TTC 1—Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn, và biến mất. Thế nào là năm?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo không học thuộc lòng Khế kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Trí giải hay Phương quảng. Ðây là pháp thứ nhất, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo không thuyết pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ hai, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo không để cho các người khác nói pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ ba, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo không có đọc tụng pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ tư, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo với tâm không tùy tầm, không tùy tứ, với ý không tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ năm, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.
Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn, và biến mất.
TTC 7Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất. Thế nào là năm?
TTC 8Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp, Khế kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Trí giải hay Phương quảng. Ðây là pháp thứ nhất, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất.
TTC 9Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo thuyết pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ hai, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn và không biến mất.
TTC 10Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo để cho các người khác nói pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ ba, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn và không biến mất.
TTC 11Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo đọc tụng pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ tư, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn và không biến mất.
TTC 12Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo với tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ năm, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất.
Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất.
“Pañcime, bhikkhave, dhammā saddhammassa sammosāya antaradhānāya saṁvattanti.
Katame pañca?
Idha, bhikkhave, bhikkhū dhammaṁ na pariyāpuṇanti—
suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo dhammo saddhammassa sammosāya antaradhānāya saṁvattati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ na vitthārena paresaṁ desenti.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo dhammo saddhammassa sammosāya antaradhānāya saṁvattati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ na vitthārena paraṁ vācenti.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo dhammo saddhammassa sammosāya antaradhānāya saṁvattati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ na vitthārena sajjhāyaṁ karonti.
Ayaṁ, bhikkhave, catuttho dhammo saddhammassa sammosāya antaradhānāya saṁvattati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ na cetasā anuvitakkenti anuvicārenti manasānupekkhanti.
Ayaṁ, bhikkhave, pañcamo dhammo saddhammassa sammosāya antaradhānāya saṁvattati.
Ime kho, bhikkhave, pañca dhammā saddhammassa sammosāya antaradhānāya saṁvattanti.
Pañcime, bhikkhave, dhammā saddhammassa ṭhitiyā asammosāya anantaradhānāya saṁvattanti.
Katame pañca?
Idha, bhikkhave, bhikkhū dhammaṁ pariyāpuṇanti—
suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo dhammo saddhammassa ṭhitiyā asammosāya anantaradhānāya saṁvattati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena paresaṁ desenti.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo dhammo saddhammassa ṭhitiyā asammosāya anantaradhānāya saṁvattati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena paraṁ vācenti.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo dhammo saddhammassa ṭhitiyā asammosāya anantaradhānāya saṁvattati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena sajjhāyaṁ karonti.
Ayaṁ, bhikkhave, catuttho dhammo saddhammassa ṭhitiyā asammosāya anantaradhānāya saṁvattati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ cetasā anuvitakkenti anuvicārenti manasānupekkhanti.
Ayaṁ, bhikkhave, pañcamo dhammo saddhammassa ṭhitiyā asammosāya anantaradhānāya saṁvattati.
Ime kho, bhikkhave, pañca dhammā saddhammassa ṭhitiyā asammosāya anantaradhānāya saṁvattantī”ti.
Pañcamaṁ.
“Mendicants, these five things lead to the decline and disappearance of the true teaching.
What five?
It’s when the mendicants don’t memorize the teaching—
statements, mixed prose & verse, discussions, verses, inspired exclamations, legends, stories of past lives, amazing stories, and elaborations.
This is the first thing that leads to the decline and disappearance of the true teaching.
Furthermore, the mendicants don’t explain the teaching in detail to others as they learned and memorized it.
This is the second thing …
Furthermore, the mendicants don’t make others recite the teaching in detail as they learned and memorized it.
This is the third thing …
Furthermore, the mendicants don’t rehearse the teaching in detail as they learned and memorized it.
This is the fourth thing …
Furthermore, the mendicants don’t think about and consider the teaching in their hearts, examining it with their minds as they learned and memorized it.
This is the fifth thing that leads to the decline and disappearance of the true teaching.
These five things lead to the decline and disappearance of the true teaching.
