TTC 1Tại đấy, Tôn giả Sàriputta bảo các Tỷ-kheo:
—Này các Hiền giả, khi Tỷ-kheo buộc tội muốn buộc tội người khác, hãy an trú nội tâm năm pháp rồi hãy buộc tội. Thế nào là năm?
TTC 2“Tôi sẽ nói đúng thời, không phải phi thời”; “Tôi sẽ nói chơn thật, không phải phi chơn thật”; “Tôi sẽ nói nhu hòa, không phải thô bạo”; “Tôi sẽ nói lời liên hệ đến lợi ích, không phải lời không liên hệ đến lợi ích”; “Tôi sẽ nói với từ tâm, không phải với sân tâm”.
Này các Hiền giả, khi vị Tỷ-kheo buộc tội muốn buộc tội người khác, hãy an trú nội tâm năm pháp rồi hãy buộc tội người khác.
TTC 3Ở đây, này các Hiền giả, tôi thấy có người bị buộc tội phi thời, nhưng phản ứng không đúng thời; có người bị buộc tội phi chơn thạt và có phản ứng không chơn thật; bị buộc tội thô bạo và có phản ứng không nhu hòa; bị buộc tội không liên hệ đến lợi ích và có phản ứng không liên hệ đến lợi ích; bị buộc tội với sân tâm và có phản ứng không có từ tâm.
TTC 4Tỷ-kheo buộc tội phi pháp, có năm lý do không cần sắp đặt sám hối: “Tôn giả bị buộc tội phi thời, không đúng thời, như vậy vừa đủ để Tôn giả không sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội phi chơn thật, không phải chơn thật, như vậy vừa đủ để Tôn giả không sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội thô bạo, không có nhu hòa, như vậy vừa đủ để Tôn giả không sám hối”; “Tôn giả bị buộc tôi không liên hệ đến lợi ích, không phải liên hệ đến lợi ích, như vậy vừa đủ để Tôn giả không sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội với sân tâm, không với từ tâm, như vậy vừa đủ để Tôn giả không sám hối”.
Tỷ-kheo bị buộc tội một cách phi pháp, có năm lý do này không cần phải sắp đặt sám hối.
TTC 5Tỷ-kheo buộc tội phi pháp, có năm lý do cần sắp đặt sám hối: “Hiền giả đã buộc tội phi thời, không phải đúng thời, như vậy vừa đủ để Hiền giả sám hối”; “Hiền giả đã buộc tội phi chơn, không phải chơn thực, như vậy vừa đủ để Hiền giả sám hối”; “Hiền giả đã buộc tội một cách thô bạo, không có nhu hòa, như vậy vừa đủ để Hiền giả sám hối”; “Tôn giả đã buộc tôi liên hệ đến lợi ích, không phải liên hệ đến lợi ích, như vậy vừa đủ để Hiền giả sám hối”; “Hiền giả đã buộc tội với sân tâm, không với từ tâm, như vậy vừa đủ để Hiền giả sám hối”.
Tỷ-kheo buộc tội phi pháp, này các Hiền giả, có năm lý do này cần phải sắp đặt sám hối. Vì sao? Vì rằng nhờ vậy không một Tỷ-kheo nào khác nghĩ rằng có thể buộc tội phi chơn thật.
TTC 6Ở đây, này các Hiền giả, tôi thấy có người bị buộc tội đúng thời, không phản ứng phi thời; bị buộc tội chơn thật, không phản ứng phi chơn thật; bị buộc tội nhu hòa, không phản ứng thô bạo; bị buộc tội liên hệ đến lợi ích, không phản ứng không liên hệ đến lợi ích, bị buộc tội với từ tâm, không phản ứng với sân tâm.
TTC 7Tỷ-kheo, này các Hiền giả, bị buộc tội đúng pháp có năm lý do cần phải sắp đặt sám hối: “Tôn giả bị buộc tội đúng thời, không phải phi thời, như vậy vừa đủ để Tôn giả sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội chơn thực, không phải phi chơn thực, như vậy vừa đủ để Tôn giả sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội nhu hòa không thô bạo, như vậy vừa đủ để Tôn giả sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội liên hệ đến lợi ích, không phải không liên hệ đến lợi ích, như vậy vừa đủ để Tôn giả sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội với từ tâm, không phải với sân tâm, như vậy vừa đủ để Tôn giả sám hối”.
Tỷ-kheo bị buộc tội đúng pháp có năm lý do này, cần phải sắp đặt sám hối.
TTC 8Tỷ-kheo, này các Hiền giả, buộc tội đúng pháp có năm lý do để không phải sắp đặt sám hối: “Hiền giả buộc tội đúng thời, không phải phi thời, như vậy vừa đủ để Hiền giả không sám hối”; “Hiền giả bị buộc tội chơn thực, không phải phi chơn thực, như vậy vừa đủ để Hiền giả không sám hối”; “Hiền giả bị buộc tội nhu hoà, không phải thô bạo, như vậy vừa đủ để hiền giả không sám hối”; “Hiền giả bị buộc tội không liên hệ đến lợi ích, không phải liên hệ đến lợi ích, như vậy vừa đủ để Hiền giả không sám hối”; “Hiền giả bị buộc tội với từ tâm, không với sân tâm, như vậy vừa đủ để Hiền giả không sám hối”.
Này các Hiền giả, Tỷ-kheo buộc tội đúng pháp, do năm lý do này không cần phải sắp đặt sám hối. Vì sao? Vì nhờ vậy, các Tỷ-kheo khác nghĩ rằng buộc tội cần phải đúng pháp.
