TTC 1Một thời, Thế Tôn đang bộ hành giữa dân chúng Kosala với chúng Tỷ-kheo, đi đến một làng Bà-la-môn của dân chúng Kosala tên là Icchànangala. Tại đấy, Thế Tôn trú ở Icchànangala, tại khu rừng Icchànangala.
TTC 2Các Bà-la-môn gia chủ trú ở Icchànangala được nghe: “Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích-ca, nay đã đến Icchànangala, trú ở Icchànangala, tại khu rừng Icchànangala, những tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Sa-môn Gotama: “Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn… Lành thay, nếu được yết kiến một bậc A-la-hán như vậy.” Rồi Bà-la-môn gia chủ sau khi đêm ấy đã mãn, đem theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm, đi đến Icchànangala, sau khi đến, đứng tại ngoài cửa nói lớn tiếng làm ồn ào.
TTC 3Lúc bấy giờ, Tôn giả Nàgita là thị giả của Thế Tôn. Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Nàgita:
—Này Nàgita, những ai lớn tiếng, cao tiếng như những hàng cá, với đống cá lớn?
—Các người ấy, bạch Thế Tôn là các Bà-la-môn gia chủ ở Icchànangala đang đứng ở ngoài cổng vào, đem theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm cho Thế Tôn và chúng Tăng.
—Này Nàgita, Ta không có liên hệ gì với danh vọng, và danh vọng không có liên hệ gì với Ta. Này Nàgita, những ai tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc mà Ta đã tìm được không khó khăn, tìm được không mệt nhọc, tìm được không phí sức, hãy để họ thọ hưởng lạc như phân, thụy miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn lạc ấy.
—Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy chấp nhận! Thiện Thệ hãy chấp nhận. Bạch Thế Tôn, nay là thời Thế Tôn chấp nhận. Thế Tôn sẽ đi đến chỗ nào, tại chỗ ấy, các Bà-la-môn gia chủ ở thị trấn và ở quốc độ cũng sẽ đi đến với tâm hướng về Ngài. Ví như trời mưa nặng hạt, và nước mưa được chảy tùy theo chiều dốc. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn sẽ đi đến chỗ nào, tại chỗ ấy, các Bà-la-môn gia chủ ở tại thị trấn và quốc độ cũng sẽ đi đến, với tâm hướng về Ngài. Vì sao? Bạch Thế Tôn, do vì giới hạnh và trí tuệ của Thế Tôn.
—Này Nàgita, Ta không có liên hệ với danh vọng và danh vọng không có liên hệ gì với Ta. Này Nàgita, những ai tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc; còn Ta, Ta đã tìm được không khó khăn, tìm được không mệt nhọc, tìm được không phí sức, hãy để họ thọ hưởng lạc như phân, thụy miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn lạc ấy. Này Nàgita, một số chư Thiên tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc, mà Ta, Ta đã tìm được không có khó khăn, tìm được không có mệt nhọc, tìm được không có phí sức. Này Nàgita, khi nào các Thầy họp với nhau, tụ hội với nhau, sống an trú chú tâm trong nếp sống hội chúng, thời Ta suy nghĩ như sau: “Thật vậy, các Tôn giả này của Ta tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc này; còn Ta, Ta đã tìm được không có phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc. Cho nên các Tôn giả của Ta mới họp với nhau, tụ hội với nhau, sống an trú chú tâm trong nếp sống hội chúng”.
TTC 4Này Nàgita, khi nào Ta thấy các Tỷ-kheo, chơi giỡn lấy ngón tay đâm thọc nhau. Này Nàgita, Ta suy nghĩ như sau: “Thật vậy, các Tôn giả này của Ta tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an ổ lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc; còn Ta, Ta đã tìm được… chánh giác lạc. Cho nên các Tôn giả của Ta mới chơi giỡn lấy ngón tay đâm thọc nhau”.
TTC 5Ở đây, này Nàgita, khi Ta thấy các Tỷ-kheo sau khi ăn cho đến thỏa mãn, cho đến bụng có thể chứa được, rồi sống chú tâm vào lạc nằm xuống, lạc về xúc, lạc về ngủ, khi ấy, này Nàgita, Ta suy nghĩ như sau: “Thật sự, các Tôn giả này tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc; còn Ta thời chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc; vì rằng các Tôn giả này, sau khi ăn cho đến thỏa mãn, cho đến bụng có thể chứa được, rồi sống chú tâm vào lạc nằm xuống, lạc về xúc, lạc về ngủ”.
