TTC 1—Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải được hiểu không phải bậc Chân nhân. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, không phải bậc Chân nhân là người dầu không được hỏi, nói lên lời không tán thán người khác; còn nói gì nếu được hỏi!
Nhưng nếu được hỏi và phải trả lời, thời không dè dặt, không ngập ngừng, vị này nói lên lời không tán thán người khác, đầy đủ toàn bộ. Này các Tỷ-kheo, cẩn phải được hiểu, này các Tỷ-kheo, vị này không phải Chân nhân.
TTC 2Lại nữa, này các Tỷ-kheo, không phải Chân nhân là người dầu được hỏi, không nói lên lời tán thán người khác; còn nói gì nếu không được hỏi!
Nhưng nếu được hỏi và phải trả lời, thời dè dặt và ngập ngừng, vị này nói lên lời tán thán người khác, không đầy đủ, không toàn bộ. Này các Tỷ-kheo, cần phải được hiểu, này các Tỷ-kheo, vị này không phải Chân nhân.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, không phải Chân nhân là người dầu được hỏi, không nói lên lời không tán thán về mình; còn nói gì nếu không được hỏi!
Nhưng nếu được hỏi và phải trả lời, thời dè dặt và ngập ngừng, vị này nói lên lời không tán thán về mình, không đầy đủ, không toàn bộ. Này các Tỷ-kheo, cần phải được hiểu, vị này không phải Chân nhân.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, không phải là Chân nhân là người dầu không được hỏi, cũng nói lên lời tán thán về mình; còn nói gì nếu được hỏi!
Nhưng nếu được hỏi và phải trả lời, không dè dặt, không ngập ngừng, vị này nói lên lời tán thán về mình, đầy đủ và toàn bộ. Này các Tỷ-kheo, cần phải được hiểu vị này không phải Chân nhân.
Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, cần phải được hiểu không phải bậc Chân nhân.
TTC 5Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải được hiểu là bậc Chân nhân. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, bậc Chân nhân là người dầu có được hỏi, không nói lên lời không tán thán người khác; còn nói gì nếu không được hỏi!
Nhưng nếu được hỏi, và phải trả lời, dè dặt và ngập ngừng, vị ấy không nói lên lời tán thán người khác. Cần phải được hiểu, này các Tỷ-kheo, vị này là bậc Chân nhân.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Chân nhân là người dầu không được hỏi, cũng nói lên lời tán thán người khác; còn nói gì nếu được hỏi.
Nếu được hỏi và phải trả lời, không dè dặt, không ngập ngừng, vị ấy nói lời tán thán người khác, đầy đủ và toàn bộ. Cần phải được hiểu, này các Tỷ-kheo, vị này là bậc Chân nhân.
TTC 7Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Chân nhân là Người, nếu không được hỏi, vẫn nói lên lời không tán thán về mình; còn nói gì nếu được hỏi!
Nếu được hỏi và phải trả lời, không dè dặt, không ngập ngừng, vị ấy nói lên lời không tán thán về mình, đầy đủ và toàn bộ. Cần phải được hiểu, này các Tỷ-kheo, vị này là bậc Chân nhân.
TTC 8Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Chân nhân dầu có được hỏi cũng không nói lên lời tán thán về mình; còn nói gì nếu không được hỏi!
Nếu được hỏi và phải trả lời, dè dặt và ngập ngừng, vị ấy nói lên lời tán thán về mình, không đầy đủ; không toàn bộ. Cần phải được hiểu, này các Tỷ-kheo, vị này là bậc Chân nhân.
Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, cần phải được hiểu là bậc Chân nhân.
“Catūhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato asappuriso veditabbo.
Katamehi catūhi?
Idha, bhikkhave, asappuriso yo hoti parassa avaṇṇo taṁ apuṭṭhopi pātu karoti, ko pana vādo puṭṭhassa.
Puṭṭho kho pana pañhābhinīto ahāpetvā alambitvā paripūraṁ vitthārena parassa avaṇṇaṁ bhāsitā hoti.