TTC 9Người bị buộc tội, thưa các Hiền giả, cần phải an trú trong hai pháp: chơn thực và bất động. Này các Hiền giả, nếu các người khác buộc tội tôi, đúng thời hay phi thời, chơn thật hay phi chơn thật, nhu hòa hay thô bạo, liên hệ đến lợi ích hay không liên hệ đến lợi ích, với từ tâm hay với sân tâm, thì cần phải an trú trong hai pháp: Chơn thực và bất động. Nếu tôi biết: “Pháp này có trong tôi”, nếu tôi nghĩ là “có”, tôi sẽ nói: “Pháp này có trong tôi”. Nếu tôi biết: “Pháp này không có trong tôi”, nếu tôi nghĩ là “không có”, tôi sẽ nói: “Pháp này không có trong tôi”.
TTC 10Thế Tôn nói:
—Như vậy này Sàriputta, khi Thầy nói như vậy, ở đây có một số người ngu nào không có khả năng nắm được vấn đề?
TTC 11—Bạch Thế Tôn, những người nào không có lòng tin, với mục đích mưu sống, không vì lòng tin xuất gia từ bỏ gia đình; sống không gia đình, những người xảo trá, lường gạt, hư ngụy, mất thăng bằng, cao mạn, dao động, lắm lời, nói thô tạp nhạp, không hộ trì các căn, ăn uống không tiết độ, không chú tâm cảnh giác, thờ ơ với Sa-môn hạnh, không tôn kính học tập, sống quá đầy đủ, uể oải, đi đầu trong thối thất, từ bỏ gánh nặng, viễn ly, biếng nhác, tinh cần thấp kém, thất niệm, không tỉnh giác, không định tâm, tâm tán loạn, liệt tuệ, câm ngọng; khi con nói như vậy, họ không có khả năng nắm được vấn đề. Nhưng các thiện nam tử, bạch Thế Tôn, vì lòng tin xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, không xảo trá, lường gạt, không hư ngụy, không mất thăng bằng, không cao mạn, không dao động, không lắm lời, không nói thô tạp nhạp, hộ trì các căn, ăn uống có tiết độ, chú tâm cảnh giác, không thờ ơ với Sa-môn hạnh, tôn kính học tập, không sống quá đầy đủ, không uể oải, từ bỏ gánh nặng đọa lạc, đi đầu trong đời sống viễn ly, tinh cần tinh tấn, siêng năng, an trú chánh niệm tỉnh giác, định tĩnh, nhất tâm, có trí tuệ, không câm ngọng. Khi con nói như vậy, các vị này có khả năng nắm giữ vấn đề.
TTC 12—Này Sàriputta, các người nào không vì lòng tin, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, những người xảo trá, lường gạt, hư ngụy, mất thăng bằng, cao mạn, dao động, lắm lời, nói thô tạp nhạp, không hộ trì các căn, ăn uống không tiết độ, không chú tâm cảnh giác, thờ ơ với Sa-môn hạnh, không tôn kính học tập, sống quá đầy đủ, uể oải, đi đầu trong thối thất, từ bỏ gánh nặng, viễn ly, biếng nhác, tinh cần thấp kém, thất niệm, không tỉnh giác, không định tâm, tâm tán loạn, liệt tuệ, câm ngọng, hãy để họ một bên. Nhưng này Sàriputta, những thiện nam tử, vì lòng tin, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, không xảo trá, lường gạt, không hư ngụy, không mất thăng bằng, không cao mạn, không dao động, không lắm lời, không nói thô tạp nhạp, hộ trì các căn, ăn uống có tiết độ, chú tâm cảnh giác, không thờ ơ với Sa-môn hạnh, tôn kính học tập, không sống quá đầy đủ, không uể oải, từ bỏ gánh nặng đọa lạc, đi đầu trong đời sống viễn ly, tinh cần tinh tấn, siêng năng, an trú chánh niệm tỉnh giác, định tĩnh, nhất tâm, có trí tuệ, không câm ngọng, hãy nói chuyện với họ. Hãy giáo giới các vị đồng Phạm hạnh, hãy giảng dạy, này Sàriputta, các vị đồng Phạm hạnh nghĩ rằng: “Sau khi giúp ra khỏi phi diệu pháp, tôi an trú các vị đồng Phạm hạnh trong diệu pháp”. Này Sariputta hãy như vậy học tập.
Tatra kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi:
“codakena, āvuso, bhikkhunā paraṁ codetukāmena pañca dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhāpetvā paro codetabbo.
Katame pañca?
Kālena vakkhāmi, no akālena;
bhūtena vakkhāmi, no abhūtena;
saṇhena vakkhāmi, no pharusena;
atthasaṁhitena vakkhāmi, no anatthasaṁhitena;
mettacitto vakkhāmi, no dosantaro.
Codakena, āvuso, bhikkhunā paraṁ codetukāmena ime pañca dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhāpetvā paro codetabbo.
Idhāhaṁ, āvuso, ekaccaṁ puggalaṁ passāmi akālena codiyamānaṁ no kālena kupitaṁ, abhūtena codiyamānaṁ no bhūtena kupitaṁ, pharusena codiyamānaṁ no saṇhena kupitaṁ, anatthasaṁhitena codiyamānaṁ no atthasaṁhitena kupitaṁ, dosantarena codiyamānaṁ no mettacittena kupitaṁ.