TTC 6Ở đây, này Nàgita, khi ta thấy Tỷ-kheo trú ở cuối làng, đang ngồi Thiền định. Này Nàgita, rồi Ta suy nghĩ: “Nay người giữ khu vườn sẽ đến quấy rầy, hay một Sa-di sẽ làm vị ấy từ bỏ Thiền định”. Do vậy, này Nàgita, Ta không hoan hỷ Tỷ-kheo ấy trú ở cuối làng.
TTC 7Ở đây, này Nàgita, Ta thấy một Tỷ-kheo trú ở rừng đang ngồi ngủ gục ở trong rừng. Này Nàgita, Ta suy nghĩ như sau: “Nay Tôn giả này khi đoạn trừ được buồn ngủ và mỏi mệt, sẽ tác ý đến tưởng về rừng và sống nhất tâm”. Do vậy, này Nàgita, Ta hoan hỷ với Tỷ-kheo ấy sống ở trong rừng.
TTC 8Ở đây, này Nàgita. Ta thấy Tỷ-kheo sống ở rừng đang ngồi không Thiền định ở trong rừng. Này Nàgita, Ta suy nghĩ như sau: “Nay, vị Tôn giả này sẽ định tĩnh tâm chưa được Thiền định, và sẽ bảo vệ tâm đã được Thiền định”. Do vậy, này Nàgita, Ta hoan hỷ với Tỷ-kheo ấy sống ở trong rừng.
TTC 9Ở đây, này Nàgita, Ta thấy Tỷ-kheo ngồi Thiền định ở trong rừng. Này Nàgita, Ta suy nghĩ như sau: “Nay Tôn giả này sẽ giải thoát tâm chưa được giải thoát hay sẽ bảo vệ tâm đã được giải thoát”. Do vậy, này Nàgita, Ta hoan hỷ với Tỷ-kheo sống ở trong rừng.
Khi nào, này Nàgita, Ta đi trên đường, không thấy một ai ở phía trước hay ở phía sau, này Nàgita, khi ấy, Ta cảm thấy sảng khoái cho đến vấn đề đại, tiểu tiện.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena icchānaṅgalaṁ nāma kosalānaṁ brāhmaṇagāmo tadavasari.
Tatra sudaṁ bhagavā icchānaṅgale viharati icchānaṅgalavanasaṇḍe.
Assosuṁ kho icchānaṅgalakā brāhmaṇagahapatikā:
“samaṇo khalu bho gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito icchānaṅgalaṁ anuppatto icchānaṅgale viharati icchānaṅgalavanasaṇḍe.
Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho …pe…
sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī’”ti.
Atha kho icchānaṅgalakā brāhmaṇagahapatikā tassā rattiyā accayena pahutaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ ādāya yena icchānaṅgalavanasaṇḍo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bahidvārakoṭṭhake aṭṭhaṁsu uccāsaddā mahāsaddā.
Tena kho pana samayena āyasmā nāgito bhagavato upaṭṭhāko hoti.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ nāgitaṁ āmantesi:
“ke pana te, nāgita, uccāsaddā mahāsaddā kevaṭṭā maññe macchavilope”ti?
“Ete, bhante, icchānaṅgalakā brāhmaṇagahapatikā pahutaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ ādāya bahidvārakoṭṭhake ṭhitā bhagavantaṁyeva uddissa bhikkhusaṅghañcā”ti.
“Māhaṁ, nāgita, yasena samāgamaṁ, mā ca mayā yaso.
Yo kho, nāgita, nayimassa nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī assa akicchalābhī akasiralābhī. Yassāhaṁ nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī,
so taṁ mīḷhasukhaṁ middhasukhaṁ lābhasakkārasilokasukhaṁ sādiyeyyā”ti.
“Adhivāsetu dāni, bhante, bhagavā. Adhivāsetu sugato.
Adhivāsanakālo dāni, bhante, bhagavato.
Yena yeneva dāni, bhante, bhagavā gamissati tanninnāva bhavissanti brāhmaṇagahapatikā negamā ceva jānapadā ca.
