TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvavatthì, tại Ðông viên, lâu đài mẹ của Migàrà. Rồi Visàkhà, mẹ của Migàrà đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Visàkhà, mẹ của Migàrà đang ngồi một bên:
TTC 2—Này Visàkhà, đầy đủ bốn pháp, nữ nhân thành tựu sự chiến thắng ở đời này. Ðời này rơi vào tầm tay của nàng. Thế nào là bốn?
TTC 3Ở đây, này Visàkhà, nữ nhân có khả năng khéo làm các công việc, biết thâu nhiếp các người phục vụ, sở hành vừa ý chồng, biết giữ gìn tài sản cất chứa. Này Visàkhà, thế nào là nữ nhân có khả năng khéo làm các công việc?
TTC 4Ở đây, này Visàkhà, nữ nhân phàm có những công việc trong nhà, thuộc về len hay vải bông, ở đây, nữ nhân ấy thông thạo, không biếng nhác, tự tìm phương pháp làm, vừa đủ để tự mình làm, vừa đủ để sắp đặt người làm. Như vậy, này Visàkhà, là nữ nhân có khả năng khéo làm những công việc. Và này Visàkhà, thế nào là nữ nhân biết thâu nhiếp các người phục vụ?
TTC 5Ở đây, này Visàkhà, trong nhà người chồng, phàm có nô tỳ nào, hay người đưa tin, hay người công thợ, nữ nhân biết công việc của họ với công việc đã làm, biết sự thiếu xót của họ với công việc không làm; biết sức mạnh hay sức không mạnh của những người đau bệnh; biết chia các đồ ăn, loại cứng và loại mềm, mỗi người tùy theo từng phần của mình. Như vậy, này Visàkhà, là nữ nhân biết thâu nhiếp những người phục vụ. Và này Visàkhà, thế nào là nữ nhân sở hành vừa ý chồng?
TTC 6Ở đây, này Visàkhà, nữ nhân, những gì người chồng không vừa ý, dầu cho có vì sanh mạng, nàng cũng không làm. Như vậy, này Visàkhà, là nữ nhân sở hành vừa ý chồng. Và này Visàkhà, thế nào là nữ nhân biết giữ gìn tài sản thâu hoạch được?
TTC 7Ở đây, này Visàkhà, Phàm có tiền bạc, lúa gạo, bạc và vàng người chồng đem về, nữ nhân ấy bảo vệ, phòng hộ chúng, giữ gìn để khỏi bọn ăn trộm, ăn cắp, kẻ uống rượu, kẻ phá hoại. Như vậy, là nữ nhân biết giữ gìn tài sản thâu hoạch được.
Thành tựu bốn pháp này, này Visàkhà, nữ nhân thành tựu với sự chiến thắng ở đời. Ðời nay rơi vào trong tầm tay của nàng.
TTC 8Này Visàkhà, đầy đủ bốn pháp, nữ nhân thành tựu sự chiến thắng ở đời sau. Ðời sau rơi vào tầm tay của nàng. Thế nào là bốn?
TTC 9Ở đây, này Visàkhà, nữ nhân đầy đủ lòng tin, đầy đủ giới đức, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí tuệ. Và này Visàkhà, thế nào là nữ nhân đầy đủ lòng tin?
TTC 10Ở đây, này Visàkhà, nữ nhân có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn “. Như vậy, này Visàkhà, là nữ nhân đầy đủ lòng tin. Và này Visàkhà, thế nào là nữ nhân đầy đủ giới đức?
TTC 11Ở đây, này Visàkhà, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Như vậy, này Visàkhà, là nữ nhân đầy đủ giới đức. Và này Visàkhà, thế nào là nữ nhân đầy đủ bố thí?
TTC 12Ở đây, này Visàkhà, nữ nhân sống ở gia đình với tâm tư từ bỏ cấu uế của xan tham, bố thí rộng rãi, với bàn tay cởi mở, vui thích từ bỏ, sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu, vui thích chia xẻ các vật dụng bố thí. Như vậy, này Visàkhà, là nữ nhân đầy đủ bố thí. Và này Visàkhà, thế nào là nữ nhân đầy đủ trí tuệ?