Adhammacuditassa, āvuso, bhikkhuno pañcahākārehi avippaṭisāro upadahātabbo:
‘akālenāyasmā cudito no kālena, alaṁ te avippaṭisārāya;
abhūtenāyasmā cudito no bhūtena, alaṁ te avippaṭisārāya;
pharusenāyasmā cudito no saṇhena, alaṁ te avippaṭisārāya;
anatthasaṁhitenāyasmā cudito no atthasaṁhitena, alaṁ te avippaṭisārāya;
dosantarenāyasmā cudito no mettacittena, alaṁ te avippaṭisārāyā’ti.
Adhammacuditassa, āvuso, bhikkhuno imehi pañcahākārehi avippaṭisāro upadahātabbo.
Adhammacodakassa, āvuso, bhikkhuno pañcahākārehi vippaṭisāro upadahātabbo:
‘akālena te, āvuso, codito no kālena, alaṁ te vippaṭisārāya;
abhūtena te, āvuso, codito no bhūtena, alaṁ te vippaṭisārāya;
pharusena te, āvuso, codito no saṇhena, alaṁ te vippaṭisārāya;
anatthasaṁhitena te, āvuso, codito no atthasaṁhitena, alaṁ te vippaṭisārāya;
dosantarena te, āvuso, codito no mettacittena, alaṁ te vippaṭisārāyā’ti.
Adhammacodakassa, āvuso, bhikkhuno imehi pañcahākārehi vippaṭisāro upadahātabbo.
Taṁ kissa hetu?
Yathā na aññopi bhikkhu abhūtena codetabbaṁ maññeyyāti.
Idha panāhaṁ, āvuso, ekaccaṁ puggalaṁ passāmi kālena codiyamānaṁ no akālena kupitaṁ, bhūtena codiyamānaṁ no abhūtena kupitaṁ, saṇhena codiyamānaṁ no pharusena kupitaṁ, atthasaṁhitena codiyamānaṁ no anatthasaṁhitena kupitaṁ, mettacittena codiyamānaṁ no dosantarena kupitaṁ.
Dhammacuditassa, āvuso, bhikkhuno pañcahākārehi vippaṭisāro upadahātabbo:
‘kālenāyasmā cudito no akālena, alaṁ te vippaṭisārāya;
bhūtenāyasmā cudito no abhūtena, alaṁ te vippaṭisārāya;
saṇhenāyasmā cudito no pharusena, alaṁ te vippaṭisārāya;
atthasaṁhitenāyasmā cudito no anatthasaṁhitena, alaṁ te vippaṭisārāya;
mettacittenāyasmā cudito no dosantarena, alaṁ te vippaṭisārāyā’ti.
Dhammacuditassa, āvuso, bhikkhuno imehi pañcahākārehi vippaṭisāro upadahātabbo.
Dhammacodakassa, āvuso, bhikkhuno pañcahākārehi avippaṭisāro upadahātabbo:
‘kālena te, āvuso, codito no akālena, alaṁ te avippaṭisārāya;
bhūtena te, āvuso, codito no abhūtena, alaṁ te avippaṭisārāya;
saṇhena te, āvuso, codito no pharusena, alaṁ te avippaṭisārāya;
atthasaṁhitena te, āvuso, codito no anatthasaṁhitena, alaṁ te avippaṭisārāya;
mettacittena te, āvuso, codito no dosantarena, alaṁ te avippaṭisārāyā’ti.
Dhammacodakassa, āvuso, bhikkhuno imehi pañcahākārehi avippaṭisāro upadahātabbo.
Taṁ kissa hetu?
Yathā aññopi bhikkhu bhūtena coditabbaṁ maññeyyāti.
Cuditena, āvuso, puggalena dvīsu dhammesu patiṭṭhātabbaṁ—
sacce ca, akuppe ca.
Mañcepi, āvuso, pare codeyyuṁ kālena vā akālena vā bhūtena vā abhūtena vā saṇhena vā pharusena vā atthasaṁhitena vā anatthasaṁhitena vā mettacittā vā dosantarā vā, ahampi dvīsuyeva dhammesu patiṭṭhaheyyaṁ—
sacce ca, akuppe ca.
Sace jāneyyaṁ:
‘attheso mayi dhammo’ti, ‘atthī’ti naṁ vadeyyaṁ:
‘saṁvijjateso mayi dhammo’ti.
Sace jāneyyaṁ:
‘nattheso mayi dhammo’ti, ‘natthī’ti naṁ vadeyyaṁ:
‘neso dhammo mayi saṁvijjatī’”ti.
“Evampi kho te, sāriputta, vuccamānā atha ca panidhekacce moghapurisā na padakkhiṇaṁ gaṇhantī”ti.
“Ye te, bhante, puggalā assaddhā jīvikatthā na saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā saṭhā māyāvino ketabino uddhatā unnaḷā capalā mukharā vikiṇṇavācā indriyesu aguttadvārā bhojane amattaññuno jāgariyaṁ ananuyuttā sāmaññe anapekkhavanto sikkhāya na tibbagāravā bāhulikā sāthalikā okkamane pubbaṅgamā paviveke nikkhittadhurā kusītā hīnavīriyā muṭṭhassatino asampajānā asamāhitā vibbhantacittā duppaññā eḷamūgā, te mayā evaṁ vuccamānā na padakkhiṇaṁ gaṇhanti.