Seyyathāpi, bhante, thullaphusitake deve vassante yathāninnaṁ udakāni pavattanti;
evamevaṁ kho, bhante, yena yeneva dāni bhagavā gamissati tanninnāva bhavissanti brāhmaṇagahapatikā negamā ceva jānapadā ca.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi, bhante, bhagavato sīlapaññāṇan”ti.
“Māhaṁ, nāgita, yasena samāgamaṁ, mā ca mayā yaso.
Yo kho, nāgita, nayimassa nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī assa akicchalābhī akasiralābhī. Yassāhaṁ nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī,
so taṁ mīḷhasukhaṁ middhasukhaṁ lābhasakkārasilokasukhaṁ sādiyeyya.
devatāpi kho, nāgita, ekaccā nayimassa nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhiniyo assu akicchalābhiniyo akasiralābhiniyo, yassāhaṁ nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī.
Tumhākampi kho, nāgita, saṅgamma samāgamma saṅgaṇikavihāraṁ anuyuttānaṁ viharataṁ evaṁ hoti:
‘na hi nūname āyasmanto imassa nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhino assu akicchalābhino akasiralābhino. Yassāhaṁ nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī.
Tathā hi paname āyasmanto saṅgamma samāgamma saṅgaṇikavihāraṁ anuyuttā viharanti’.
Idhāhaṁ, nāgita, bhikkhū passāmi aññamaññaṁ aṅgulipatodakena sañjagghante saṅkīḷante.
Tassa mayhaṁ, nāgita, evaṁ hoti:
‘na hi nūname āyasmanto imassa nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhino assu akicchalābhino akasiralābhino. Yassāhaṁ nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī.
Tathā hi paname āyasmanto aññamaññaṁ aṅgulipatodakena sañjagghanti saṅkīḷanti’.
Idha panāhaṁ, nāgita, bhikkhū passāmi yāvadatthaṁ udarāvadehakaṁ bhuñjitvā seyyasukhaṁ passasukhaṁ middhasukhaṁ anuyutte viharante.
Tassa mayhaṁ, nāgita, evaṁ hoti:
‘na hi nūname āyasmanto imassa nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhino assu akicchalābhino akasiralābhino. Yassāhaṁ nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī.
Tathā hi paname āyasmanto yāvadatthaṁ udarāvadehakaṁ bhuñjitvā seyyasukhaṁ passasukhaṁ middhasukhaṁ anuyuttā viharanti’.
Idhāhaṁ, nāgita, bhikkhuṁ passāmi gāmantavihāriṁ samāhitaṁ nisinnaṁ.
Tassa mayhaṁ, nāgita, evaṁ hoti:
‘idāni imaṁ āyasmantaṁ ārāmiko vā upaṭṭhahissati samaṇuddeso vā. Taṁ tamhā samādhimhā cāvessatī’ti.
Tenāhaṁ, nāgita, tassa bhikkhuno na attamano homi gāmantavihārena.
Idha panāhaṁ, nāgita, bhikkhuṁ passāmi āraññikaṁ araññe pacalāyamānaṁ nisinnaṁ.
Tassa mayhaṁ, nāgita, evaṁ hoti:
‘idāni ayamāyasmā imaṁ niddākilamathaṁ paṭivinodetvā araññasaññaṁyeva manasi karissati ekattan’ti.
Tenāhaṁ, nāgita, tassa bhikkhuno attamano homi araññavihārena.
Idha panāhaṁ, nāgita, bhikkhuṁ passāmi āraññikaṁ araññe asamāhitaṁ nisinnaṁ.
Tassa mayhaṁ, nāgita, evaṁ hoti:
‘idāni ayamāyasmā asamāhitaṁ vā cittaṁ samādahissati, samāhitaṁ vā cittaṁ anurakkhissatī’ti.
Tenāhaṁ, nāgita, tassa bhikkhuno attamano homi araññavihārena.
Idha panāhaṁ, nāgita, bhikkhuṁ passāmi āraññikaṁ araññe samāhitaṁ nisinnaṁ.
Tassa mayhaṁ, nāgita, evaṁ hoti:
‘idāni ayamāyasmā avimuttaṁ vā cittaṁ vimuccissati, vimuttaṁ vā cittaṁ anurakkhissatī’ti.
Tenāhaṁ, nāgita, tassa bhikkhuno attamano homi araññavihārena.