TTC 13Ở đây, này Visàkhà, nữ nhân có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, với Thánh thể nhập đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau. Như vậy, này Visàkhà, là nữ nhân đầy đủ trí tuệ.
Thành tựu bốn pháp này, này Visàkhà, nữ nhân thành tựu sự chiến thắng ở đời sau. Ðời sau rơi vào trong tầm tay của nàng.
Khéo làm các công việc
Thâu nhiếp người phục vụ
Sở hành vừa ý chồng
Giữ gìn của cất chứa
Ðầy đủ tín và giới
Bố thí, không xan tham
Rửa sạch đường thượng đạo
Ðến đời sau an lành
Như vậy là tám pháp
Nữ nhân có đầy đủ
Ðược gọi bậc có giới
Trú pháp, nói chân thật
Ðủ mười sáu hành tướng
Thành tựu tám chi phần
Nữ cư sĩ như vậy
Với giới hạnh đầy đủ
Sanh làm vị Thiên nữ
Với thân thật khả ái.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati pubbārāme migāramātupāsāde.
Atha kho visākhā migāramātā yena bhagavā tenupasaṅkami …pe….
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho visākhaṁ migāramātaraṁ bhagavā etadavoca:
“Catūhi kho, visākhe, dhammehi samannāgato mātugāmo idhalokavijayāya paṭipanno hoti, ayaṁsa loko āraddho hoti.
Katamehi catūhi?
Idha, visākhe, mātugāmo susaṁvihitakammanto hoti, saṅgahitaparijano, bhattu manāpaṁ carati, sambhataṁ anurakkhati.
Kathañca, visākhe, mātugāmo susaṁvihitakammanto hoti?
Idha, visākhe, mātugāmo ye te bhattu abbhantarā kammantā—uṇṇāti vā kappāsāti vā—tattha dakkhā hoti analasā tatrupāyāya vīmaṁsāya samannāgatā alaṁ kātuṁ alaṁ saṁvidhātuṁ.
Evaṁ kho, visākhe, mātugāmo susaṁvihitakammanto hoti.
Kathañca, visākhe, mātugāmo saṅgahitaparijano hoti?
Idha, visākhe, mātugāmo yo so bhattu abbhantaro antojano—dāsāti vā pessāti vā kammakarāti vā—
tesaṁ katañca katato jānāti akatañca akatato jānāti, gilānakānañca balābalaṁ jānāti khādanīyaṁ bhojanīyañcassa paccaṁsena saṁvibhajati.
Evaṁ kho, visākhe, mātugāmo saṅgahitaparijano hoti.
Kathañca, visākhe, mātugāmo bhattu manāpaṁ carati?
Idha, visākhe, mātugāmo yaṁ bhattu amanāpasaṅkhātaṁ taṁ jīvitahetupi na ajjhācarati.
Evaṁ kho, visākhe, mātugāmo bhattu manāpaṁ carati.
Kathañca, visākhe, mātugāmo sambhataṁ anurakkhati?
Idha, visākhe, mātugāmo yaṁ bhattā āharati dhanaṁ vā dhaññaṁ vā rajataṁ vā jātarūpaṁ vā taṁ ārakkhena guttiyā sampādeti, tattha ca hoti adhuttī athenī asoṇḍī avināsikā.
Evaṁ kho, visākhe, mātugāmo sambhataṁ anurakkhati.
Imehi kho, visākhe, catūhi dhammehi samannāgato mātugāmo idhalokavijayāya paṭipanno hoti, ayaṁsa loko āraddho hoti.
Catūhi kho, visākhe, dhammehi samannāgato mātugāmo paralokavijayāya paṭipanno hoti, paraloko āraddho hoti.
Katamehi catūhi?
