TTC 1—Thành tựu năm chi phần, này các Tỷ-kheo, một kẻ ăn trộm lớn xâm nhập vào nhà cửa, mang đồ ăn trộm ra đi, thành người ăn trộm riêng rẽ, thành người cướp chận đường. Thế nào là năm?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ ăn trộm lớn dựa vào sự hiểm trở (của con đường), dựa vào sự rậm rạp (của núi rừng), dựa vào quyền thế, là kẻ hối lộ, là kẻ ăn trộm một mình. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là kẻ ăn trộm lớn dựa vào sự hiểm trở?
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ ăn trộm lớn dựa vào các con sông khó lội qua hay núi non hiểm trở. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là kẻ ăn trộm lớn dựa vào sự hiểm trở. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là kẻ ăn trộm lớn dựa vào sự rậm rạp?
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ ăn trộm lớn dựa vào sự rậm rạp của cỏ, cây, bụi cây và của rừng rậm hoang vu. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là kẻ ăn trộm lớn dựa vào sự rậm rạp. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là kẻ ăn trộm lớn dựa vào uy lực?
TTC 5Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ ăn trộm lớn dựa vào vua hay các vị đại thần của vua. Anh ta suy nghĩ như sau: “Nếu có ai nói điều gì về ta, các vị vua này hay các vị đại thần của vua sẽ nói những lời che chở cho ta”. Nếu có ai nói điều gì về anh ta, các vua và các vị đại thần ấy nói che chở cho anh ta. Như vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ ăn trộm lớn dựa vào uy lực. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là kẻ ăn trộm lớn dựa vào hối lộ tài sản?
TTC 6Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ ăn trộm lớn giàu có, có tiền của nhiều, có tài sản lớn. Anh ta nghĩ như sau: “Nếu có ai nói gì đến ta, từ nay ta sẽ hối lộ người ấy với tài sản”. Nếu có người nói gì đến anh ta, anh ta liền hối lộ với tài sản. Như vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ ăn trộm lớn hối lộ với tài sản. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là kẻ ăn trộm lớn là kẻ ăn trộm riêng rẽ?
TTC 7Ở đây, này các Tỷ-kheo, có kẻ ăn trộm lớn đoạt các tài vật một mình. Vì cớ sao? Anh ta suy nghĩ: “Mong rằng không ai bàn bạc chỗ trốn với ta rồi làm ta rối loạn”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ ăn trộm lớn thành kẻ ăn trộm riêng rẽ.
Thành tựu năm chi phần này, kẻ ăn trộm lớn xâm nhập vào nhà cửa, mang đồ ăn trộm ra đi, thành người ăn trộm riêng rẽ, thành người cướp chận đường.
TTC 8Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thành tựu năm pháp, kẻ ác Tỷ-kheo tự mình xử sự như kẻ mất gốc, bị tổn thương, có tội lỗi, bị những bậc trí quở trách, và làm nhiều điều vô phước. Thế nào là năm?
TTC 9Ở đây, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo dựa vào hiểm trở, dựa vào rậm rạp, dựa vào uy lực, hối lộ tài sản và hành động một mình. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ác Tỷ-kheo dựa vào hiểm trở?
TTC 10Ở đây, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo thành tựu thân nghiệp hiểm nạn, thành tựu ngữ nghiệp hiểm nạn, thành tựu ý nghiệp hiểm nạn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, thế nào là ác Tỷ-kheo dựa vào hiểm nạn. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo dựa vào rừng rậm?
TTC 11Ở đây, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo có tà kiến và thành tựu tri kiến cực đoan. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là ác Tỷ-kheo dựa vào rừng rậm. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ác Tỷ-kheo dựa vào uy lực?
TTC 12Ở đây, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo dựa vào vua và các vị đại thần của vua. Vị ấy suy nghĩ: “Nếu có ai nói gì về ta, các vua ấy và các đại thần ấy nói lời với mục đích che chở cho ta”. Nếu có ai nói gì về vị ấy, các vua chúa hay các vị đại thần của vua nói lời với mục đích che chở. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo dựa vào uy lực. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ác Tỷ-kheo hối lộ tài sản?
TTC 13Ở đây, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo nhận được các vật dụng nhu yếu như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Nếu có ai nói gì về ta, ta sẽ hối lộ người ấy với vật dụng thâu được!” Và nếu có người nói gì về vị ấy, vị ấy hối lộ với vật dụng thâu được. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo hối lộ với tài sản. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ác Tỷ-kheo hành động một mình?