Idha panāhaṁ, nāgita, bhikkhuṁ passāmi gāmantavihāriṁ lābhiṁ cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṁ.
So taṁ lābhasakkārasilokaṁ nikāmayamāno riñcati paṭisallānaṁ, riñcati araññavanapatthāni pantāni senāsanāni;
gāmanigamarājadhāniṁ osaritvā vāsaṁ kappeti.
Tenāhaṁ, nāgita, tassa bhikkhuno na attamano homi gāmantavihārena.
Idha panāhaṁ, nāgita, bhikkhuṁ passāmi āraññikaṁ lābhiṁ cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṁ.
So taṁ lābhasakkārasilokaṁ paṭipaṇāmetvā na riñcati paṭisallānaṁ, na riñcati araññavanapatthāni pantāni senāsanāni.
Tenāhaṁ, nāgita, tassa bhikkhuno attamano homi araññavihārena.
Yasmāhaṁ, nāgita, samaye addhānamaggappaṭipanno na kañci passāmi purato vā pacchato vā, phāsu me, nāgita, tasmiṁ samaye hoti antamaso uccārapassāvakammāyā”ti.
Chaṭṭhaṁ.
I have heard that on one occasion the Blessed One, on a wandering tour among the Kosalans with a large community of monks, arrived at a Kosalan brahman village named Icchanangala. There he stayed in the Icchanangala forest grove.
The brahman householders of Icchanangala heard it said, “Gotama the contemplative—the son of the Sakyans, having gone forth from the Sakyan clan—on a wandering tour among the Kosalans with a large community of monks—has arrived at Icchanangala and is staying in the Icchanangala forest grove. And of that Master Gotama this fine reputation has spread: ‘He is indeed a Blessed One, worthy, & rightly self-awakened, consummate in knowledge & conduct, well-gone, a knower of the cosmos, an unexcelled trainer of those persons ready to be tamed, teacher of human & divine beings, awakened, blessed. He has made known—having realized it through direct knowledge—this world with its devas, maras, & brahmas, its generations with their contemplatives & brahmans, their rulers & common people; has explained the Dhamma admirable in the beginning, admirable in the middle, admirable in the end; has expounded the holy life both in its particulars & in its essence, entirely perfect, surpassingly pure. It is good to see such a worthy one.’”
So the brahman householders of Icchanangala, when the night was gone, taking many staple & non-staple foods, went to the gate house of the Icchanangala forest grove. On arrival they stood there making a loud racket, a great racket.
Now at that time Ven. Nagita was the Blessed One’s attendant. So the Blessed One addressed Ven. Nagita: “Nagita, what is that loud racket, that great racket, like fishermen with a catch of fish?”
“Lord, those are the brahman householders of Icchanangala standing at the gate house to the Icchanangala forest grove, having brought many staple & non-staple foods for the sake of the Blessed One & the community of monks.”
“May I have nothing to do with honor, Nagita, and honor nothing to do with me. Whoever cannot obtain at will—without difficulty, without trouble—as I do, the pleasure of renunciation, the pleasure of seclusion, the pleasure of peace, the pleasure of self-awakening, let him consent to this slimy-excrement-pleasure, this torpor-pleasure, this pleasure of gains, offerings, & fame.”
“Lord, let the Blessed One acquiesce [to their offerings] now! Let the One Well-gone acquiesce now! Now is the time for the Blessed One’s acquiescence, lord! Now is the time for the Blessed One’s acquiescence, lord! Wherever the Blessed One will go now, the brahmans of the towns & countryside will be so inclined. Just as when the rain-devas send rain in fat drops, the waters flow with the incline, in the same way, wherever the Blessed One will go now, the brahmans of the towns & countryside will be so inclined. Why is that? Because such is the Blessed One’s virtue & discernment.”
“May I have nothing to do with honor, Nagita, and honor nothing to do with me. Whoever cannot obtain at will—without difficulty, without trouble—as I do, the pleasure of renunciation, the pleasure of seclusion, the pleasure of peace, the pleasure of self-awakening, let him consent to this slimy-excrement-pleasure, this torpor-pleasure, this pleasure of gains, offerings, & fame.