Ye pana te, bhante, kulaputtā saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā asaṭhā amāyāvino aketabino anuddhatā anunnaḷā acapalā amukharā avikiṇṇavācā indriyesu guttadvārā bhojane mattaññuno jāgariyaṁ anuyuttā sāmaññe apekkhavanto sikkhāya tibbagāravā na bāhulikā na sāthalikā okkamane nikkhittadhurā paviveke pubbaṅgamā āraddhavīriyā pahitattā upaṭṭhitassatino sampajānā samāhitā ekaggacittā paññavanto aneḷamūgā, te mayā evaṁ vuccamānā padakkhiṇaṁ gaṇhantī”ti.
“Ye te, sāriputta, puggalā assaddhā jīvikatthā na saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā saṭhā māyāvino ketabino uddhatā unnaḷā capalā mukharā vikiṇṇavācā indriyesu aguttadvārā bhojane amattaññuno jāgariyaṁ ananuyuttā sāmaññe anapekkhavanto sikkhāya na tibbagāravā bāhulikā sāthalikā okkamane pubbaṅgamā paviveke nikkhittadhurā kusītā hīnavīriyā muṭṭhassatino asampajānā asamāhitā vibbhantacittā duppaññā eḷamūgā, tiṭṭhantu te.
Ye pana te, sāriputta, kulaputtā saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā asaṭhā amāyāvino aketabino anuddhatā anunnaḷā acapalā amukharā avikiṇṇavācā indriyesu guttadvārā bhojane mattaññuno jāgariyaṁ anuyuttā sāmaññe apekkhavanto sikkhāya tibbagāravā na bāhulikā na sāthalikā okkamane nikkhittadhurā paviveke pubbaṅgamā āraddhavīriyā pahitattā upaṭṭhitassatino sampajānā samāhitā ekaggacittā paññavanto aneḷamūgā, te tvaṁ, sāriputta, vadeyyāsi.
Ovada, sāriputta, sabrahmacārī;
anusāsa, sāriputta, sabrahmacārī:
‘asaddhammā vuṭṭhāpetvā saddhamme patiṭṭhāpessāmi sabrahmacārī’ti.
Evañhi te, sāriputta, sikkhitabban”ti.
Sattamaṁ.
SC 1Venerable Sāriputta addressed the monks: “Venerables, a monk who wishes to criticize another should first establish five resolutions:
SC 2“I will speak at a proper time, not an improper time.
SC 3“I will speak truthfully, not untruthfully.
SC 4“I will speak gently, not harshly.
SC 5“I will speak beneficially, not unbeneficially.
SC 6“I will speak with a mind of loving-kindness, not with internal hatred.
SC 7“A monk who wishes to criticize another should first establish these five resolutions.
SC 8“Venerables, here I see a certain person became upset when they were criticized at the wrong time, not the right time; they became upset when they were criticized untruthfully, not truthfully; they became upset when they were criticized harshly, not gently; they became upset when they were criticized unbeneficially, not beneficially; they became upset when they were criticized with internal hatred, not with a mind of loving-kindness.
SC 9“Venerables, that monk who was criticized improperly1 should be provided with non-remorse in five ways: ‘Venerable, you were criticized at the wrong time, not the right time; that is sufficient reason for you to lack remorse. You were criticized untruthfully, not truthfully; that is sufficient reason for you to lack remorse. You were criticized harshly, not gently; that is sufficient reason for you to lack remorse. You were criticized unbeneficially, not beneficially; that is sufficient reason for you to lack remorse. You were criticized with internal hatred, not with a mind of loving-kindness; that is sufficient reason for you to lack remorse.’ Venerables, that monk who was criticized improperly should be provided with non-remorse in these five ways.
SC 10“Venerables, the monk who criticized improperly should be provided with remorse in five ways: ‘Venerable, you criticized at the wrong time, not the right time; that is sufficient reason for you to feel remorse. You criticized untruthfully, not truthfully; that is sufficient reason for you to feel remorse. You criticized harshly, not gently; that is sufficient reason for you to feel remorse. You criticized unbeneficially, not beneficially; that is sufficient reason for you to feel remorse. You criticized with internal hatred, not with a mind of loving-kindness; that is sufficient reason for you to feel remorse.’ Venerables, the monk who criticized improperly should be provided with remorse in these five ways. For what reason? So that another monk will not think to untruthfully criticize.
SC 11“Venerables, here I see a certain person became upset when they were criticized at the right time, not the wrong time; they became upset when they were criticized truthfully, not untruthfully; they became upset when they were criticized gently, not harshly; they became upset when they were criticized beneficially, not unbeneficially; they became upset when they were criticized with a mind of loving-kindness, not with internal hatred.
SC 12“Venerables, that monk who was criticized properly should be provided with remorse in five ways: ‘Venerable, you were criticized at the right time, not the wrong time; that is sufficient reason for you to feel remorse. You were criticized truthfully, not untruthfully; that is sufficient reason for you to feel remorse. You were criticized gently, not harshly; that is sufficient reason for you to feel remorse. You were criticized beneficially, not unbeneficially; that is sufficient reason for you to feel remorse. You were criticized with a mind of loving-kindness, not with internal hatred; that is sufficient reason for you to feel remorse.’ Venerables, that monk who was criticized properly should be provided with remorse in these five ways.