Veditabbametaṁ, bhikkhave, asappuriso ayaṁ bhavanti.
Puna caparaṁ, bhikkhave, asappuriso yo hoti parassa vaṇṇo taṁ puṭṭhopi na pātu karoti, ko pana vādo apuṭṭhassa.
Puṭṭho kho pana pañhābhinīto hāpetvā lambitvā aparipūraṁ avitthārena parassa vaṇṇaṁ bhāsitā hoti.
Veditabbametaṁ, bhikkhave, asappuriso ayaṁ bhavanti.
Puna caparaṁ, bhikkhave, asappuriso yo hoti attano avaṇṇo taṁ puṭṭhopi na pātu karoti, ko pana vādo apuṭṭhassa.
Puṭṭho kho pana pañhābhinīto hāpetvā lambitvā aparipūraṁ avitthārena attano avaṇṇaṁ bhāsitā hoti.
Veditabbametaṁ, bhikkhave, asappuriso ayaṁ bhavanti.
Puna caparaṁ, bhikkhave, asappuriso yo hoti attano vaṇṇo taṁ apuṭṭhopi pātu karoti, ko pana vādo puṭṭhassa.
Puṭṭho kho pana pañhābhinīto ahāpetvā alambitvā paripūraṁ vitthārena attano vaṇṇaṁ bhāsitā hoti.
Veditabbametaṁ, bhikkhave, asappuriso ayaṁ bhavanti.
Imehi kho, bhikkhave, catūhi dhammehi samannāgato asappuriso veditabbo.
Catūhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato sappuriso veditabbo.
Katamehi catūhi?
Idha, bhikkhave, sappuriso yo hoti parassa avaṇṇo taṁ puṭṭhopi na pātu karoti, ko pana vādo apuṭṭhassa.
Puṭṭho kho pana pañhābhinīto hāpetvā lambitvā aparipūraṁ avitthārena parassa avaṇṇaṁ bhāsitā hoti.
Veditabbametaṁ, bhikkhave, sappuriso ayaṁ bhavanti.
Puna caparaṁ, bhikkhave, sappuriso yo hoti parassa vaṇṇo taṁ apuṭṭhopi pātu karoti, ko pana vādo puṭṭhassa.
Puṭṭho kho pana pañhābhinīto ahāpetvā alambitvā paripūraṁ vitthārena parassa vaṇṇaṁ bhāsitā hoti.
Veditabbametaṁ, bhikkhave, sappuriso ayaṁ bhavanti.
Puna caparaṁ, bhikkhave, sappuriso yo hoti attano avaṇṇo taṁ apuṭṭhopi pātu karoti, ko pana vādo puṭṭhassa.
Puṭṭho kho pana pañhābhinīto ahāpetvā alambitvā paripūraṁ vitthārena attano avaṇṇaṁ bhāsitā hoti.
Veditabbametaṁ, bhikkhave, sappuriso ayaṁ bhavanti.
Puna caparaṁ, bhikkhave, sappuriso yo hoti attano vaṇṇo taṁ puṭṭhopi na pātu karoti, ko pana vādo apuṭṭhassa.
Puṭṭho kho pana pañhābhinīto hāpetvā lambitvā aparipūraṁ avitthārena attano vaṇṇaṁ bhāsitā hoti.
Veditabbametaṁ, bhikkhave, sappuriso ayaṁ bhavanti.
Imehi kho, bhikkhave, catūhi dhammehi samannāgato sappuriso veditabbo.
Seyyathāpi, bhikkhave, vadhukā yaññadeva rattiṁ vā divaṁ vā ānītā hoti, tāvadevassā tibbaṁ hirottappaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sassuyāpi sasurepi sāmikepi antamaso dāsakammakaraporisesu.