These five things lead to the continuation, persistence, and enduring of the true teaching.
What five?
It’s when the mendicants memorize the teaching—
statements, mixed prose & verse, discussions, verses, inspired exclamations, legends, stories of past lives, amazing stories, and elaborations.
This is the first thing that leads to the continuation, persistence, and enduring of the true teaching.
Furthermore, the mendicants explain the teaching in detail to others as they learned and memorized it.
This is the second thing …
Furthermore, the mendicants make others recite the teaching in detail as they learned and memorized it.
This is the third thing …
Furthermore, the mendicants rehearse the teaching in detail as they learned and memorized it.
This is the fourth thing …
Furthermore, the mendicants think about and consider the teaching in their hearts, examining it with their minds as they learned and memorized it.
This is the fifth thing that leads to the continuation, persistence, and enduring of the true teaching.
These five things lead to the continuation, persistence, and enduring of the true teaching.”
TTC 1—Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn, và biến mất. Thế nào là năm?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo không học thuộc lòng Khế kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Trí giải hay Phương quảng. Ðây là pháp thứ nhất, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo không thuyết pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ hai, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo không để cho các người khác nói pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ ba, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo không có đọc tụng pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ tư, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo với tâm không tùy tầm, không tùy tứ, với ý không tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ năm, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.
Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn, và biến mất.
TTC 7Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất. Thế nào là năm?
TTC 8Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp, Khế kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Trí giải hay Phương quảng. Ðây là pháp thứ nhất, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất.
TTC 9Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo thuyết pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ hai, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn và không biến mất.
TTC 10Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo để cho các người khác nói pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ ba, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn và không biến mất.
TTC 11Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo đọc tụng pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ tư, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn và không biến mất.
TTC 12Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo với tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ năm, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất.
Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất.
“Pañcime, bhikkhave, dhammā saddhammassa sammosāya antaradhānāya saṁvattanti.
Katame pañca?
Idha, bhikkhave, bhikkhū dhammaṁ na pariyāpuṇanti—
suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo dhammo saddhammassa sammosāya antaradhānāya saṁvattati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ na vitthārena paresaṁ desenti.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo dhammo saddhammassa sammosāya antaradhānāya saṁvattati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ na vitthārena paraṁ vācenti.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo dhammo saddhammassa sammosāya antaradhānāya saṁvattati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ na vitthārena sajjhāyaṁ karonti.
Ayaṁ, bhikkhave, catuttho dhammo saddhammassa sammosāya antaradhānāya saṁvattati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ na cetasā anuvitakkenti anuvicārenti manasānupekkhanti.
Ayaṁ, bhikkhave, pañcamo dhammo saddhammassa sammosāya antaradhānāya saṁvattati.
Ime kho, bhikkhave, pañca dhammā saddhammassa sammosāya antaradhānāya saṁvattanti.
Pañcime, bhikkhave, dhammā saddhammassa ṭhitiyā asammosāya anantaradhānāya saṁvattanti.
Katame pañca?
Idha, bhikkhave, bhikkhū dhammaṁ pariyāpuṇanti—
suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo dhammo saddhammassa ṭhitiyā asammosāya anantaradhānāya saṁvattati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena paresaṁ desenti.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo dhammo saddhammassa ṭhitiyā asammosāya anantaradhānāya saṁvattati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena paraṁ vācenti.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo dhammo saddhammassa ṭhitiyā asammosāya anantaradhānāya saṁvattati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena sajjhāyaṁ karonti.
Ayaṁ, bhikkhave, catuttho dhammo saddhammassa ṭhitiyā asammosāya anantaradhānāya saṁvattati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ cetasā anuvitakkenti anuvicārenti manasānupekkhanti.
Ayaṁ, bhikkhave, pañcamo dhammo saddhammassa ṭhitiyā asammosāya anantaradhānāya saṁvattati.
Ime kho, bhikkhave, pañca dhammā saddhammassa ṭhitiyā asammosāya anantaradhānāya saṁvattantī”ti.
Pañcamaṁ.