TTC 1—Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy hay có nghe như sau không: “Người này đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh. Rồi do nhân từ bỏ sát sanh, các vua bắt người ấy sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Ta cũng không thấy, cũng không nghe như sau: “Người này đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh. Rồi do nhân từ bỏ sát sanh, các vua bắt người ấy sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn!” Nhưng nếu có người nói về ác nghiệp của người ấy như sau: “Người này sát hại sinh mạng của nữ nhân hay nam nhân”. Rồi các vua bắt người ấy, do nhân sát hại sinh mạng, sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”. Các Thầy có thấy như vậy, hay nghe như vậy chăng?
—Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy và nghe như vậy. Và sẽ được nghe như vậy nữa.
TTC 2—Này các Tỷ-kheo, các Thầy nghĩ thế nào, các Thầy có thấy hay có nghe như sau không: “Người này đoạn tận lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho. Rồi các vua bắt người ấy, do nhân từ bỏ lấy của không cho, sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Ta cũng không thấy, cũng không nghe như sau: “Người này đoạn tận lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho. Rồi các vua bắt người ấy, do nhân từ bỏ lấy của không cho, sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”. Nhưng nếu có người nói về ác nghiệp của người ấy như sau: “Người này lấy của không cho gọi là ăn trộm, từ làng hay từ khu rừng. Rồi các vua bắt người ấy, do duyên lấy của không cho, sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”. Các Thầy có thấy như vậy, hay nghe như vậy chăng?
—Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy và có nghe như vậy. Và sẽ được nghe như vậy nữa.
TTC 3—Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy hay có nghe như sau không: “Người này đoạn tận tà hạnh trong các dục, từ bỏ tà hạnh trong các dục. Rồi các vua bắt người ấy, do nhân từ bỏ tà hạnh trong các dục, sát hại, hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Ta cũng không thấy, cũng không nghe như sau: “Người này đoạn tận tà hạnh trong các dục, từ bỏ tà hạnh trong các dục. Rồi các vua bắt người ấy, do nhân từ bỏ tà hạnh trong các dục, sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn!” Nhưng nếu có người nói về ác nghiệp của người ấy như sau: “Người này có tà hạnh với những người đàn bà của người khác, với những thiếu nữ của người khác. Rồi các vua bắt người ấy, do nhân tà hạnh trong các dục, sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”. Các Thầy có thấy như vậy, hay có nghe như vậy chăng?
—Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy và có nghe như vậy. Và sẽ được nghe như vậy nữa.
TTC 4—Này các Tỷ-kheo, các Thầy nghĩ thế nào, các Thầy có thấy và có nghe như sau không: “Người này đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo. Rồi các vua bắt người ấy, do nhân từ bỏ nói láo, sát hại, hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Ta cũng không thấy, cũng không nghe như sau: “Người này đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo. Rồi các vua chúa bắt người ấy, do nhân từ bỏ nói láo, sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”. Nhưng nếu có người nói về ác nghiệp của người ấy như sau: “Người này do nói láo, phá hoại hạnh phúc của người gia chủ hay con người gia chủ”. Rồi các vua bắt người ấy, và do nhân nói láo, sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”. Các Thầy có thấy như vậy hay có nghe như vậy chăng?
—Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy và nghe như vậy. Và sẽ được nghe như vậy nữa.
TTC 5—Này các Tỷ-kheo, các Thầy nghĩ thế nào, các Thầy có thấy hay có nghe như sau không: “Người này đoạn tận đắm say rượu men, rượu nấu. Rồi các vua bắt người ấy, do nhân từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu, sát hại, bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Ta cũng không thấy, cũng không nghe như sau: “Người này đoạn tận đắm say rượu men rượu nấu. Rồi các vua chúa bắt người ấy, do nhân từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu, sát hại, hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”. Nhưng nếu có người nói về ác nghiệp của người ấy như sau: “Người này do đắm say rượu men rượu nấu, lấy của không cho, gọi là ăn trộm từ làng hay từ khu rừng; người này do nhân đắm say rượu men rượu nấu, có tà hạnh đối với những nữ nhân của các người khác, đối với các thiếu nữ của những người khác; người này do nhân đắm say rượu men rượu nấu, nói láo, phá hoại hạnh phúc người gia chủ hay con người gia chủ. Rồi các vua bắt người ấy, do nhân đắm say rượu men rượu nấu, sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”. Các Thầy có thấy như vậy, có nghe như vậy chăng?
—Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy, có nghe như vậy và sẽ được nghe như vậy nữa.
“Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu tumhehi diṭṭhaṁ vā sutaṁ vā:
‘ayaṁ puriso pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭiviratoti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā pāṇātipātā veramaṇihetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karontī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave.
Mayāpi kho etaṁ, bhikkhave, neva diṭṭhaṁ na sutaṁ:
‘ayaṁ puriso pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭiviratoti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā pāṇātipātā veramaṇihetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karontī’ti.
Api ca khvassa tatheva pāpakammaṁ pavedenti:
‘ayaṁ puriso itthiṁ vā purisaṁ vā jīvitā voropesīti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā pāṇātipātahetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karonti.
Api nu tumhehi evarūpaṁ diṭṭhaṁ vā sutaṁ vā’”ti?
“Diṭṭhañca no, bhante, sutañca suyyissati cā”ti.
“Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu tumhehi diṭṭhaṁ vā sutaṁ vā:
‘ayaṁ puriso adinnādānaṁ pahāya adinnādānā paṭiviratoti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā adinnādānā veramaṇihetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karontī’”ti?
“No hetaṁ bhante”.
“Sādhu, bhikkhave.
Mayāpi kho etaṁ, bhikkhave, neva diṭṭhaṁ na sutaṁ:
‘ayaṁ puriso adinnādānaṁ pahāya adinnādānā paṭiviratoti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā adinnādānā veramaṇihetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karontī’ti.
Api ca khvassa tatheva pāpakammaṁ pavedenti:
‘ayaṁ puriso gāmā vā araññā vā adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyīti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā adinnādānahetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karonti.
Api nu tumhehi evarūpaṁ diṭṭhaṁ vā sutaṁ vā’”ti?
“Diṭṭhañca no, bhante, sutañca suyyissati cā”ti.
“Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu tumhehi diṭṭhaṁ vā sutaṁ vā:
‘ayaṁ puriso kāmesumicchācāraṁ pahāya kāmesumicchācārā paṭiviratoti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā kāmesumicchācārā veramaṇihetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karontī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave.
Mayāpi kho etaṁ, bhikkhave, neva diṭṭhaṁ na sutaṁ:
‘ayaṁ puriso kāmesumicchācāraṁ pahāya kāmesumicchācārā paṭiviratoti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā kāmesumicchācārā veramaṇihetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karontī’ti.
Api ca khvassa tatheva pāpakammaṁ pavedenti:
‘ayaṁ puriso paritthīsu parakumārīsu cārittaṁ āpajjīti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā kāmesumicchācārahetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karonti.
Api nu tumhehi evarūpaṁ diṭṭhaṁ vā sutaṁ vā’”ti?
“Diṭṭhañca no, bhante, sutañca suyyissati cā”ti.
“Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu tumhehi diṭṭhaṁ vā sutaṁ vā:
‘ayaṁ puriso musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭiviratoti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā musāvādā veramaṇihetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karontī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave.
Mayāpi kho etaṁ, bhikkhave, neva diṭṭhaṁ na sutaṁ:
‘ayaṁ puriso musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭiviratoti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā musāvādā veramaṇihetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karontī’ti.
Api ca khvassa tatheva pāpakammaṁ pavedenti:
‘ayaṁ puriso gahapatissa vā gahapatiputtassa vā musāvādena atthaṁ pabhañjīti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā musāvādahetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karonti.
Api nu tumhehi evarūpaṁ diṭṭhaṁ vā sutaṁ vā’”ti?
“Diṭṭhañca no, bhante, sutañca suyyissati cā”ti.
“Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu tumhehi diṭṭhaṁ vā sutaṁ vā:
‘ayaṁ puriso surāmerayamajjapamādaṭṭhānaṁ pahāya surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭiviratoti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā surāmerayamajjapamādaṭṭhānā veramaṇihetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karontī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave.
Mayāpi kho etaṁ, bhikkhave, neva diṭṭhaṁ na sutaṁ:
‘ayaṁ puriso surāmerayamajjapamādaṭṭhānaṁ pahāya surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭiviratoti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā surāmerayamajjapamādaṭṭhānā veramaṇihetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karontī’ti.