Sā aparena samayena saṁvāsamanvāya vissāsamanvāya sassumpi sasurampi sāmikampi evamāha:
‘apetha, kiṁ pana tumhe jānāthā’ti.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekacco bhikkhu yaññadeva rattiṁ vā divaṁ vā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti, tāvadevassa tibbaṁ hirottappaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti bhikkhūsu bhikkhunīsu upāsakesu upāsikāsu antamaso ārāmikasamaṇuddesesu.
So aparena samayena saṁvāsamanvāya vissāsamanvāya ācariyampi upajjhāyampi evamāha:
‘apetha, kiṁ pana tumhe jānāthā’ti.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘adhunāgatavadhukāsamena cetasā viharissāmā’ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Tatiyaṁ.
“Monks, a person endowed with these four qualities can be known as ‘a person of no integrity.’ Which four?
“There is the case where a person of no integrity, when unasked, reveals another person’s bad points, to say nothing of when asked. Furthermore, when asked, when pressed with questions, he is one who speaks of another person’s bad points in full & in detail, without omission, without holding back. Of this person you may know, ‘This venerable one is a person of no integrity.’
“Then again, a person of no integrity, when asked, does not reveal another person’s good points, to say nothing of when unasked. Furthermore, when asked, when pressed with questions, he is one who speaks of another person’s good points not in full, not in detail, with omissions, holding back. Of this person you may know, ‘This venerable one is a person of no integrity.’
“Then again, a person of no integrity, when asked, does not reveal his own bad points, to say nothing of when unasked. Furthermore, when asked, when pressed with questions, he is one who speaks of his own bad points not in full, not in detail, with omissions, holding back. Of this person you may know, ‘This venerable one is a person of no integrity.’
“Then again, a person of no integrity, when unasked, reveals his own good points, to say nothing of when asked. Furthermore, when asked, when pressed with questions, he is one who speaks of his own good points in full & in detail, without omissions, without holding back. Of this person you may know, ‘This venerable one is a person of no integrity.’
“Monks, a person endowed with these four qualities can be known as ‘a person of no integrity.’
“Now, a person endowed with these four qualities can be known as ‘a person of integrity.’ Which four?
“There is the case where a person of integrity, when asked, does not reveal another person’s bad points, to say nothing of when unasked. Furthermore, when asked, when pressed with questions, he is one who speaks of another person’s bad points not in full, not in detail, with omissions, holding back. Of this person you may know, ‘This venerable one is a person of integrity.’
“Then again, a person of integrity, when unasked, reveals another person’s good points, to say nothing of when asked. Furthermore, when asked, when pressed with questions, he is one who speaks of another person’s good points in full & in detail, without omissions, without holding back. Of this person you may know, ‘This venerable one is a person of integrity.’
“Then again, a person of integrity, when unasked, reveals his own bad points, to say nothing of when asked. Furthermore, when asked, when pressed with questions, he is one who speaks of his own bad points in full & in detail, without omissions, without holding back. Of this person you may know, ‘This venerable one is a person of integrity.’
“Then again, a person of integrity, when asked, does not reveal his own good points, to say nothing of when unasked. Furthermore, when asked, when pressed with questions, he is one who speaks of his own good points not in full, not in detail, with omissions, holding back. Of this person you may know, ‘This venerable one is a person of integrity.’
“Monks, a person endowed with these four qualities can be known as ‘a person of integrity.’”
TTC 1—Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải được hiểu không phải bậc Chân nhân. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, không phải bậc Chân nhân là người dầu không được hỏi, nói lên lời không tán thán người khác; còn nói gì nếu được hỏi!
Nhưng nếu được hỏi và phải trả lời, thời không dè dặt, không ngập ngừng, vị này nói lên lời không tán thán người khác, đầy đủ toàn bộ. Này các Tỷ-kheo, cẩn phải được hiểu, này các Tỷ-kheo, vị này không phải Chân nhân.
TTC 2Lại nữa, này các Tỷ-kheo, không phải Chân nhân là người dầu được hỏi, không nói lên lời tán thán người khác; còn nói gì nếu không được hỏi!