TTC 14Ở đây, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo sống một mình tức là ở các địa phương biên địa. Tại đấy, vị ấy đến các gia đình và nhận được các lợi dưỡng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là ác Tỷ-kheo hành động một mình.
Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo tự mình xử sự như người bị mất gốc, bị tổn thương, có phạm tội, bị các người trí quở trách, làm nhiều điều vô phước.
“Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato mahācoro sandhimpi chindati, nillopampi harati, ekāgārikampi karoti, paripanthepi tiṭṭhati.
Katamehi pañcahi?
Idha, bhikkhave, mahācoro visamanissito ca hoti, gahananissito ca, balavanissito ca, bhogacāgī ca, ekacārī ca.
Kathañca, bhikkhave, mahācoro visamanissito hoti?
Idha, bhikkhave, mahācoro nadīviduggaṁ vā nissito hoti pabbatavisamaṁ vā.
Evaṁ kho, bhikkhave, mahācoro visamanissito hoti.
Kathañca, bhikkhave, mahācoro gahananissito hoti?
Idha, bhikkhave, mahācoro tiṇagahanaṁ vā nissito hoti rukkhagahanaṁ vā rodhaṁ vā mahāvanasaṇḍaṁ vā.
Evaṁ kho, bhikkhave, mahācoro gahananissito hoti.
Kathañca, bhikkhave, mahācoro balavanissito hoti?
Idha, bhikkhave, mahācoro rājānaṁ vā rājamahāmattānaṁ vā nissito hoti.
Tassa evaṁ hoti:
‘sace maṁ koci kiñci vakkhati, ime me rājāno vā rājamahāmattā vā pariyodhāya atthaṁ bhaṇissantī’ti.
Sace naṁ koci kiñci āha, tyassa rājāno vā rājamahāmattā vā pariyodhāya atthaṁ bhaṇanti.
Evaṁ kho, bhikkhave, mahācoro balavanissito hoti.
Kathañca, bhikkhave, mahācoro bhogacāgī hoti?
Idha, bhikkhave, mahācoro aḍḍho hoti mahaddhano mahābhogo.
Tassa evaṁ hoti:
‘sace maṁ koci kiñci vakkhati, ito bhogena paṭisantharissāmī’ti.
Sace naṁ koci kiñci āha, tato bhogena paṭisantharati.
Evaṁ kho, bhikkhave, mahācoro bhogacāgī hoti.
Kathañca, bhikkhave, mahācoro ekacārī hoti?
Idha, bhikkhave, mahācoro ekakova gahaṇāni kattā hoti.
Taṁ kissa hetu?
‘Mā me guyhamantā bahiddhā sambhedaṁ agamaṁsū’ti.
Evaṁ kho, bhikkhave, mahācoro ekacārī hoti.
Imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgato mahācoro sandhimpi chindati nillopampi harati ekāgārikampi karoti paripanthepi tiṭṭhati.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, pañcahi dhammehi samannāgato pāpabhikkhu khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavati.
Katamehi pañcahi?
Idha, bhikkhave, pāpabhikkhu visamanissito ca hoti, gahananissito ca, balavanissito ca, bhogacāgī ca, ekacārī ca.
Kathañca, bhikkhave, pāpabhikkhu visamanissito hoti?
Idha, bhikkhave, pāpabhikkhu visamena kāyakammena samannāgato hoti, visamena vacīkammena samannāgato hoti, visamena manokammena samannāgato hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, pāpabhikkhu visamanissito hoti.
Kathañca, bhikkhave, pāpabhikkhu gahananissito hoti?
Idha, bhikkhave, pāpabhikkhu micchādiṭṭhiko hoti antaggāhikāya diṭṭhiyā samannāgato.
Evaṁ kho, bhikkhave, pāpabhikkhu gahananissito hoti.
Kathañca, bhikkhave, pāpabhikkhu balavanissito hoti?
Idha, bhikkhave, pāpabhikkhu rājānaṁ vā rājamahāmattānaṁ vā nissito hoti.
Tassa evaṁ hoti:
‘sace maṁ koci kiñci vakkhati, ime me rājāno vā rājamahāmattā vā pariyodhāya atthaṁ bhaṇissantī’ti.
Sace naṁ koci kiñci āha, tyassa rājāno vā rājamahāmattā vā pariyodhāya atthaṁ bhaṇanti.
Evaṁ kho, bhikkhave, pāpabhikkhu balavanissito hoti.
Kathañca, bhikkhave, pāpabhikkhu bhogacāgī hoti?