Api ca khvassa tatheva pāpakammaṁ pavedenti:
‘ayaṁ puriso surāmerayamajjapamādaṭṭhānaṁ anuyutto itthiṁ vā purisaṁ vā jīvitā voropesi;
ayaṁ puriso surāmerayamajjapamādaṭṭhānaṁ anuyutto gāmā vā araññā vā adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyi;
ayaṁ puriso surāmerayamajjapamādaṭṭhānaṁ anuyutto paritthīsu parakumārīsu cārittaṁ āpajji;
ayaṁ puriso surāmerayamajjapamādaṭṭhānaṁ anuyutto gahapatissa vā gahapatiputtassa vā musāvādena atthaṁ pabhañjīti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā surāmerayamajjapamādaṭṭhānahetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karonti.
Api nu tumhehi evarūpaṁ diṭṭhaṁ vā sutaṁ vā’”ti?
“Diṭṭhañca no, bhante, sutañca suyyissati cā”ti.
Aṭṭhamaṁ.
“What do you think, mendicants?
Have you ever seen or heard
of a person who has given up killing living creatures,
and the kings have them arrested for that, and execute, imprison, or banish them, or do what the case requires?”
“No, sir.”
“Good, mendicants!
I too have never seen or heard of such a thing.
Rather, the kings are informed of someone’s bad deed:
‘This person has murdered a man or a woman.’
The kings have them arrested for killing, and execute, imprison, or banish them, or do what the case requires.
Have you ever seen or heard of such a case?”
“Sir, we have seen it and heard of it, and we will hear of it again.”
“What do you think, mendicants?
Have you ever seen or heard
of a person who has given up stealing,
and the kings have them arrested for that …?”
“No, sir.”
“Good, mendicants!
I too have never seen or heard of such a thing.
Rather, the kings are informed of someone’s bad deed:
‘This person took something from a village or wilderness, with the intention to commit theft.’
The kings have them arrested for stealing …
Have you ever seen or heard of such a case?”
“Sir, we have seen it and heard of it, and we will hear of it again.”
“What do you think, mendicants?
Have you ever seen or heard
of a person who has given up sexual misconduct,
and the kings have them arrested for that …?”
“No, sir.”
“Good, mendicants!
I too have never seen or heard of such a thing.
Rather, the kings are informed of someone’s bad deed:
‘This person had sexual relations with women or maidens under someone else’s protection.’
The kings have them arrested for that …
Have you ever seen or heard of such a case?”
“Sir, we have seen it and heard of it, and we will hear of it again.”
“What do you think, mendicants?
Have you ever seen or heard
of a person who has given up lying,
and the kings have them arrested for that …?”
“No, sir.”
“Good, mendicants!
I too have never seen or heard of such a thing.
Rather, the kings are informed of someone’s bad deed:
‘This person has ruined a householder or householder’s child by lying.’
The kings have them arrested for that …
Have you ever seen or heard of such a case?”
“Sir, we have seen it and heard of it, and we will hear of it again.”
“What do you think, mendicants?
Have you ever seen or heard
of a person who has given up beer, wine, and liquor intoxicants,
and the kings have them arrested for that, and execute, imprison, or banish them, or do what the case requires?”
“No, sir.”
“Good, mendicants!
I too have never seen or heard of such a thing.
Rather, the kings are informed of someone’s bad deed:
‘While under the influence of beer, wine, and liquor intoxicants, this person murdered a woman or a man.
Or they stole something from a village or wilderness.
Or they had sexual relations with women or maidens under someone else’s protection.
Or they ruined a householder or householder’s child by lying.’
The kings have them arrested for being under the influence of beer, wine, and liquor intoxicants, and execute, imprison, or banish them, or do what the case requires.
Have you ever seen or heard of such a case?”
“Sir, we have seen it and heard of it, and we will hear of it again.”
TTC 1—Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy hay có nghe như sau không: “Người này đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh. Rồi do nhân từ bỏ sát sanh, các vua bắt người ấy sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Ta cũng không thấy, cũng không nghe như sau: “Người này đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh. Rồi do nhân từ bỏ sát sanh, các vua bắt người ấy sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn!” Nhưng nếu có người nói về ác nghiệp của người ấy như sau: “Người này sát hại sinh mạng của nữ nhân hay nam nhân”. Rồi các vua bắt người ấy, do nhân sát hại sinh mạng, sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”. Các Thầy có thấy như vậy, hay nghe như vậy chăng?
—Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy và nghe như vậy. Và sẽ được nghe như vậy nữa.