SC 13“Venerables, the monk who criticized properly should be provided with non-remorse in five ways: ‘‘Venerable, you criticized at the right time, not the wrong time; that is sufficient reason for you to lack remorse. You criticized truthfully, not untruthfully; that is sufficient reason for you to lack remorse. You criticized gently, not harshly; that is sufficient reason for you to lack remorse. You criticized beneficially, not unbeneficially; that is sufficient reason for you to lack remorse. You criticized with a mind of loving-kindness, not with internal hatred; that is sufficient reason for you to lack remorse.’ Venerables, the monk who criticized properly should be provided with non-remorse in these five ways. For what reason? So that another monk will think to truthfully criticize.
SC 14“Venerables, when a person is criticized, they should be established in two things: the truth, and imperturbability. Venerables, whether others criticize me at the right time or the wrong time, truthfully or untruthfully, gently or harshly, beneficially or unbeneficially, with a mind of loving-kindness or with internal hatred, still I will be established in these two things: the truth, and imperturbability. If I know, ‘This is present in me,’ then I say, ‘It is present, it is found in me.’ If I know, ‘That is not present in me,’ then I say, ‘It is not present, it is not found in me.’”
SC 15“Sāriputta2, although you are saying this, there are still some confused people here who do not acquire respectfulness.”
SC 16“Bhante, those people who lack faith, who leave the household life and become a homeless monastic for the sake of a livelihood rather than because of faith, who are deceitful, fraudulent, dishonest, arrogant, insolent, fickle, talkative, babbling, with unguarded senses, immoderate in eating, not devoted to wakefulness, uninterested in contemplation, not reverential of the training, living excessively, sloppy, masters in backsliding, who have given up on seclusion, lazy, unenergetic, unmindful, unaware, unconcentrated, scatter-minded, unwise, and obtuse – those are the ones who, when I am saying this, do not acquire respectfulness.
SC 17“However, Bhante, those good people who leave the household life and become a homeless monastic because of faith, who are not deceitful, not fraudulent, honest, not arrogant, not insolent, not fickle, not talkative, not babbling, with guarded senses, moderate in eating, devoted to wakefulness, interested in contemplation, reverential of the training, not living excessively, not sloppy, who have given up on backsliding, are masters of seclusion, energetic, self-directed, mindful, aware, concentrated, with unified minds, wise, not obtuse – those are the ones who, when I am saying this, acquire respectfulness.”
SC 18“Sāriputta, those people who lack faith, who leave the household life and become a homeless monastic for the sake of a livelihood rather than because of faith, who are deceitful, fraudulent, dishonest, arrogant, insolent, fickle, talkative, babbling, with unguarded senses, immoderate in eating, not devoted to wakefulness, uninterested in contemplation, not reverential of the training, living excessively, sloppy, masters in backsliding, who have given up on seclusion, lazy, unenergetic, unmindful, unaware, unconcentrated, scatter-minded, unwise, and obtuse – let them be.
SC 19“Sāriputta, those good people who leave the household life and become a homeless monastic because of faith, who are not deceitful, not fraudulent, honest, not arrogant, not insolent, not fickle, not talkative, not babbling, with guarded senses, moderate in eating, devoted to wakefulness, interested in contemplation, reverential of the training, not living excessively, not sloppy, who have given up on backsliding, are masters of seclusion, energetic, self-directed, mindful, aware, concentrated, with unified minds, wise, not obtuse – Sāriputta, those are the ones you should speak to. Sāriputta, advise your fellow practitioners; Sāriputta, instruct your fellow practitioners; thinking ‘I will help them emerge from bad things and establish them in good things.’ Sāriputta, this is how you are to train yourself.”
TTC 1Tại đấy, Tôn giả Sàriputta bảo các Tỷ-kheo:
—Này các Hiền giả, khi Tỷ-kheo buộc tội muốn buộc tội người khác, hãy an trú nội tâm năm pháp rồi hãy buộc tội. Thế nào là năm?
TTC 2“Tôi sẽ nói đúng thời, không phải phi thời”; “Tôi sẽ nói chơn thật, không phải phi chơn thật”; “Tôi sẽ nói nhu hòa, không phải thô bạo”; “Tôi sẽ nói lời liên hệ đến lợi ích, không phải lời không liên hệ đến lợi ích”; “Tôi sẽ nói với từ tâm, không phải với sân tâm”.
Này các Hiền giả, khi vị Tỷ-kheo buộc tội muốn buộc tội người khác, hãy an trú nội tâm năm pháp rồi hãy buộc tội người khác.
TTC 3Ở đây, này các Hiền giả, tôi thấy có người bị buộc tội phi thời, nhưng phản ứng không đúng thời; có người bị buộc tội phi chơn thạt và có phản ứng không chơn thật; bị buộc tội thô bạo và có phản ứng không nhu hòa; bị buộc tội không liên hệ đến lợi ích và có phản ứng không liên hệ đến lợi ích; bị buộc tội với sân tâm và có phản ứng không có từ tâm.
TTC 4Tỷ-kheo buộc tội phi pháp, có năm lý do không cần sắp đặt sám hối: “Tôn giả bị buộc tội phi thời, không đúng thời, như vậy vừa đủ để Tôn giả không sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội phi chơn thật, không phải chơn thật, như vậy vừa đủ để Tôn giả không sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội thô bạo, không có nhu hòa, như vậy vừa đủ để Tôn giả không sám hối”; “Tôn giả bị buộc tôi không liên hệ đến lợi ích, không phải liên hệ đến lợi ích, như vậy vừa đủ để Tôn giả không sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội với sân tâm, không với từ tâm, như vậy vừa đủ để Tôn giả không sám hối”.
Tỷ-kheo bị buộc tội một cách phi pháp, có năm lý do này không cần phải sắp đặt sám hối.
