsamādhi, bhikkhave adhammo;
sammāsamādhi dhammo …
micchāñāṇaṁ, bhikkhave, adhammo;
sammāñāṇaṁ dhammo.
Micchāvimutti, bhikkhave, adhammo;
sammāvimutti dhammo;
ye ca micchāvimuttipaccayā aneke pāpakā akusalā dhammā sambhavanti, ayaṁ anattho;
sammāvimuttipaccayā ca aneke kusalā dhammā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, ayaṁ attho.
‘Adhammo ca, bhikkhave, veditabbo dhammo ca;
anattho ca veditabbo attho ca.
Adhammañca viditvā dhammañca, anatthañca viditvā atthañca yathā dhammo yathā attho tathā paṭipajjitabban’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttan”ti.
Catutthaṁ.
Then the wanderer Ajita went up to the Buddha, and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha,
“Worthy Gotama, we have a spiritual companion called ‘Astute’.
He has worked out around five hundred arguments by which followers of other religions will know when they’ve been refuted.”
Then the Buddha said to the mendicants,
“Mendicants, do you remember this Astute’s points?”
“Now is the time, Blessed One! Now is the time, Holy One!
Let the Buddha speak and the mendicants will remember it.”
“Well then, mendicants, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied.
The Buddha said this:
“Mendicants, take a certain someone who rebuts and quashes unprincipled statements with unprincipled statements. This delights an unprincipled assembly,
who make a colossal racket:
‘He is truly astute! He is truly astute!’
Someone else rebuts and quashes principled statements with unprincipled statements. This delights an unprincipled assembly,
who make a colossal racket:
‘He is truly astute! He is truly astute!’
Someone else rebuts and quashes principled and unprincipled statements with unprincipled statements. This delights an unprincipled assembly,
who make a colossal racket:
‘He is truly astute! He is truly astute!’
Mendicants, you should know bad principles and good principles.
And you should know bad results and good results.
Knowing these things, your practice should follow the good principles with good results.
So what are bad principles? What are good principles? What are bad results? And what are good results?
Wrong view is a bad principle.
Right view is a good principle.
And the many bad, unskillful qualities produced by wrong view are bad results.
And the many skillful qualities fully developed because of right view are good results.
Wrong purpose is a bad principle.
Right purpose is a good principle. …
Wrong speech is a bad principle.
Right speech is a good principle. …
Wrong action is a bad principle.
Right action is a good principle. …
Wrong livelihood is a bad principle.
Right livelihood is a good principle. …
Wrong effort is a bad principle.
Right effort is a good principle. …
Wrong mindfulness is a bad principle.
Right mindfulness is a good principle. …
Wrong immersion is a bad principle.
Right immersion is a good principle. …
Wrong knowledge is a bad principle.
Right knowledge is a good principle. …
Wrong freedom is a bad principle.
Right freedom is a good principle.
And the many bad, unskillful qualities produced by wrong freedom are bad results.
And the many skillful qualities fully developed because of right freedom are good results.
‘You should know bad principles and good principles.
And you should know bad results and good results.
Knowing these things, your practice should follow the good principles with good results.’
That’s what I said, and this is why I said it.”
TTC 1Bấy giờ có du sĩ Ajita đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, du sĩ Ajita nói với Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi có người đồng Phạm hạnh là vị Hiền trí, vị này có nghĩ đến năm trăm tâm xứ. Với những tâm xứ ấy, các người ngoại đạo khi bị cật nạn, biết rằng: “Chúng tôi đang bị cật nạn”. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, các Thầy có thọ trì những căn bản địa của bậc Hiền trí không?
—Bạch Thế Tôn, nay đến thời, bạch Thiện Thệ, nay đến thời Thế Tôn thuyết. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
—Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người với lời phi pháp, bài xích, công kích lời phi pháp. Với lời ấy, vị ấy kích thích một hội chúng phi pháp đến la cao tiếng, lớn tiếng rằng: “Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! “.
TTC 3Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có người với lời phi pháp bài xích, công kích lời đúng pháp. Với lời ấy, vị ấy kích thích một hội chúng phi pháp đến la cao tiếng, lớn tiếng rằng: “Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! “.
TTC 4Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có người với lời phi pháp bài xích, công kích lời đúng pháp và lời phi pháp. Với lời ấy, vị ấy kích thích một hội chúng phi pháp đến la cao tiếng, lớn tiếng rằng: “Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! “.
TTC 5Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có người với lời đúng pháp bài xích, công kích lời phi pháp. Với lời ấy, vị ấy kích thích một hội chúng phi pháp đến la cao tiếng, lớn tiếng rằng: “Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! “.
TTC 6Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết; phi mục đích và mục đích, cần phải hiểu biết; phi mục đích và mục đích, cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy, cần phải thực hành. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là phi pháp, thế nào là pháp, thế nào là phi mục đích, thế nào là mục đích?