TTC 2—Này các Tỷ-kheo, các Thầy nghĩ thế nào, các Thầy có thấy hay có nghe như sau không: “Người này đoạn tận lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho. Rồi các vua bắt người ấy, do nhân từ bỏ lấy của không cho, sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Ta cũng không thấy, cũng không nghe như sau: “Người này đoạn tận lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho. Rồi các vua bắt người ấy, do nhân từ bỏ lấy của không cho, sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”. Nhưng nếu có người nói về ác nghiệp của người ấy như sau: “Người này lấy của không cho gọi là ăn trộm, từ làng hay từ khu rừng. Rồi các vua bắt người ấy, do duyên lấy của không cho, sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”. Các Thầy có thấy như vậy, hay nghe như vậy chăng?
—Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy và có nghe như vậy. Và sẽ được nghe như vậy nữa.
TTC 3—Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy hay có nghe như sau không: “Người này đoạn tận tà hạnh trong các dục, từ bỏ tà hạnh trong các dục. Rồi các vua bắt người ấy, do nhân từ bỏ tà hạnh trong các dục, sát hại, hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Ta cũng không thấy, cũng không nghe như sau: “Người này đoạn tận tà hạnh trong các dục, từ bỏ tà hạnh trong các dục. Rồi các vua bắt người ấy, do nhân từ bỏ tà hạnh trong các dục, sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn!” Nhưng nếu có người nói về ác nghiệp của người ấy như sau: “Người này có tà hạnh với những người đàn bà của người khác, với những thiếu nữ của người khác. Rồi các vua bắt người ấy, do nhân tà hạnh trong các dục, sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”. Các Thầy có thấy như vậy, hay có nghe như vậy chăng?
—Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy và có nghe như vậy. Và sẽ được nghe như vậy nữa.
TTC 4—Này các Tỷ-kheo, các Thầy nghĩ thế nào, các Thầy có thấy và có nghe như sau không: “Người này đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo. Rồi các vua bắt người ấy, do nhân từ bỏ nói láo, sát hại, hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Ta cũng không thấy, cũng không nghe như sau: “Người này đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo. Rồi các vua chúa bắt người ấy, do nhân từ bỏ nói láo, sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”. Nhưng nếu có người nói về ác nghiệp của người ấy như sau: “Người này do nói láo, phá hoại hạnh phúc của người gia chủ hay con người gia chủ”. Rồi các vua bắt người ấy, và do nhân nói láo, sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”. Các Thầy có thấy như vậy hay có nghe như vậy chăng?
—Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy và nghe như vậy. Và sẽ được nghe như vậy nữa.
TTC 5—Này các Tỷ-kheo, các Thầy nghĩ thế nào, các Thầy có thấy hay có nghe như sau không: “Người này đoạn tận đắm say rượu men, rượu nấu. Rồi các vua bắt người ấy, do nhân từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu, sát hại, bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Ta cũng không thấy, cũng không nghe như sau: “Người này đoạn tận đắm say rượu men rượu nấu. Rồi các vua chúa bắt người ấy, do nhân từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu, sát hại, hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”. Nhưng nếu có người nói về ác nghiệp của người ấy như sau: “Người này do đắm say rượu men rượu nấu, lấy của không cho, gọi là ăn trộm từ làng hay từ khu rừng; người này do nhân đắm say rượu men rượu nấu, có tà hạnh đối với những nữ nhân của các người khác, đối với các thiếu nữ của những người khác; người này do nhân đắm say rượu men rượu nấu, nói láo, phá hoại hạnh phúc người gia chủ hay con người gia chủ. Rồi các vua bắt người ấy, do nhân đắm say rượu men rượu nấu, sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”. Các Thầy có thấy như vậy, có nghe như vậy chăng?
—Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy, có nghe như vậy và sẽ được nghe như vậy nữa.
“Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu tumhehi diṭṭhaṁ vā sutaṁ vā:
‘ayaṁ puriso pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭiviratoti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā pāṇātipātā veramaṇihetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karontī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave.
Mayāpi kho etaṁ, bhikkhave, neva diṭṭhaṁ na sutaṁ:
‘ayaṁ puriso pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭiviratoti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā pāṇātipātā veramaṇihetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karontī’ti.
Api ca khvassa tatheva pāpakammaṁ pavedenti:
‘ayaṁ puriso itthiṁ vā purisaṁ vā jīvitā voropesīti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā pāṇātipātahetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karonti.
Api nu tumhehi evarūpaṁ diṭṭhaṁ vā sutaṁ vā’”ti?
“Diṭṭhañca no, bhante, sutañca suyyissati cā”ti.
“Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu tumhehi diṭṭhaṁ vā sutaṁ vā:
‘ayaṁ puriso adinnādānaṁ pahāya adinnādānā paṭiviratoti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā adinnādānā veramaṇihetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karontī’”ti?
“No hetaṁ bhante”.
“Sādhu, bhikkhave.
Mayāpi kho etaṁ, bhikkhave, neva diṭṭhaṁ na sutaṁ:
‘ayaṁ puriso adinnādānaṁ pahāya adinnādānā paṭiviratoti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā adinnādānā veramaṇihetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karontī’ti.
Api ca khvassa tatheva pāpakammaṁ pavedenti:
‘ayaṁ puriso gāmā vā araññā vā adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyīti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā adinnādānahetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karonti.
Api nu tumhehi evarūpaṁ diṭṭhaṁ vā sutaṁ vā’”ti?
“Diṭṭhañca no, bhante, sutañca suyyissati cā”ti.
“Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu tumhehi diṭṭhaṁ vā sutaṁ vā:
‘ayaṁ puriso kāmesumicchācāraṁ pahāya kāmesumicchācārā paṭiviratoti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā kāmesumicchācārā veramaṇihetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karontī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave.
Mayāpi kho etaṁ, bhikkhave, neva diṭṭhaṁ na sutaṁ:
‘ayaṁ puriso kāmesumicchācāraṁ pahāya kāmesumicchācārā paṭiviratoti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā kāmesumicchācārā veramaṇihetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karontī’ti.
Api ca khvassa tatheva pāpakammaṁ pavedenti:
‘ayaṁ puriso paritthīsu parakumārīsu cārittaṁ āpajjīti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā kāmesumicchācārahetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karonti.
Api nu tumhehi evarūpaṁ diṭṭhaṁ vā sutaṁ vā’”ti?
“Diṭṭhañca no, bhante, sutañca suyyissati cā”ti.
“Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu tumhehi diṭṭhaṁ vā sutaṁ vā:
‘ayaṁ puriso musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭiviratoti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā musāvādā veramaṇihetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karontī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave.
Mayāpi kho etaṁ, bhikkhave, neva diṭṭhaṁ na sutaṁ:
‘ayaṁ puriso musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭiviratoti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā musāvādā veramaṇihetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karontī’ti.
Api ca khvassa tatheva pāpakammaṁ pavedenti:
‘ayaṁ puriso gahapatissa vā gahapatiputtassa vā musāvādena atthaṁ pabhañjīti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā musāvādahetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karonti.
Api nu tumhehi evarūpaṁ diṭṭhaṁ vā sutaṁ vā’”ti?
“Diṭṭhañca no, bhante, sutañca suyyissati cā”ti.
“Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu tumhehi diṭṭhaṁ vā sutaṁ vā:
‘ayaṁ puriso surāmerayamajjapamādaṭṭhānaṁ pahāya surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭiviratoti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā surāmerayamajjapamādaṭṭhānā veramaṇihetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karontī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave.
Mayāpi kho etaṁ, bhikkhave, neva diṭṭhaṁ na sutaṁ:
‘ayaṁ puriso surāmerayamajjapamādaṭṭhānaṁ pahāya surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭiviratoti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā surāmerayamajjapamādaṭṭhānā veramaṇihetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karontī’ti.
Api ca khvassa tatheva pāpakammaṁ pavedenti:
‘ayaṁ puriso surāmerayamajjapamādaṭṭhānaṁ anuyutto itthiṁ vā purisaṁ vā jīvitā voropesi;
ayaṁ puriso surāmerayamajjapamādaṭṭhānaṁ anuyutto gāmā vā araññā vā adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyi;
ayaṁ puriso surāmerayamajjapamādaṭṭhānaṁ anuyutto paritthīsu parakumārīsu cārittaṁ āpajji;
ayaṁ puriso surāmerayamajjapamādaṭṭhānaṁ anuyutto gahapatissa vā gahapatiputtassa vā musāvādena atthaṁ pabhañjīti.
Tamenaṁ rājāno gahetvā surāmerayamajjapamādaṭṭhānahetu hananti vā bandhanti vā pabbājenti vā yathāpaccayaṁ vā karonti.
Api nu tumhehi evarūpaṁ diṭṭhaṁ vā sutaṁ vā’”ti?
“Diṭṭhañca no, bhante, sutañca suyyissati cā”ti.
Aṭṭhamaṁ.