“Even some devas, Nagita, cannot obtain at will—without difficulty, without trouble—as I do, the pleasure of renunciation, the pleasure of seclusion, the pleasure of peace, the pleasure of self-awakening. When you all live together, assemble together, and live committed to dwelling with a group, the thought occurs: ‘Surely these venerable ones cannot obtain at will—without difficulty, without trouble—as I do, the pleasure of renunciation, the pleasure of seclusion, the pleasure of peace, the pleasure of self-awakening, which is why they live together, assemble together, and live committed to dwelling with a group.’
[1] “There is the case, Nagita, where I see monks laughing out loud, sporting around, tickling one another with their fingers. The thought occurs to me, ‘Surely these venerable ones cannot obtain at will—without difficulty, without trouble—as I do, the pleasure of renunciation, the pleasure of seclusion, the pleasure of peace, the pleasure of self-awakening, which is why they are laughing out loud, sporting around, tickling one another with their fingers.’
[2] “Then there is the case where I see monks—having eaten as much as they want, filling their bellies—live committed to the pleasure of lying down, the pleasure of sensory contacts, the pleasure of torpor. The thought occurs to me, ‘Surely these venerable ones cannot obtain at will—without difficulty, without trouble—as I do, the pleasure of renunciation, the pleasure of seclusion, the pleasure of peace, the pleasure of self-awakening, which is why they—having eaten as much as they want, filling their bellies—live committed to the pleasure of lying down, the pleasure of sensory contacts, the pleasure of torpor.
[3] “Then there is the case where I see a monk sitting in concentration in a village dwelling. The thought occurs to me, ‘Soon a monastery attendant will disturb this venerable one in some way, or a novice will, and rouse him from his concentration.’ And so I am not pleased with that monk’s village-dwelling.
[4] “But then there is the case where I see a monk sitting, nodding, in the wilderness. The thought occurs to me, ‘Soon this venerable one will dispel his drowsiness & fatigue and attend to the wilderness-perception, [his mind] unified.’ And so I am pleased with that monk’s wilderness-dwelling.
[5] “Then there is the case where I see a wilderness monk sitting unconcentrated in the wilderness. The thought occurs to me, ‘Soon this venerable one will center his unconcentrated mind, or protect his concentrated mind.’ And so I am pleased with that monk’s wilderness-dwelling.
[6] “Then there is the case where I see a wilderness monk sitting in concentration in the wilderness. The thought occurs to me, ‘Soon this venerable one will release his unreleased mind, or protect his released mind.’ And so I am pleased with that monk’s wilderness-dwelling.
[7] “Then there is the case where I see a village-dwelling monk who receives robes, alms food, shelter, & medicinal requisites for curing the sick. Receiving, as he likes, those gains, offerings, & fame, he neglects seclusion, he neglects isolated forest & wilderness dwellings. He makes his living by visiting villages, towns, & cities. And so I am not pleased with that monk’s village-dwelling.
[8] “Then there is the case where I see a wilderness monk who receives robes, alms food, shelter, & medicinal requisites for curing the sick. Fending off those gains, offerings, & fame, he doesn’t neglect seclusion, doesn’t neglect isolated forest & wilderness dwellings. And so I am pleased with that monk’s wilderness-dwelling.
“But when I am traveling along a road and see no one in front or behind me, at that time I have my ease, even when urinating & defecating.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn đang bộ hành giữa dân chúng Kosala với chúng Tỷ-kheo, đi đến một làng Bà-la-môn của dân chúng Kosala tên là Icchànangala. Tại đấy, Thế Tôn trú ở Icchànangala, tại khu rừng Icchànangala.
TTC 2Các Bà-la-môn gia chủ trú ở Icchànangala được nghe: “Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích-ca, nay đã đến Icchànangala, trú ở Icchànangala, tại khu rừng Icchànangala, những tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Sa-môn Gotama: “Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn… Lành thay, nếu được yết kiến một bậc A-la-hán như vậy.” Rồi Bà-la-môn gia chủ sau khi đêm ấy đã mãn, đem theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm, đi đến Icchànangala, sau khi đến, đứng tại ngoài cửa nói lớn tiếng làm ồn ào.
TTC 3Lúc bấy giờ, Tôn giả Nàgita là thị giả của Thế Tôn. Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Nàgita:
—Này Nàgita, những ai lớn tiếng, cao tiếng như những hàng cá, với đống cá lớn?
