TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Không hướng đến lợi mình, lợi người; hướng đến lợi người, không lợi mình; hướng đến lợi mình, không lợi người; hướng đến lợi mình và lợi người.
TTC 2Ví như, này các Tỷ-kheo, một que lửa lấy từ đống lửa thiêu xác, hai đầu đều cháy đỏ, ở giữa được trét với phân, không có tác dụng là đồ chụm lửa ở làng, hay ở rừng. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng người này giống như ví dụ ấy, tức là người không hướng đến lợi mình và lợi người.
TTC 3Tại đây, này các Tỷ-kheo, hạng người này hướng đến lợi người, không lợi mình. Người này so với hạng người kia, vi diệu hơn, thù thắng hơn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, hạng người này hướng đến lợi mình, không lợi người. Hạng người này so với hai hạng người kia, vi diệu hơn thù thắng hơn. Tại đây, này các Tỷ-kheo, hạng người này hướng đến lợi mình và lợi người, hạng người này so với ba hạng người trên, là tối thượng, tối thắng, thượng thủ, vô thượng và cực thắng.
TTC 4Ví như, này các Tỷ-kheo, từ bò có sữa, từ sữa có lạc, từ lạc có sanh tô, từ sanh tô có thục tô, từ thục tô có đề hồ và đây gọi là tối thượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, hạng người này hướng đến lợi mình và lợi người, hạng người này so với ba hạng người trên là tối thượng, tối thắng, thượng thủ, vô thượng và cực thắng.
Bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
“Cattārome, bhikkhave, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame cattāro?
Nevattahitāya paṭipanno no parahitāya,
parahitāya paṭipanno no attahitāya,
attahitāya paṭipanno no parahitāya,
attahitāya ceva paṭipanno parahitāya ca.
Seyyathāpi, bhikkhave, chavālātaṁ ubhato padittaṁ, majjhe gūthagataṁ, neva gāme kaṭṭhatthaṁ pharati na araññe (…);
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi yvāyaṁ puggalo nevattahitāya paṭipanno no parahitāya.
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ puggalo parahitāya paṭipanno no attahitāya, ayaṁ imesaṁ dvinnaṁ puggalānaṁ abhikkantataro ca paṇītataro ca.
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ puggalo attahitāya paṭipanno no parahitāya, ayaṁ imesaṁ tiṇṇaṁ puggalānaṁ abhikkantataro ca paṇītataro ca.
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ puggalo attahitāya ceva paṭipanno parahitāya ca, ayaṁ imesaṁ catunnaṁ puggalānaṁ aggo ca seṭṭho ca pāmokkho ca uttamo ca pavaro ca.
Seyyathāpi, bhikkhave, gavā khīraṁ, khīramhā dadhi, dadhimhā navanītaṁ, navanītamhā sappi, sappimhā sappimaṇḍo, sappimaṇḍo tattha aggamakkhāyati;
evamevaṁ kho, bhikkhave, yvāyaṁ puggalo attahitāya ceva paṭipanno parahitāya ca, ayaṁ imesaṁ catunnaṁ puggalānaṁ aggo ca seṭṭho ca pāmokkho ca uttamo ca pavaro ca.
Ime kho, bhikkhave, cattāro puggalā santo saṁvijjamānā lokasmin”ti.
Pañcamaṁ.
“Monks, these four types of individuals are to be found existing in the world. Which four? The one who practices neither for his/her own benefit nor for that of others. The one who practices for the benefit of others but not for his/her own. The one who practices for his/her own benefit but not for that of others. The one who practices for his/her own benefit and for that of others.