Idha, bhikkhave, pāpabhikkhu lābhī hoti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ.
Tassa evaṁ hoti:
‘sace maṁ koci kiñci vakkhati, ito lābhena paṭisantharissāmī’ti.
Sace naṁ koci kiñci āha, tato lābhena paṭisantharati.
Evaṁ kho, bhikkhave, pāpabhikkhu bhogacāgī hoti.
Kathañca, bhikkhave, pāpabhikkhu ekacārī hoti?
Idha, bhikkhave, pāpabhikkhu ekakova paccantimesu janapadesu nivāsaṁ kappeti.
So tattha kulāni upasaṅkamanto lābhaṁ labhati.
Evaṁ kho, bhikkhave, pāpabhikkhu ekacārī hoti.
Imehi kho, bhikkhave, pañcahi dhammehi samannāgato pāpabhikkhu khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavatī”ti.
Tatiyaṁ.
“Mendicants, a master thief with five factors breaks into houses, plunders wealth, steals from isolated buildings, and commits highway robbery.
What five?
A master thief relies on rough ground, on thick cover, and on the powerful; they pay bribes, and they act alone.
And how does a master thief rely on rough ground?
It’s when a master thief relies on inaccessible riverlands or rugged mountains.
That’s how a master thief relies on rough ground.
And how does a master thief rely on thick cover?
It’s when a master thief relies on thick grass, thick trees, a blind spot, or a large forest grove.
That’s how a master thief relies on thick cover.
And how does a master thief rely on the powerful?
It’s when a master thief relies on rulers or their chief ministers.
They think:
‘If anyone accuses me of anything, these rulers or their chief ministers will speak in my defense in the case.’
And that’s exactly what happens.
That’s how a master thief relies on the powerful.
And how does a master thief pay bribes?
It’s when a master thief is rich, affluent, and wealthy.
They think:
‘If anyone accuses me of anything, I’ll settle it with a bribe.’
And that’s exactly what happens.
That’s how a master thief pays bribes.
And how does a master thief act alone?
It’s when a master thief carries out robbery all alone.
Why is that?
So that their secret plans are not leaked to others.
That’s how a master thief acts alone.
A master thief with these five factors breaks into houses, plunders wealth, steals from isolated buildings, and commits highway robbery.
In the same way, when a bad mendicant has five qualities, they keep themselves broken and damaged. They deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much wickedness.
What five?
A bad mendicant relies on rough ground, on thick cover, and on the powerful; they pay bribes, and they act alone.
And how does a bad mendicant rely on rough ground?
It’s when a bad mendicant has unethical conduct by way of body, speech, and mind.
That’s how a bad mendicant relies on rough ground.
And how does a bad mendicant rely on thick cover?
It’s when a bad mendicant has wrong view, he’s attached to an extremist view.
That’s how a bad mendicant relies on thick cover.
And how does a bad mendicant rely on the powerful?
It’s when a bad mendicant relies on rulers or their chief ministers.
They think:
‘If anyone accuses me of anything, these rulers or their chief ministers will speak in my defense in the case.’
And that’s exactly what happens.
That’s how a bad mendicant relies on the powerful.
And how does a bad mendicant pay bribes?
It’s when a bad mendicant receives robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick.
They think:
‘If anyone accuses me of anything, I’ll settle it with a bribe.’
And that’s exactly what happens.
That’s how a bad mendicant pays bribes.
And how does a bad mendicant act alone?
It’s when a bad mendicant dwells alone in the borderlands.
They visit families there to acquire material things.
That’s how a bad mendicant acts alone.
When a bad mendicant possesses these five qualities, they keep themselves broken and damaged. They deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they create much wickedness.”
TTC 1—Thành tựu năm chi phần, này các Tỷ-kheo, một kẻ ăn trộm lớn xâm nhập vào nhà cửa, mang đồ ăn trộm ra đi, thành người ăn trộm riêng rẽ, thành người cướp chận đường. Thế nào là năm?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ ăn trộm lớn dựa vào sự hiểm trở (của con đường), dựa vào sự rậm rạp (của núi rừng), dựa vào quyền thế, là kẻ hối lộ, là kẻ ăn trộm một mình. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là kẻ ăn trộm lớn dựa vào sự hiểm trở?
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ ăn trộm lớn dựa vào các con sông khó lội qua hay núi non hiểm trở. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là kẻ ăn trộm lớn dựa vào sự hiểm trở. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là kẻ ăn trộm lớn dựa vào sự rậm rạp?