TTC 5Tỷ-kheo buộc tội phi pháp, có năm lý do cần sắp đặt sám hối: “Hiền giả đã buộc tội phi thời, không phải đúng thời, như vậy vừa đủ để Hiền giả sám hối”; “Hiền giả đã buộc tội phi chơn, không phải chơn thực, như vậy vừa đủ để Hiền giả sám hối”; “Hiền giả đã buộc tội một cách thô bạo, không có nhu hòa, như vậy vừa đủ để Hiền giả sám hối”; “Tôn giả đã buộc tôi liên hệ đến lợi ích, không phải liên hệ đến lợi ích, như vậy vừa đủ để Hiền giả sám hối”; “Hiền giả đã buộc tội với sân tâm, không với từ tâm, như vậy vừa đủ để Hiền giả sám hối”.
Tỷ-kheo buộc tội phi pháp, này các Hiền giả, có năm lý do này cần phải sắp đặt sám hối. Vì sao? Vì rằng nhờ vậy không một Tỷ-kheo nào khác nghĩ rằng có thể buộc tội phi chơn thật.
TTC 6Ở đây, này các Hiền giả, tôi thấy có người bị buộc tội đúng thời, không phản ứng phi thời; bị buộc tội chơn thật, không phản ứng phi chơn thật; bị buộc tội nhu hòa, không phản ứng thô bạo; bị buộc tội liên hệ đến lợi ích, không phản ứng không liên hệ đến lợi ích, bị buộc tội với từ tâm, không phản ứng với sân tâm.
TTC 7Tỷ-kheo, này các Hiền giả, bị buộc tội đúng pháp có năm lý do cần phải sắp đặt sám hối: “Tôn giả bị buộc tội đúng thời, không phải phi thời, như vậy vừa đủ để Tôn giả sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội chơn thực, không phải phi chơn thực, như vậy vừa đủ để Tôn giả sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội nhu hòa không thô bạo, như vậy vừa đủ để Tôn giả sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội liên hệ đến lợi ích, không phải không liên hệ đến lợi ích, như vậy vừa đủ để Tôn giả sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội với từ tâm, không phải với sân tâm, như vậy vừa đủ để Tôn giả sám hối”.
Tỷ-kheo bị buộc tội đúng pháp có năm lý do này, cần phải sắp đặt sám hối.
TTC 8Tỷ-kheo, này các Hiền giả, buộc tội đúng pháp có năm lý do để không phải sắp đặt sám hối: “Hiền giả buộc tội đúng thời, không phải phi thời, như vậy vừa đủ để Hiền giả không sám hối”; “Hiền giả bị buộc tội chơn thực, không phải phi chơn thực, như vậy vừa đủ để Hiền giả không sám hối”; “Hiền giả bị buộc tội nhu hoà, không phải thô bạo, như vậy vừa đủ để hiền giả không sám hối”; “Hiền giả bị buộc tội không liên hệ đến lợi ích, không phải liên hệ đến lợi ích, như vậy vừa đủ để Hiền giả không sám hối”; “Hiền giả bị buộc tội với từ tâm, không với sân tâm, như vậy vừa đủ để Hiền giả không sám hối”.
Này các Hiền giả, Tỷ-kheo buộc tội đúng pháp, do năm lý do này không cần phải sắp đặt sám hối. Vì sao? Vì nhờ vậy, các Tỷ-kheo khác nghĩ rằng buộc tội cần phải đúng pháp.
TTC 9Người bị buộc tội, thưa các Hiền giả, cần phải an trú trong hai pháp: chơn thực và bất động. Này các Hiền giả, nếu các người khác buộc tội tôi, đúng thời hay phi thời, chơn thật hay phi chơn thật, nhu hòa hay thô bạo, liên hệ đến lợi ích hay không liên hệ đến lợi ích, với từ tâm hay với sân tâm, thì cần phải an trú trong hai pháp: Chơn thực và bất động. Nếu tôi biết: “Pháp này có trong tôi”, nếu tôi nghĩ là “có”, tôi sẽ nói: “Pháp này có trong tôi”. Nếu tôi biết: “Pháp này không có trong tôi”, nếu tôi nghĩ là “không có”, tôi sẽ nói: “Pháp này không có trong tôi”.
TTC 10Thế Tôn nói:
—Như vậy này Sàriputta, khi Thầy nói như vậy, ở đây có một số người ngu nào không có khả năng nắm được vấn đề?
TTC 11—Bạch Thế Tôn, những người nào không có lòng tin, với mục đích mưu sống, không vì lòng tin xuất gia từ bỏ gia đình; sống không gia đình, những người xảo trá, lường gạt, hư ngụy, mất thăng bằng, cao mạn, dao động, lắm lời, nói thô tạp nhạp, không hộ trì các căn, ăn uống không tiết độ, không chú tâm cảnh giác, thờ ơ với Sa-môn hạnh, không tôn kính học tập, sống quá đầy đủ, uể oải, đi đầu trong thối thất, từ bỏ gánh nặng, viễn ly, biếng nhác, tinh cần thấp kém, thất niệm, không tỉnh giác, không định tâm, tâm tán loạn, liệt tuệ, câm ngọng; khi con nói như vậy, họ không có khả năng nắm được vấn đề. Nhưng các thiện nam tử, bạch Thế Tôn, vì lòng tin xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, không xảo trá, lường gạt, không hư ngụy, không mất thăng bằng, không cao mạn, không dao động, không lắm lời, không nói thô tạp nhạp, hộ trì các căn, ăn uống có tiết độ, chú tâm cảnh giác, không thờ ơ với Sa-môn hạnh, tôn kính học tập, không sống quá đầy đủ, không uể oải, từ bỏ gánh nặng đọa lạc, đi đầu trong đời sống viễn ly, tinh cần tinh tấn, siêng năng, an trú chánh niệm tỉnh giác, định tĩnh, nhất tâm, có trí tuệ, không câm ngọng. Khi con nói như vậy, các vị này có khả năng nắm giữ vấn đề.