—Các người ấy, bạch Thế Tôn là các Bà-la-môn gia chủ ở Icchànangala đang đứng ở ngoài cổng vào, đem theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm cho Thế Tôn và chúng Tăng.
—Này Nàgita, Ta không có liên hệ gì với danh vọng, và danh vọng không có liên hệ gì với Ta. Này Nàgita, những ai tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc mà Ta đã tìm được không khó khăn, tìm được không mệt nhọc, tìm được không phí sức, hãy để họ thọ hưởng lạc như phân, thụy miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn lạc ấy.
—Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy chấp nhận! Thiện Thệ hãy chấp nhận. Bạch Thế Tôn, nay là thời Thế Tôn chấp nhận. Thế Tôn sẽ đi đến chỗ nào, tại chỗ ấy, các Bà-la-môn gia chủ ở thị trấn và ở quốc độ cũng sẽ đi đến với tâm hướng về Ngài. Ví như trời mưa nặng hạt, và nước mưa được chảy tùy theo chiều dốc. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn sẽ đi đến chỗ nào, tại chỗ ấy, các Bà-la-môn gia chủ ở tại thị trấn và quốc độ cũng sẽ đi đến, với tâm hướng về Ngài. Vì sao? Bạch Thế Tôn, do vì giới hạnh và trí tuệ của Thế Tôn.
—Này Nàgita, Ta không có liên hệ với danh vọng và danh vọng không có liên hệ gì với Ta. Này Nàgita, những ai tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc; còn Ta, Ta đã tìm được không khó khăn, tìm được không mệt nhọc, tìm được không phí sức, hãy để họ thọ hưởng lạc như phân, thụy miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn lạc ấy. Này Nàgita, một số chư Thiên tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc, mà Ta, Ta đã tìm được không có khó khăn, tìm được không có mệt nhọc, tìm được không có phí sức. Này Nàgita, khi nào các Thầy họp với nhau, tụ hội với nhau, sống an trú chú tâm trong nếp sống hội chúng, thời Ta suy nghĩ như sau: “Thật vậy, các Tôn giả này của Ta tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc này; còn Ta, Ta đã tìm được không có phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc. Cho nên các Tôn giả của Ta mới họp với nhau, tụ hội với nhau, sống an trú chú tâm trong nếp sống hội chúng”.
TTC 4Này Nàgita, khi nào Ta thấy các Tỷ-kheo, chơi giỡn lấy ngón tay đâm thọc nhau. Này Nàgita, Ta suy nghĩ như sau: “Thật vậy, các Tôn giả này của Ta tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an ổ lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc; còn Ta, Ta đã tìm được… chánh giác lạc. Cho nên các Tôn giả của Ta mới chơi giỡn lấy ngón tay đâm thọc nhau”.
TTC 5Ở đây, này Nàgita, khi Ta thấy các Tỷ-kheo sau khi ăn cho đến thỏa mãn, cho đến bụng có thể chứa được, rồi sống chú tâm vào lạc nằm xuống, lạc về xúc, lạc về ngủ, khi ấy, này Nàgita, Ta suy nghĩ như sau: “Thật sự, các Tôn giả này tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc; còn Ta thời chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc; vì rằng các Tôn giả này, sau khi ăn cho đến thỏa mãn, cho đến bụng có thể chứa được, rồi sống chú tâm vào lạc nằm xuống, lạc về xúc, lạc về ngủ”.
TTC 6Ở đây, này Nàgita, khi ta thấy Tỷ-kheo trú ở cuối làng, đang ngồi Thiền định. Này Nàgita, rồi Ta suy nghĩ: “Nay người giữ khu vườn sẽ đến quấy rầy, hay một Sa-di sẽ làm vị ấy từ bỏ Thiền định”. Do vậy, này Nàgita, Ta không hoan hỷ Tỷ-kheo ấy trú ở cuối làng.
TTC 7Ở đây, này Nàgita, Ta thấy một Tỷ-kheo trú ở rừng đang ngồi ngủ gục ở trong rừng. Này Nàgita, Ta suy nghĩ như sau: “Nay Tôn giả này khi đoạn trừ được buồn ngủ và mỏi mệt, sẽ tác ý đến tưởng về rừng và sống nhất tâm”. Do vậy, này Nàgita, Ta hoan hỷ với Tỷ-kheo ấy sống ở trong rừng.