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ ăn trộm lớn dựa vào sự rậm rạp của cỏ, cây, bụi cây và của rừng rậm hoang vu. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là kẻ ăn trộm lớn dựa vào sự rậm rạp. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là kẻ ăn trộm lớn dựa vào uy lực?
TTC 5Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ ăn trộm lớn dựa vào vua hay các vị đại thần của vua. Anh ta suy nghĩ như sau: “Nếu có ai nói điều gì về ta, các vị vua này hay các vị đại thần của vua sẽ nói những lời che chở cho ta”. Nếu có ai nói điều gì về anh ta, các vua và các vị đại thần ấy nói che chở cho anh ta. Như vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ ăn trộm lớn dựa vào uy lực. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là kẻ ăn trộm lớn dựa vào hối lộ tài sản?
TTC 6Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ ăn trộm lớn giàu có, có tiền của nhiều, có tài sản lớn. Anh ta nghĩ như sau: “Nếu có ai nói gì đến ta, từ nay ta sẽ hối lộ người ấy với tài sản”. Nếu có người nói gì đến anh ta, anh ta liền hối lộ với tài sản. Như vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ ăn trộm lớn hối lộ với tài sản. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là kẻ ăn trộm lớn là kẻ ăn trộm riêng rẽ?
TTC 7Ở đây, này các Tỷ-kheo, có kẻ ăn trộm lớn đoạt các tài vật một mình. Vì cớ sao? Anh ta suy nghĩ: “Mong rằng không ai bàn bạc chỗ trốn với ta rồi làm ta rối loạn”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ ăn trộm lớn thành kẻ ăn trộm riêng rẽ.
Thành tựu năm chi phần này, kẻ ăn trộm lớn xâm nhập vào nhà cửa, mang đồ ăn trộm ra đi, thành người ăn trộm riêng rẽ, thành người cướp chận đường.
TTC 8Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thành tựu năm pháp, kẻ ác Tỷ-kheo tự mình xử sự như kẻ mất gốc, bị tổn thương, có tội lỗi, bị những bậc trí quở trách, và làm nhiều điều vô phước. Thế nào là năm?
TTC 9Ở đây, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo dựa vào hiểm trở, dựa vào rậm rạp, dựa vào uy lực, hối lộ tài sản và hành động một mình. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ác Tỷ-kheo dựa vào hiểm trở?
TTC 10Ở đây, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo thành tựu thân nghiệp hiểm nạn, thành tựu ngữ nghiệp hiểm nạn, thành tựu ý nghiệp hiểm nạn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, thế nào là ác Tỷ-kheo dựa vào hiểm nạn. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo dựa vào rừng rậm?
TTC 11Ở đây, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo có tà kiến và thành tựu tri kiến cực đoan. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là ác Tỷ-kheo dựa vào rừng rậm. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ác Tỷ-kheo dựa vào uy lực?
TTC 12Ở đây, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo dựa vào vua và các vị đại thần của vua. Vị ấy suy nghĩ: “Nếu có ai nói gì về ta, các vua ấy và các đại thần ấy nói lời với mục đích che chở cho ta”. Nếu có ai nói gì về vị ấy, các vua chúa hay các vị đại thần của vua nói lời với mục đích che chở. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo dựa vào uy lực. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ác Tỷ-kheo hối lộ tài sản?
TTC 13Ở đây, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo nhận được các vật dụng nhu yếu như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Nếu có ai nói gì về ta, ta sẽ hối lộ người ấy với vật dụng thâu được!” Và nếu có người nói gì về vị ấy, vị ấy hối lộ với vật dụng thâu được. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo hối lộ với tài sản. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ác Tỷ-kheo hành động một mình?
TTC 14Ở đây, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo sống một mình tức là ở các địa phương biên địa. Tại đấy, vị ấy đến các gia đình và nhận được các lợi dưỡng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là ác Tỷ-kheo hành động một mình.
Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo tự mình xử sự như người bị mất gốc, bị tổn thương, có phạm tội, bị các người trí quở trách, làm nhiều điều vô phước.
“Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato mahācoro sandhimpi chindati, nillopampi harati, ekāgārikampi karoti, paripanthepi tiṭṭhati.
Katamehi pañcahi?
Idha, bhikkhave, mahācoro visamanissito ca hoti, gahananissito ca, balavanissito ca, bhogacāgī ca, ekacārī ca.
Kathañca, bhikkhave, mahācoro visamanissito hoti?
Idha, bhikkhave, mahācoro nadīviduggaṁ vā nissito hoti pabbatavisamaṁ vā.