Idha, visākhe, mātugāmo saddhāsampanno hoti, sīlasampanno hoti, cāgasampanno hoti, paññāsampanno hoti.
Kathañca, visākhe, mātugāmo saddhāsampanno hoti?
Idha, visākhe, mātugāmo saddho hoti, saddahati tathāgatassa bodhiṁ:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti.
Evaṁ kho, visākhe, mātugāmo saddhāsampanno hoti.
Kathañca, visākhe, mātugāmo sīlasampanno hoti?
Idha, visākhe, mātugāmo pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭivirato hoti.
Evaṁ kho, visākhe, mātugāmo sīlasampanno hoti.
Kathañca, visākhe, mātugāmo cāgasampanno hoti?
Idha, visākhe, mātugāmo vigatamalamaccherena cetasā agāraṁ ajjhāvasati muttacāgā payatapāṇinī vossaggaratā yācayogā dānasaṁvibhāgaratā.
Evaṁ kho, visākhe, mātugāmo cāgasampanno hoti.
Kathañca, visākhe, mātugāmo paññāsampanno hoti?
Idha, visākhe, mātugāmo paññavā hoti …pe…
evaṁ kho, visākhe, mātugāmo paññāsampanno hoti.
Imehi kho, visākhe, catūhi dhammehi samannāgato mātugāmo paralokavijayāya paṭipanno hoti, paraloko āraddho hotīti.
Susaṁvihitakammantā,
saṅgahitaparijjanā;
Bhattu manāpaṁ carati,
sambhataṁ anurakkhati.
Saddhā sīlena sampannā,
vadaññū vītamaccharā;
Niccaṁ maggaṁ visodheti,
sotthānaṁ samparāyikaṁ.
Iccete aṭṭha dhammā ca,
yassā vijjanti nāriyā;
Tampi sīlavatiṁ āhu,
dhammaṭṭhaṁ saccavādiniṁ.
Soḷasākārasampannā,
Aṭṭhaṅgasusamāgatā;
Tādisī sīlavatī upāsikā,
Upapajjati devalokaṁ manāpan”ti.
Navamaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling at Sāvatthī in Migāramātā’s Mansion in the Eastern Park. Then Visākhā Migāramātā approached the Blessed One…. The Blessed One then said to her:
SC 2“Visākhā, possessing four qualities, a woman is heading for victory in the present world and her life in this world succeeds. What four? Here, a woman is capable at her work; she manages the domestic help; she behaves agreeably to her husband; and she safeguards his earnings.
SC 3(1) “And how, Visākhā, is a woman capable at her work? Here, a woman is skillful and diligent in attending to her husband’s domestic chores, whether knitting or weaving; she possesses sound judgment about them in order to carry out and arrange them properly. It is in this way that a woman an.iv.270 is capable at her work.
SC 4(2) “And how does a woman manage the domestic help? Here, a woman finds out what her husband’s domestic helpers—whether slaves, messengers, or workers—have done and left undone; she finds out the condition of those who are ill; and she distributes to each an appropriate portion of food. It is in this way that a woman manages the domestic help.
SC 5(3) “And how does a woman behave agreeably to her husband? Here, a woman would not commit any misdeed that her husband would consider disagreeable, even at the cost of her life. It is in this way that a woman behaves agreeably to her husband.
SC 6(4) “And how does a woman safeguard his earnings? Here, a woman guards and protects whatever income her husband brings home—whether money or grain, silver or gold—and she is not a spendthrift, thief, wastrel, or squanderer of his earnings. It is in this way that a woman safeguards his earnings.
SC 7“Possessing these four qualities, a woman is heading for victory in the present world and her life in this world succeeds.
SC 8“Possessing four other qualities, Visākhā, a woman is heading for victory in the other world and her life in the other world succeeds. What four? Here, a woman is accomplished in faith, accomplished in virtuous behavior, accomplished in generosity, and accomplished in wisdom.