Nhưng nếu được hỏi và phải trả lời, thời dè dặt và ngập ngừng, vị này nói lên lời tán thán người khác, không đầy đủ, không toàn bộ. Này các Tỷ-kheo, cần phải được hiểu, này các Tỷ-kheo, vị này không phải Chân nhân.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, không phải Chân nhân là người dầu được hỏi, không nói lên lời không tán thán về mình; còn nói gì nếu không được hỏi!
Nhưng nếu được hỏi và phải trả lời, thời dè dặt và ngập ngừng, vị này nói lên lời không tán thán về mình, không đầy đủ, không toàn bộ. Này các Tỷ-kheo, cần phải được hiểu, vị này không phải Chân nhân.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, không phải là Chân nhân là người dầu không được hỏi, cũng nói lên lời tán thán về mình; còn nói gì nếu được hỏi!
Nhưng nếu được hỏi và phải trả lời, không dè dặt, không ngập ngừng, vị này nói lên lời tán thán về mình, đầy đủ và toàn bộ. Này các Tỷ-kheo, cần phải được hiểu vị này không phải Chân nhân.
Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, cần phải được hiểu không phải bậc Chân nhân.
TTC 5Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải được hiểu là bậc Chân nhân. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, bậc Chân nhân là người dầu có được hỏi, không nói lên lời không tán thán người khác; còn nói gì nếu không được hỏi!
Nhưng nếu được hỏi, và phải trả lời, dè dặt và ngập ngừng, vị ấy không nói lên lời tán thán người khác. Cần phải được hiểu, này các Tỷ-kheo, vị này là bậc Chân nhân.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Chân nhân là người dầu không được hỏi, cũng nói lên lời tán thán người khác; còn nói gì nếu được hỏi.
Nếu được hỏi và phải trả lời, không dè dặt, không ngập ngừng, vị ấy nói lời tán thán người khác, đầy đủ và toàn bộ. Cần phải được hiểu, này các Tỷ-kheo, vị này là bậc Chân nhân.
TTC 7Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Chân nhân là Người, nếu không được hỏi, vẫn nói lên lời không tán thán về mình; còn nói gì nếu được hỏi!
Nếu được hỏi và phải trả lời, không dè dặt, không ngập ngừng, vị ấy nói lên lời không tán thán về mình, đầy đủ và toàn bộ. Cần phải được hiểu, này các Tỷ-kheo, vị này là bậc Chân nhân.
TTC 8Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Chân nhân dầu có được hỏi cũng không nói lên lời tán thán về mình; còn nói gì nếu không được hỏi!
Nếu được hỏi và phải trả lời, dè dặt và ngập ngừng, vị ấy nói lên lời tán thán về mình, không đầy đủ; không toàn bộ. Cần phải được hiểu, này các Tỷ-kheo, vị này là bậc Chân nhân.
Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, cần phải được hiểu là bậc Chân nhân.
“Catūhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato asappuriso veditabbo.
Katamehi catūhi?
Idha, bhikkhave, asappuriso yo hoti parassa avaṇṇo taṁ apuṭṭhopi pātu karoti, ko pana vādo puṭṭhassa.
Puṭṭho kho pana pañhābhinīto ahāpetvā alambitvā paripūraṁ vitthārena parassa avaṇṇaṁ bhāsitā hoti.
Veditabbametaṁ, bhikkhave, asappuriso ayaṁ bhavanti.
Puna caparaṁ, bhikkhave, asappuriso yo hoti parassa vaṇṇo taṁ puṭṭhopi na pātu karoti, ko pana vādo apuṭṭhassa.
Puṭṭho kho pana pañhābhinīto hāpetvā lambitvā aparipūraṁ avitthārena parassa vaṇṇaṁ bhāsitā hoti.
Veditabbametaṁ, bhikkhave, asappuriso ayaṁ bhavanti.