TTC 8Ở đây, này Nàgita. Ta thấy Tỷ-kheo sống ở rừng đang ngồi không Thiền định ở trong rừng. Này Nàgita, Ta suy nghĩ như sau: “Nay, vị Tôn giả này sẽ định tĩnh tâm chưa được Thiền định, và sẽ bảo vệ tâm đã được Thiền định”. Do vậy, này Nàgita, Ta hoan hỷ với Tỷ-kheo ấy sống ở trong rừng.
TTC 9Ở đây, này Nàgita, Ta thấy Tỷ-kheo ngồi Thiền định ở trong rừng. Này Nàgita, Ta suy nghĩ như sau: “Nay Tôn giả này sẽ giải thoát tâm chưa được giải thoát hay sẽ bảo vệ tâm đã được giải thoát”. Do vậy, này Nàgita, Ta hoan hỷ với Tỷ-kheo sống ở trong rừng.
Khi nào, này Nàgita, Ta đi trên đường, không thấy một ai ở phía trước hay ở phía sau, này Nàgita, khi ấy, Ta cảm thấy sảng khoái cho đến vấn đề đại, tiểu tiện.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena icchānaṅgalaṁ nāma kosalānaṁ brāhmaṇagāmo tadavasari.
Tatra sudaṁ bhagavā icchānaṅgale viharati icchānaṅgalavanasaṇḍe.
Assosuṁ kho icchānaṅgalakā brāhmaṇagahapatikā:
“samaṇo khalu bho gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito icchānaṅgalaṁ anuppatto icchānaṅgale viharati icchānaṅgalavanasaṇḍe.
Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho …pe…
sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī’”ti.
Atha kho icchānaṅgalakā brāhmaṇagahapatikā tassā rattiyā accayena pahutaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ ādāya yena icchānaṅgalavanasaṇḍo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bahidvārakoṭṭhake aṭṭhaṁsu uccāsaddā mahāsaddā.
Tena kho pana samayena āyasmā nāgito bhagavato upaṭṭhāko hoti.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ nāgitaṁ āmantesi:
“ke pana te, nāgita, uccāsaddā mahāsaddā kevaṭṭā maññe macchavilope”ti?
“Ete, bhante, icchānaṅgalakā brāhmaṇagahapatikā pahutaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ ādāya bahidvārakoṭṭhake ṭhitā bhagavantaṁyeva uddissa bhikkhusaṅghañcā”ti.
“Māhaṁ, nāgita, yasena samāgamaṁ, mā ca mayā yaso.
Yo kho, nāgita, nayimassa nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī assa akicchalābhī akasiralābhī. Yassāhaṁ nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī,
so taṁ mīḷhasukhaṁ middhasukhaṁ lābhasakkārasilokasukhaṁ sādiyeyyā”ti.
“Adhivāsetu dāni, bhante, bhagavā. Adhivāsetu sugato.
Adhivāsanakālo dāni, bhante, bhagavato.
Yena yeneva dāni, bhante, bhagavā gamissati tanninnāva bhavissanti brāhmaṇagahapatikā negamā ceva jānapadā ca.
Seyyathāpi, bhante, thullaphusitake deve vassante yathāninnaṁ udakāni pavattanti;
evamevaṁ kho, bhante, yena yeneva dāni bhagavā gamissati tanninnāva bhavissanti brāhmaṇagahapatikā negamā ceva jānapadā ca.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi, bhante, bhagavato sīlapaññāṇan”ti.
“Māhaṁ, nāgita, yasena samāgamaṁ, mā ca mayā yaso.
Yo kho, nāgita, nayimassa nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī assa akicchalābhī akasiralābhī. Yassāhaṁ nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī,
so taṁ mīḷhasukhaṁ middhasukhaṁ lābhasakkārasilokasukhaṁ sādiyeyya.
devatāpi kho, nāgita, ekaccā nayimassa nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhiniyo assu akicchalābhiniyo akasiralābhiniyo, yassāhaṁ nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī.
Tumhākampi kho, nāgita, saṅgamma samāgamma saṅgaṇikavihāraṁ anuyuttānaṁ viharataṁ evaṁ hoti:
‘na hi nūname āyasmanto imassa nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhino assu akicchalābhino akasiralābhino. Yassāhaṁ nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī.