SC 9(5) “And how, Visākhā, is a woman accomplished in faith? Here, a woman is endowed with faith. She places faith in the enlightenment of the Tathāgata thus: ‘The Blessed One is an arahant, perfectly enlightened, accomplished in true knowledge and conduct, fortunate, knower of the world, unsurpassed trainer of persons to be tamed, teacher of devas and humans, the Enlightened One, the Blessed One.’ It is in this way that a woman is accomplished in faith.
SC 10(6) “And how is a woman accomplished in virtuous behavior? an.iv.271 Here, a woman abstains from the destruction of life … from liquor, wine, and intoxicants, the basis for heedlessness. It is in this way that a woman is accomplished in virtuous behavior.
SC 11(7) “And how is a woman accomplished in generosity? Here, a woman dwells at home with a heart devoid of the stain of miserliness, freely generous, openhanded, delighting in relinquishment, devoted to charity, delighting in giving and sharing. It is in this way that a woman is accomplished in generosity.
SC 12(8) “And how is a woman accomplished in wisdom? Here, a woman is wise; she possesses the wisdom that discerns arising and passing away, which is noble and penetrative and leads to the complete destruction of suffering. It is in this way that a woman is accomplished in wisdom.
SC 13“Possessing these four qualities, Visākhā, a woman is heading for victory in the other world and her life in the other world succeeds.”
SC 14Capable in attending to her work,
managing the domestic help,
she treats her husband in agreeable ways
and safeguards the wealth he earns.
SC 15Rich in faith, possessed of virtue,
charitable and devoid of miserliness,
she constantly purifies the path
that leads to safety in the future life.
SC 16They call any woman
who has these eight qualities,
virtuous, firm in Dhamma,
a speaker of truth.
SC 17Accomplished in sixteen aspects,
complete in eight factors,
such a virtuous female lay follower
is reborn in an agreeable deva world.
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvavatthì, tại Ðông viên, lâu đài mẹ của Migàrà. Rồi Visàkhà, mẹ của Migàrà đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Visàkhà, mẹ của Migàrà đang ngồi một bên:
TTC 2—Này Visàkhà, đầy đủ bốn pháp, nữ nhân thành tựu sự chiến thắng ở đời này. Ðời này rơi vào tầm tay của nàng. Thế nào là bốn?
TTC 3Ở đây, này Visàkhà, nữ nhân có khả năng khéo làm các công việc, biết thâu nhiếp các người phục vụ, sở hành vừa ý chồng, biết giữ gìn tài sản cất chứa. Này Visàkhà, thế nào là nữ nhân có khả năng khéo làm các công việc?
TTC 4Ở đây, này Visàkhà, nữ nhân phàm có những công việc trong nhà, thuộc về len hay vải bông, ở đây, nữ nhân ấy thông thạo, không biếng nhác, tự tìm phương pháp làm, vừa đủ để tự mình làm, vừa đủ để sắp đặt người làm. Như vậy, này Visàkhà, là nữ nhân có khả năng khéo làm những công việc. Và này Visàkhà, thế nào là nữ nhân biết thâu nhiếp các người phục vụ?
TTC 5Ở đây, này Visàkhà, trong nhà người chồng, phàm có nô tỳ nào, hay người đưa tin, hay người công thợ, nữ nhân biết công việc của họ với công việc đã làm, biết sự thiếu xót của họ với công việc không làm; biết sức mạnh hay sức không mạnh của những người đau bệnh; biết chia các đồ ăn, loại cứng và loại mềm, mỗi người tùy theo từng phần của mình. Như vậy, này Visàkhà, là nữ nhân biết thâu nhiếp những người phục vụ. Và này Visàkhà, thế nào là nữ nhân sở hành vừa ý chồng?
TTC 6Ở đây, này Visàkhà, nữ nhân, những gì người chồng không vừa ý, dầu cho có vì sanh mạng, nàng cũng không làm. Như vậy, này Visàkhà, là nữ nhân sở hành vừa ý chồng. Và này Visàkhà, thế nào là nữ nhân biết giữ gìn tài sản thâu hoạch được?