Puna caparaṁ, bhikkhave, asappuriso yo hoti attano avaṇṇo taṁ puṭṭhopi na pātu karoti, ko pana vādo apuṭṭhassa.
Puṭṭho kho pana pañhābhinīto hāpetvā lambitvā aparipūraṁ avitthārena attano avaṇṇaṁ bhāsitā hoti.
Veditabbametaṁ, bhikkhave, asappuriso ayaṁ bhavanti.
Puna caparaṁ, bhikkhave, asappuriso yo hoti attano vaṇṇo taṁ apuṭṭhopi pātu karoti, ko pana vādo puṭṭhassa.
Puṭṭho kho pana pañhābhinīto ahāpetvā alambitvā paripūraṁ vitthārena attano vaṇṇaṁ bhāsitā hoti.
Veditabbametaṁ, bhikkhave, asappuriso ayaṁ bhavanti.
Imehi kho, bhikkhave, catūhi dhammehi samannāgato asappuriso veditabbo.
Catūhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato sappuriso veditabbo.
Katamehi catūhi?
Idha, bhikkhave, sappuriso yo hoti parassa avaṇṇo taṁ puṭṭhopi na pātu karoti, ko pana vādo apuṭṭhassa.
Puṭṭho kho pana pañhābhinīto hāpetvā lambitvā aparipūraṁ avitthārena parassa avaṇṇaṁ bhāsitā hoti.
Veditabbametaṁ, bhikkhave, sappuriso ayaṁ bhavanti.
Puna caparaṁ, bhikkhave, sappuriso yo hoti parassa vaṇṇo taṁ apuṭṭhopi pātu karoti, ko pana vādo puṭṭhassa.
Puṭṭho kho pana pañhābhinīto ahāpetvā alambitvā paripūraṁ vitthārena parassa vaṇṇaṁ bhāsitā hoti.
Veditabbametaṁ, bhikkhave, sappuriso ayaṁ bhavanti.
Puna caparaṁ, bhikkhave, sappuriso yo hoti attano avaṇṇo taṁ apuṭṭhopi pātu karoti, ko pana vādo puṭṭhassa.
Puṭṭho kho pana pañhābhinīto ahāpetvā alambitvā paripūraṁ vitthārena attano avaṇṇaṁ bhāsitā hoti.
Veditabbametaṁ, bhikkhave, sappuriso ayaṁ bhavanti.
Puna caparaṁ, bhikkhave, sappuriso yo hoti attano vaṇṇo taṁ puṭṭhopi na pātu karoti, ko pana vādo apuṭṭhassa.
Puṭṭho kho pana pañhābhinīto hāpetvā lambitvā aparipūraṁ avitthārena attano vaṇṇaṁ bhāsitā hoti.
Veditabbametaṁ, bhikkhave, sappuriso ayaṁ bhavanti.
Imehi kho, bhikkhave, catūhi dhammehi samannāgato sappuriso veditabbo.
Seyyathāpi, bhikkhave, vadhukā yaññadeva rattiṁ vā divaṁ vā ānītā hoti, tāvadevassā tibbaṁ hirottappaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sassuyāpi sasurepi sāmikepi antamaso dāsakammakaraporisesu.
Sā aparena samayena saṁvāsamanvāya vissāsamanvāya sassumpi sasurampi sāmikampi evamāha:
‘apetha, kiṁ pana tumhe jānāthā’ti.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekacco bhikkhu yaññadeva rattiṁ vā divaṁ vā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti, tāvadevassa tibbaṁ hirottappaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti bhikkhūsu bhikkhunīsu upāsakesu upāsikāsu antamaso ārāmikasamaṇuddesesu.
So aparena samayena saṁvāsamanvāya vissāsamanvāya ācariyampi upajjhāyampi evamāha:
‘apetha, kiṁ pana tumhe jānāthā’ti.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘adhunāgatavadhukāsamena cetasā viharissāmā’ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Tatiyaṁ.