“Just as a firebrand from a funeral pyre—burning at both ends, covered with excrement in the middle—is used as fuel neither in a village nor in the wilderness: I tell you that this is a simile for the individual who practices neither for his/her own benefit nor for that of others. The individual who practices for the benefit of others but not for his/her own is the higher & more refined of these two. The individual who practices for his/her own benefit but not for that of others is the highest & most refined of these three. The individual who practices for his/her own benefit and for that of others is, of these four, the foremost, the chief, the most outstanding, the highest, & supreme. Just as from a cow comes milk; from milk, curds; from curds, butter; from butter, ghee; from ghee, the skimmings of ghee; and of these, the skimmings of ghee are reckoned the foremost—in the same way, of these four, the individual who practices for his/her own benefit and for that of others is the foremost, the chief, the most outstanding, the highest, & supreme.
“These are the four types of individuals to be found existing in the world.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Không hướng đến lợi mình, lợi người; hướng đến lợi người, không lợi mình; hướng đến lợi mình, không lợi người; hướng đến lợi mình và lợi người.
TTC 2Ví như, này các Tỷ-kheo, một que lửa lấy từ đống lửa thiêu xác, hai đầu đều cháy đỏ, ở giữa được trét với phân, không có tác dụng là đồ chụm lửa ở làng, hay ở rừng. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng người này giống như ví dụ ấy, tức là người không hướng đến lợi mình và lợi người.
TTC 3Tại đây, này các Tỷ-kheo, hạng người này hướng đến lợi người, không lợi mình. Người này so với hạng người kia, vi diệu hơn, thù thắng hơn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, hạng người này hướng đến lợi mình, không lợi người. Hạng người này so với hai hạng người kia, vi diệu hơn thù thắng hơn. Tại đây, này các Tỷ-kheo, hạng người này hướng đến lợi mình và lợi người, hạng người này so với ba hạng người trên, là tối thượng, tối thắng, thượng thủ, vô thượng và cực thắng.
TTC 4Ví như, này các Tỷ-kheo, từ bò có sữa, từ sữa có lạc, từ lạc có sanh tô, từ sanh tô có thục tô, từ thục tô có đề hồ và đây gọi là tối thượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, hạng người này hướng đến lợi mình và lợi người, hạng người này so với ba hạng người trên là tối thượng, tối thắng, thượng thủ, vô thượng và cực thắng.
Bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
“Cattārome, bhikkhave, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame cattāro?
Nevattahitāya paṭipanno no parahitāya,
parahitāya paṭipanno no attahitāya,
attahitāya paṭipanno no parahitāya,
attahitāya ceva paṭipanno parahitāya ca.
Seyyathāpi, bhikkhave, chavālātaṁ ubhato padittaṁ, majjhe gūthagataṁ, neva gāme kaṭṭhatthaṁ pharati na araññe (…);
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi yvāyaṁ puggalo nevattahitāya paṭipanno no parahitāya.
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ puggalo parahitāya paṭipanno no attahitāya, ayaṁ imesaṁ dvinnaṁ puggalānaṁ abhikkantataro ca paṇītataro ca.
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ puggalo attahitāya paṭipanno no parahitāya, ayaṁ imesaṁ tiṇṇaṁ puggalānaṁ abhikkantataro ca paṇītataro ca.
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ puggalo attahitāya ceva paṭipanno parahitāya ca, ayaṁ imesaṁ catunnaṁ puggalānaṁ aggo ca seṭṭho ca pāmokkho ca uttamo ca pavaro ca.
Seyyathāpi, bhikkhave, gavā khīraṁ, khīramhā dadhi, dadhimhā navanītaṁ, navanītamhā sappi, sappimhā sappimaṇḍo, sappimaṇḍo tattha aggamakkhāyati;
evamevaṁ kho, bhikkhave, yvāyaṁ puggalo attahitāya ceva paṭipanno parahitāya ca, ayaṁ imesaṁ catunnaṁ puggalānaṁ aggo ca seṭṭho ca pāmokkho ca uttamo ca pavaro ca.
Ime kho, bhikkhave, cattāro puggalā santo saṁvijjamānā lokasmin”ti.
Pañcamaṁ.