TTC 7Ở đây, này Visàkhà, Phàm có tiền bạc, lúa gạo, bạc và vàng người chồng đem về, nữ nhân ấy bảo vệ, phòng hộ chúng, giữ gìn để khỏi bọn ăn trộm, ăn cắp, kẻ uống rượu, kẻ phá hoại. Như vậy, là nữ nhân biết giữ gìn tài sản thâu hoạch được.
Thành tựu bốn pháp này, này Visàkhà, nữ nhân thành tựu với sự chiến thắng ở đời. Ðời nay rơi vào trong tầm tay của nàng.
TTC 8Này Visàkhà, đầy đủ bốn pháp, nữ nhân thành tựu sự chiến thắng ở đời sau. Ðời sau rơi vào tầm tay của nàng. Thế nào là bốn?
TTC 9Ở đây, này Visàkhà, nữ nhân đầy đủ lòng tin, đầy đủ giới đức, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí tuệ. Và này Visàkhà, thế nào là nữ nhân đầy đủ lòng tin?
TTC 10Ở đây, này Visàkhà, nữ nhân có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn “. Như vậy, này Visàkhà, là nữ nhân đầy đủ lòng tin. Và này Visàkhà, thế nào là nữ nhân đầy đủ giới đức?
TTC 11Ở đây, này Visàkhà, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Như vậy, này Visàkhà, là nữ nhân đầy đủ giới đức. Và này Visàkhà, thế nào là nữ nhân đầy đủ bố thí?
TTC 12Ở đây, này Visàkhà, nữ nhân sống ở gia đình với tâm tư từ bỏ cấu uế của xan tham, bố thí rộng rãi, với bàn tay cởi mở, vui thích từ bỏ, sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu, vui thích chia xẻ các vật dụng bố thí. Như vậy, này Visàkhà, là nữ nhân đầy đủ bố thí. Và này Visàkhà, thế nào là nữ nhân đầy đủ trí tuệ?
TTC 13Ở đây, này Visàkhà, nữ nhân có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, với Thánh thể nhập đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau. Như vậy, này Visàkhà, là nữ nhân đầy đủ trí tuệ.
Thành tựu bốn pháp này, này Visàkhà, nữ nhân thành tựu sự chiến thắng ở đời sau. Ðời sau rơi vào trong tầm tay của nàng.
Khéo làm các công việc
Thâu nhiếp người phục vụ
Sở hành vừa ý chồng
Giữ gìn của cất chứa
Ðầy đủ tín và giới
Bố thí, không xan tham
Rửa sạch đường thượng đạo
Ðến đời sau an lành
Như vậy là tám pháp
Nữ nhân có đầy đủ
Ðược gọi bậc có giới
Trú pháp, nói chân thật
Ðủ mười sáu hành tướng
Thành tựu tám chi phần
Nữ cư sĩ như vậy
Với giới hạnh đầy đủ
Sanh làm vị Thiên nữ
Với thân thật khả ái.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati pubbārāme migāramātupāsāde.
Atha kho visākhā migāramātā yena bhagavā tenupasaṅkami …pe….
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho visākhaṁ migāramātaraṁ bhagavā etadavoca:
“Catūhi kho, visākhe, dhammehi samannāgato mātugāmo idhalokavijayāya paṭipanno hoti, ayaṁsa loko āraddho hoti.
Katamehi catūhi?
Idha, visākhe, mātugāmo susaṁvihitakammanto hoti, saṅgahitaparijano, bhattu manāpaṁ carati, sambhataṁ anurakkhati.
Kathañca, visākhe, mātugāmo susaṁvihitakammanto hoti?
Idha, visākhe, mātugāmo ye te bhattu abbhantarā kammantā—uṇṇāti vā kappāsāti vā—tattha dakkhā hoti analasā tatrupāyāya vīmaṁsāya samannāgatā alaṁ kātuṁ alaṁ saṁvidhātuṁ.