Tathā hi paname āyasmanto saṅgamma samāgamma saṅgaṇikavihāraṁ anuyuttā viharanti’.
Idhāhaṁ, nāgita, bhikkhū passāmi aññamaññaṁ aṅgulipatodakena sañjagghante saṅkīḷante.
Tassa mayhaṁ, nāgita, evaṁ hoti:
‘na hi nūname āyasmanto imassa nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhino assu akicchalābhino akasiralābhino. Yassāhaṁ nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī.
Tathā hi paname āyasmanto aññamaññaṁ aṅgulipatodakena sañjagghanti saṅkīḷanti’.
Idha panāhaṁ, nāgita, bhikkhū passāmi yāvadatthaṁ udarāvadehakaṁ bhuñjitvā seyyasukhaṁ passasukhaṁ middhasukhaṁ anuyutte viharante.
Tassa mayhaṁ, nāgita, evaṁ hoti:
‘na hi nūname āyasmanto imassa nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhino assu akicchalābhino akasiralābhino. Yassāhaṁ nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī.
Tathā hi paname āyasmanto yāvadatthaṁ udarāvadehakaṁ bhuñjitvā seyyasukhaṁ passasukhaṁ middhasukhaṁ anuyuttā viharanti’.
Idhāhaṁ, nāgita, bhikkhuṁ passāmi gāmantavihāriṁ samāhitaṁ nisinnaṁ.
Tassa mayhaṁ, nāgita, evaṁ hoti:
‘idāni imaṁ āyasmantaṁ ārāmiko vā upaṭṭhahissati samaṇuddeso vā. Taṁ tamhā samādhimhā cāvessatī’ti.
Tenāhaṁ, nāgita, tassa bhikkhuno na attamano homi gāmantavihārena.
Idha panāhaṁ, nāgita, bhikkhuṁ passāmi āraññikaṁ araññe pacalāyamānaṁ nisinnaṁ.
Tassa mayhaṁ, nāgita, evaṁ hoti:
‘idāni ayamāyasmā imaṁ niddākilamathaṁ paṭivinodetvā araññasaññaṁyeva manasi karissati ekattan’ti.
Tenāhaṁ, nāgita, tassa bhikkhuno attamano homi araññavihārena.
Idha panāhaṁ, nāgita, bhikkhuṁ passāmi āraññikaṁ araññe asamāhitaṁ nisinnaṁ.
Tassa mayhaṁ, nāgita, evaṁ hoti:
‘idāni ayamāyasmā asamāhitaṁ vā cittaṁ samādahissati, samāhitaṁ vā cittaṁ anurakkhissatī’ti.
Tenāhaṁ, nāgita, tassa bhikkhuno attamano homi araññavihārena.
Idha panāhaṁ, nāgita, bhikkhuṁ passāmi āraññikaṁ araññe samāhitaṁ nisinnaṁ.
Tassa mayhaṁ, nāgita, evaṁ hoti:
‘idāni ayamāyasmā avimuttaṁ vā cittaṁ vimuccissati, vimuttaṁ vā cittaṁ anurakkhissatī’ti.
Tenāhaṁ, nāgita, tassa bhikkhuno attamano homi araññavihārena.
Idha panāhaṁ, nāgita, bhikkhuṁ passāmi gāmantavihāriṁ lābhiṁ cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṁ.
So taṁ lābhasakkārasilokaṁ nikāmayamāno riñcati paṭisallānaṁ, riñcati araññavanapatthāni pantāni senāsanāni;
gāmanigamarājadhāniṁ osaritvā vāsaṁ kappeti.
Tenāhaṁ, nāgita, tassa bhikkhuno na attamano homi gāmantavihārena.
Idha panāhaṁ, nāgita, bhikkhuṁ passāmi āraññikaṁ lābhiṁ cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṁ.
So taṁ lābhasakkārasilokaṁ paṭipaṇāmetvā na riñcati paṭisallānaṁ, na riñcati araññavanapatthāni pantāni senāsanāni.
Tenāhaṁ, nāgita, tassa bhikkhuno attamano homi araññavihārena.
Yasmāhaṁ, nāgita, samaye addhānamaggappaṭipanno na kañci passāmi purato vā pacchato vā, phāsu me, nāgita, tasmiṁ samaye hoti antamaso uccārapassāvakammāyā”ti.
Chaṭṭhaṁ.