TTC 7Tà kiến, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh kiến là pháp, do duyên tà kiến, các pháp ác bất thiện nào khởi lên, đây là phi mục đích; do duyên chánh kiến, các pháp thiện đi đến viên mãn trong tu tập, đây là mục đích. Tà tư duy, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh tư duy là pháp… Tà ngữ, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh ngữ là pháp… Tà nghiệp, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh nghiệp là pháp… Tà mạng, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh mạng là pháp… Tà tinh tấn, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh tinh tấn là pháp… Tà niệm, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh niệm là pháp… Tà định, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh định là pháp… Tà trí, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh trí là pháp… Tà giải thoát, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh giải thoát là pháp. Do duyên tà giải thoát, các pháp ác bất thiện nào khởi lên, đây là phi mục đích. Do duyên chánh giải thoát, các pháp thiện đi đến viên mãn trong tu tập, đây là mục đích.
Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết. Phi mục đích và mục đích, cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy, cần phải thực hành. Ðược nói đến như vậy, do duyên này được nói đến như vậy.
Atha kho ajito paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho ajito paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“Amhākaṁ, bho gotama, paṇḍito nāma sabrahmacārī.
Tena pañcamattāni cittaṭṭhānasatāni cintitāni, yehi aññatitthiyā upāraddhāva jānanti upāraddhasmā”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“dhāretha no tumhe, bhikkhave, paṇḍitavatthūnī”ti?
“Etassa, bhagavā, kālo etassa, sugata, kālo
yaṁ bhagavā bhāseyya, bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tena hi, bhikkhave, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Idha, bhikkhave, ekacco adhammikena vādena adhammikaṁ vādaṁ abhiniggaṇhāti abhinippīḷeti, tena ca adhammikaṁ parisaṁ rañjeti.
Tena sā adhammikā parisā uccāsaddamahāsaddā hoti:
‘paṇḍito vata bho, paṇḍito vata bho’ti.
Idha pana, bhikkhave, ekacco adhammikena vādena dhammikaṁ vādaṁ abhiniggaṇhāti abhinippīḷeti, tena ca adhammikaṁ parisaṁ rañjeti.
Tena sā adhammikā parisā uccāsaddamahāsaddā hoti:
‘paṇḍito vata bho, paṇḍito vata bho’ti.
Idha pana, bhikkhave, ekacco adhammikena vādena dhammikañca vādaṁ adhammikañca vādaṁ abhiniggaṇhāti abhinippīḷeti, tena ca adhammikaṁ parisaṁ rañjeti.
Tena sā adhammikā parisā uccāsaddamahāsaddā hoti:
‘paṇḍito vata bho, paṇḍito vata bho’ti.
Adhammo ca, bhikkhave, veditabbo dhammo ca;
anattho ca veditabbo attho ca.
Adhammañca viditvā dhammañca, anatthañca viditvā atthañca yathā dhammo yathā attho tathā paṭipajjitabbaṁ.
Katamo ca, bhikkhave, adhammo, katamo ca dhammo, katamo ca anattho, katamo ca attho?
Micchādiṭṭhi, bhikkhave, adhammo;
sammādiṭṭhi dhammo;
ye ca micchādiṭṭhipaccayā aneke pāpakā akusalā dhammā sambhavanti, ayaṁ anattho;
sammādiṭṭhipaccayā ca aneke kusalā dhammā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, ayaṁ attho.
Micchāsaṅkappo, bhikkhave, adhammo;
sammāsaṅkappo dhammo …
micchāvācā, bhikkhave, adhammo;
sammāvācā dhammo …
micchākammanto, bhikkhave, adhammo;
sammākammanto dhammo …
micchāājīvo, bhikkhave, adhammo;
sammāājīvo dhammo …
micchāvāyāmo, bhikkhave, adhammo;
sammāvāyāmo dhammo …
micchāsati, bhikkhave, adhammo;
sammāsati dhammo …
micchāsamādhi, bhikkhave adhammo;
sammāsamādhi dhammo …
micchāñāṇaṁ, bhikkhave, adhammo;
sammāñāṇaṁ dhammo.
Micchāvimutti, bhikkhave, adhammo;
sammāvimutti dhammo;
ye ca micchāvimuttipaccayā aneke pāpakā akusalā dhammā sambhavanti, ayaṁ anattho;
sammāvimuttipaccayā ca aneke kusalā dhammā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, ayaṁ attho.
‘Adhammo ca, bhikkhave, veditabbo dhammo ca;
anattho ca veditabbo attho ca.
Adhammañca viditvā dhammañca, anatthañca viditvā atthañca yathā dhammo yathā attho tathā paṭipajjitabban’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttan”ti.
Catutthaṁ.