TTC 12—Này Sàriputta, các người nào không vì lòng tin, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, những người xảo trá, lường gạt, hư ngụy, mất thăng bằng, cao mạn, dao động, lắm lời, nói thô tạp nhạp, không hộ trì các căn, ăn uống không tiết độ, không chú tâm cảnh giác, thờ ơ với Sa-môn hạnh, không tôn kính học tập, sống quá đầy đủ, uể oải, đi đầu trong thối thất, từ bỏ gánh nặng, viễn ly, biếng nhác, tinh cần thấp kém, thất niệm, không tỉnh giác, không định tâm, tâm tán loạn, liệt tuệ, câm ngọng, hãy để họ một bên. Nhưng này Sàriputta, những thiện nam tử, vì lòng tin, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, không xảo trá, lường gạt, không hư ngụy, không mất thăng bằng, không cao mạn, không dao động, không lắm lời, không nói thô tạp nhạp, hộ trì các căn, ăn uống có tiết độ, chú tâm cảnh giác, không thờ ơ với Sa-môn hạnh, tôn kính học tập, không sống quá đầy đủ, không uể oải, từ bỏ gánh nặng đọa lạc, đi đầu trong đời sống viễn ly, tinh cần tinh tấn, siêng năng, an trú chánh niệm tỉnh giác, định tĩnh, nhất tâm, có trí tuệ, không câm ngọng, hãy nói chuyện với họ. Hãy giáo giới các vị đồng Phạm hạnh, hãy giảng dạy, này Sàriputta, các vị đồng Phạm hạnh nghĩ rằng: “Sau khi giúp ra khỏi phi diệu pháp, tôi an trú các vị đồng Phạm hạnh trong diệu pháp”. Này Sariputta hãy như vậy học tập.
Tatra kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi:
“codakena, āvuso, bhikkhunā paraṁ codetukāmena pañca dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhāpetvā paro codetabbo.
Katame pañca?
Kālena vakkhāmi, no akālena;
bhūtena vakkhāmi, no abhūtena;
saṇhena vakkhāmi, no pharusena;
atthasaṁhitena vakkhāmi, no anatthasaṁhitena;
mettacitto vakkhāmi, no dosantaro.
Codakena, āvuso, bhikkhunā paraṁ codetukāmena ime pañca dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhāpetvā paro codetabbo.
Idhāhaṁ, āvuso, ekaccaṁ puggalaṁ passāmi akālena codiyamānaṁ no kālena kupitaṁ, abhūtena codiyamānaṁ no bhūtena kupitaṁ, pharusena codiyamānaṁ no saṇhena kupitaṁ, anatthasaṁhitena codiyamānaṁ no atthasaṁhitena kupitaṁ, dosantarena codiyamānaṁ no mettacittena kupitaṁ.
Adhammacuditassa, āvuso, bhikkhuno pañcahākārehi avippaṭisāro upadahātabbo:
‘akālenāyasmā cudito no kālena, alaṁ te avippaṭisārāya;
abhūtenāyasmā cudito no bhūtena, alaṁ te avippaṭisārāya;
pharusenāyasmā cudito no saṇhena, alaṁ te avippaṭisārāya;
anatthasaṁhitenāyasmā cudito no atthasaṁhitena, alaṁ te avippaṭisārāya;
dosantarenāyasmā cudito no mettacittena, alaṁ te avippaṭisārāyā’ti.
Adhammacuditassa, āvuso, bhikkhuno imehi pañcahākārehi avippaṭisāro upadahātabbo.
Adhammacodakassa, āvuso, bhikkhuno pañcahākārehi vippaṭisāro upadahātabbo:
‘akālena te, āvuso, codito no kālena, alaṁ te vippaṭisārāya;
abhūtena te, āvuso, codito no bhūtena, alaṁ te vippaṭisārāya;
pharusena te, āvuso, codito no saṇhena, alaṁ te vippaṭisārāya;
anatthasaṁhitena te, āvuso, codito no atthasaṁhitena, alaṁ te vippaṭisārāya;
dosantarena te, āvuso, codito no mettacittena, alaṁ te vippaṭisārāyā’ti.
Adhammacodakassa, āvuso, bhikkhuno imehi pañcahākārehi vippaṭisāro upadahātabbo.
Taṁ kissa hetu?
Yathā na aññopi bhikkhu abhūtena codetabbaṁ maññeyyāti.
Idha panāhaṁ, āvuso, ekaccaṁ puggalaṁ passāmi kālena codiyamānaṁ no akālena kupitaṁ, bhūtena codiyamānaṁ no abhūtena kupitaṁ, saṇhena codiyamānaṁ no pharusena kupitaṁ, atthasaṁhitena codiyamānaṁ no anatthasaṁhitena kupitaṁ, mettacittena codiyamānaṁ no dosantarena kupitaṁ.