Evaṁ kho, visākhe, mātugāmo susaṁvihitakammanto hoti.
Kathañca, visākhe, mātugāmo saṅgahitaparijano hoti?
Idha, visākhe, mātugāmo yo so bhattu abbhantaro antojano—dāsāti vā pessāti vā kammakarāti vā—
tesaṁ katañca katato jānāti akatañca akatato jānāti, gilānakānañca balābalaṁ jānāti khādanīyaṁ bhojanīyañcassa paccaṁsena saṁvibhajati.
Evaṁ kho, visākhe, mātugāmo saṅgahitaparijano hoti.
Kathañca, visākhe, mātugāmo bhattu manāpaṁ carati?
Idha, visākhe, mātugāmo yaṁ bhattu amanāpasaṅkhātaṁ taṁ jīvitahetupi na ajjhācarati.
Evaṁ kho, visākhe, mātugāmo bhattu manāpaṁ carati.
Kathañca, visākhe, mātugāmo sambhataṁ anurakkhati?
Idha, visākhe, mātugāmo yaṁ bhattā āharati dhanaṁ vā dhaññaṁ vā rajataṁ vā jātarūpaṁ vā taṁ ārakkhena guttiyā sampādeti, tattha ca hoti adhuttī athenī asoṇḍī avināsikā.
Evaṁ kho, visākhe, mātugāmo sambhataṁ anurakkhati.
Imehi kho, visākhe, catūhi dhammehi samannāgato mātugāmo idhalokavijayāya paṭipanno hoti, ayaṁsa loko āraddho hoti.
Catūhi kho, visākhe, dhammehi samannāgato mātugāmo paralokavijayāya paṭipanno hoti, paraloko āraddho hoti.
Katamehi catūhi?
Idha, visākhe, mātugāmo saddhāsampanno hoti, sīlasampanno hoti, cāgasampanno hoti, paññāsampanno hoti.
Kathañca, visākhe, mātugāmo saddhāsampanno hoti?
Idha, visākhe, mātugāmo saddho hoti, saddahati tathāgatassa bodhiṁ:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti.
Evaṁ kho, visākhe, mātugāmo saddhāsampanno hoti.
Kathañca, visākhe, mātugāmo sīlasampanno hoti?
Idha, visākhe, mātugāmo pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭivirato hoti.
Evaṁ kho, visākhe, mātugāmo sīlasampanno hoti.
Kathañca, visākhe, mātugāmo cāgasampanno hoti?
Idha, visākhe, mātugāmo vigatamalamaccherena cetasā agāraṁ ajjhāvasati muttacāgā payatapāṇinī vossaggaratā yācayogā dānasaṁvibhāgaratā.
Evaṁ kho, visākhe, mātugāmo cāgasampanno hoti.
Kathañca, visākhe, mātugāmo paññāsampanno hoti?
Idha, visākhe, mātugāmo paññavā hoti …pe…
evaṁ kho, visākhe, mātugāmo paññāsampanno hoti.
Imehi kho, visākhe, catūhi dhammehi samannāgato mātugāmo paralokavijayāya paṭipanno hoti, paraloko āraddho hotīti.
Susaṁvihitakammantā,
saṅgahitaparijjanā;
Bhattu manāpaṁ carati,
sambhataṁ anurakkhati.
Saddhā sīlena sampannā,
vadaññū vītamaccharā;
Niccaṁ maggaṁ visodheti,
sotthānaṁ samparāyikaṁ.
Iccete aṭṭha dhammā ca,
yassā vijjanti nāriyā;
Tampi sīlavatiṁ āhu,
dhammaṭṭhaṁ saccavādiniṁ.
Soḷasākārasampannā,
Aṭṭhaṅgasusamāgatā;
Tādisī sīlavatī upāsikā,
Upapajjati devalokaṁ manāpan”ti.
Navamaṁ.