Evaṁ kho, bhikkhave, mahācoro visamanissito hoti.
Kathañca, bhikkhave, mahācoro gahananissito hoti?
Idha, bhikkhave, mahācoro tiṇagahanaṁ vā nissito hoti rukkhagahanaṁ vā rodhaṁ vā mahāvanasaṇḍaṁ vā.
Evaṁ kho, bhikkhave, mahācoro gahananissito hoti.
Kathañca, bhikkhave, mahācoro balavanissito hoti?
Idha, bhikkhave, mahācoro rājānaṁ vā rājamahāmattānaṁ vā nissito hoti.
Tassa evaṁ hoti:
‘sace maṁ koci kiñci vakkhati, ime me rājāno vā rājamahāmattā vā pariyodhāya atthaṁ bhaṇissantī’ti.
Sace naṁ koci kiñci āha, tyassa rājāno vā rājamahāmattā vā pariyodhāya atthaṁ bhaṇanti.
Evaṁ kho, bhikkhave, mahācoro balavanissito hoti.
Kathañca, bhikkhave, mahācoro bhogacāgī hoti?
Idha, bhikkhave, mahācoro aḍḍho hoti mahaddhano mahābhogo.
Tassa evaṁ hoti:
‘sace maṁ koci kiñci vakkhati, ito bhogena paṭisantharissāmī’ti.
Sace naṁ koci kiñci āha, tato bhogena paṭisantharati.
Evaṁ kho, bhikkhave, mahācoro bhogacāgī hoti.
Kathañca, bhikkhave, mahācoro ekacārī hoti?
Idha, bhikkhave, mahācoro ekakova gahaṇāni kattā hoti.
Taṁ kissa hetu?
‘Mā me guyhamantā bahiddhā sambhedaṁ agamaṁsū’ti.
Evaṁ kho, bhikkhave, mahācoro ekacārī hoti.
Imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgato mahācoro sandhimpi chindati nillopampi harati ekāgārikampi karoti paripanthepi tiṭṭhati.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, pañcahi dhammehi samannāgato pāpabhikkhu khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavati.
Katamehi pañcahi?
Idha, bhikkhave, pāpabhikkhu visamanissito ca hoti, gahananissito ca, balavanissito ca, bhogacāgī ca, ekacārī ca.
Kathañca, bhikkhave, pāpabhikkhu visamanissito hoti?
Idha, bhikkhave, pāpabhikkhu visamena kāyakammena samannāgato hoti, visamena vacīkammena samannāgato hoti, visamena manokammena samannāgato hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, pāpabhikkhu visamanissito hoti.
Kathañca, bhikkhave, pāpabhikkhu gahananissito hoti?
Idha, bhikkhave, pāpabhikkhu micchādiṭṭhiko hoti antaggāhikāya diṭṭhiyā samannāgato.
Evaṁ kho, bhikkhave, pāpabhikkhu gahananissito hoti.
Kathañca, bhikkhave, pāpabhikkhu balavanissito hoti?
Idha, bhikkhave, pāpabhikkhu rājānaṁ vā rājamahāmattānaṁ vā nissito hoti.
Tassa evaṁ hoti:
‘sace maṁ koci kiñci vakkhati, ime me rājāno vā rājamahāmattā vā pariyodhāya atthaṁ bhaṇissantī’ti.
Sace naṁ koci kiñci āha, tyassa rājāno vā rājamahāmattā vā pariyodhāya atthaṁ bhaṇanti.
Evaṁ kho, bhikkhave, pāpabhikkhu balavanissito hoti.
Kathañca, bhikkhave, pāpabhikkhu bhogacāgī hoti?
Idha, bhikkhave, pāpabhikkhu lābhī hoti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ.
Tassa evaṁ hoti:
‘sace maṁ koci kiñci vakkhati, ito lābhena paṭisantharissāmī’ti.
Sace naṁ koci kiñci āha, tato lābhena paṭisantharati.
Evaṁ kho, bhikkhave, pāpabhikkhu bhogacāgī hoti.
Kathañca, bhikkhave, pāpabhikkhu ekacārī hoti?
Idha, bhikkhave, pāpabhikkhu ekakova paccantimesu janapadesu nivāsaṁ kappeti.
So tattha kulāni upasaṅkamanto lābhaṁ labhati.
Evaṁ kho, bhikkhave, pāpabhikkhu ekacārī hoti.
Imehi kho, bhikkhave, pañcahi dhammehi samannāgato pāpabhikkhu khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavatī”ti.
Tatiyaṁ.