Dhammacuditassa, āvuso, bhikkhuno pañcahākārehi vippaṭisāro upadahātabbo:
‘kālenāyasmā cudito no akālena, alaṁ te vippaṭisārāya;
bhūtenāyasmā cudito no abhūtena, alaṁ te vippaṭisārāya;
saṇhenāyasmā cudito no pharusena, alaṁ te vippaṭisārāya;
atthasaṁhitenāyasmā cudito no anatthasaṁhitena, alaṁ te vippaṭisārāya;
mettacittenāyasmā cudito no dosantarena, alaṁ te vippaṭisārāyā’ti.
Dhammacuditassa, āvuso, bhikkhuno imehi pañcahākārehi vippaṭisāro upadahātabbo.
Dhammacodakassa, āvuso, bhikkhuno pañcahākārehi avippaṭisāro upadahātabbo:
‘kālena te, āvuso, codito no akālena, alaṁ te avippaṭisārāya;
bhūtena te, āvuso, codito no abhūtena, alaṁ te avippaṭisārāya;
saṇhena te, āvuso, codito no pharusena, alaṁ te avippaṭisārāya;
atthasaṁhitena te, āvuso, codito no anatthasaṁhitena, alaṁ te avippaṭisārāya;
mettacittena te, āvuso, codito no dosantarena, alaṁ te avippaṭisārāyā’ti.
Dhammacodakassa, āvuso, bhikkhuno imehi pañcahākārehi avippaṭisāro upadahātabbo.
Taṁ kissa hetu?
Yathā aññopi bhikkhu bhūtena coditabbaṁ maññeyyāti.
Cuditena, āvuso, puggalena dvīsu dhammesu patiṭṭhātabbaṁ—
sacce ca, akuppe ca.
Mañcepi, āvuso, pare codeyyuṁ kālena vā akālena vā bhūtena vā abhūtena vā saṇhena vā pharusena vā atthasaṁhitena vā anatthasaṁhitena vā mettacittā vā dosantarā vā, ahampi dvīsuyeva dhammesu patiṭṭhaheyyaṁ—
sacce ca, akuppe ca.
Sace jāneyyaṁ:
‘attheso mayi dhammo’ti, ‘atthī’ti naṁ vadeyyaṁ:
‘saṁvijjateso mayi dhammo’ti.
Sace jāneyyaṁ:
‘nattheso mayi dhammo’ti, ‘natthī’ti naṁ vadeyyaṁ:
‘neso dhammo mayi saṁvijjatī’”ti.
“Evampi kho te, sāriputta, vuccamānā atha ca panidhekacce moghapurisā na padakkhiṇaṁ gaṇhantī”ti.
“Ye te, bhante, puggalā assaddhā jīvikatthā na saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā saṭhā māyāvino ketabino uddhatā unnaḷā capalā mukharā vikiṇṇavācā indriyesu aguttadvārā bhojane amattaññuno jāgariyaṁ ananuyuttā sāmaññe anapekkhavanto sikkhāya na tibbagāravā bāhulikā sāthalikā okkamane pubbaṅgamā paviveke nikkhittadhurā kusītā hīnavīriyā muṭṭhassatino asampajānā asamāhitā vibbhantacittā duppaññā eḷamūgā, te mayā evaṁ vuccamānā na padakkhiṇaṁ gaṇhanti.
Ye pana te, bhante, kulaputtā saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā asaṭhā amāyāvino aketabino anuddhatā anunnaḷā acapalā amukharā avikiṇṇavācā indriyesu guttadvārā bhojane mattaññuno jāgariyaṁ anuyuttā sāmaññe apekkhavanto sikkhāya tibbagāravā na bāhulikā na sāthalikā okkamane nikkhittadhurā paviveke pubbaṅgamā āraddhavīriyā pahitattā upaṭṭhitassatino sampajānā samāhitā ekaggacittā paññavanto aneḷamūgā, te mayā evaṁ vuccamānā padakkhiṇaṁ gaṇhantī”ti.
“Ye te, sāriputta, puggalā assaddhā jīvikatthā na saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā saṭhā māyāvino ketabino uddhatā unnaḷā capalā mukharā vikiṇṇavācā indriyesu aguttadvārā bhojane amattaññuno jāgariyaṁ ananuyuttā sāmaññe anapekkhavanto sikkhāya na tibbagāravā bāhulikā sāthalikā okkamane pubbaṅgamā paviveke nikkhittadhurā kusītā hīnavīriyā muṭṭhassatino asampajānā asamāhitā vibbhantacittā duppaññā eḷamūgā, tiṭṭhantu te.
Ye pana te, sāriputta, kulaputtā saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā asaṭhā amāyāvino aketabino anuddhatā anunnaḷā acapalā amukharā avikiṇṇavācā indriyesu guttadvārā bhojane mattaññuno jāgariyaṁ anuyuttā sāmaññe apekkhavanto sikkhāya tibbagāravā na bāhulikā na sāthalikā okkamane nikkhittadhurā paviveke pubbaṅgamā āraddhavīriyā pahitattā upaṭṭhitassatino sampajānā samāhitā ekaggacittā paññavanto aneḷamūgā, te tvaṁ, sāriputta, vadeyyāsi.
Ovada, sāriputta, sabrahmacārī;
anusāsa, sāriputta, sabrahmacārī:
‘asaddhammā vuṭṭhāpetvā saddhamme patiṭṭhāpessāmi sabrahmacārī’ti.
Evañhi te, sāriputta, sikkhitabban”ti.
Sattamaṁ.