TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàketa, tại khu vườn Kàlaka. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:
—Này các Tỷ-kheo, cái gì trong toàn thế giới với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, được thấy … được ý tư sát, tất cả Ta đều biết. Này các Tỷ-kheo, cái gì trong toàn thế giới này … được thấy, được ý tư sát, Ta đã được biết rõ như sau: “Tất cả đều được Như Lai biết đến. Như Lai không có dựng đứng lên”. Này các Tỷ-kheo, nếu Ta nói rằng: “Ta biết tất cả, cái gì trong toàn thế giới … được thấy, được ý tư sát”. Như vậy, là có nói láo trong ta. Nếu Ta nói như sau: “Ta cả hai biết và không biết”. Như vậy, là có nói láo trong ta. Nếu Ta nói như sau: “Ta không biết và cũng không phải biết”. Như vậy là có nói láo trong Ta. Như vậy có lỗi trong Ta.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai là vị đã thấy những gì cần thấy, nhưng không có tưởng tượng điều đã được thấy, không có tưởng tượng những cái gì không được thấy, không có tưởng tượng những gì cần phải thấy, không có tưởng tượng đối với người thấy. Ðã nghe những gì cần nghe, nhưng không có tưởng tượng điều đã được nghe, không có tưởng tượng những cái gì không được nghe, không có tưởng tượng những gì cần phải nghe, không có tưởng tượng đối với người nghe. Ðã cảm giác những gì cần cảm giác, nhưng không có tưởng tượng điều đã được cảm giác, không có tưởng tượng những cái gì không được cảm giác, không có tưởng tượng những gì cần phải cảm giác, không có tưởng tượng đối với người cảm giác. Ðã thức tri những gì cần thức tri, nhưng không có tưởng tượng điều đã được thức tri, không có tưởng tượng những cái gì không được thức tri, không có tưởng tượng những cái gì cần phải thức tri, không có tưởng tượng đối với người thức tri. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai đối với các pháp được thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri, đều đã biết rõ, nên vị ấy là như vậy. Lại nữa, hơn người như vậy, không có ai khác tối thượng hơn và thù thắng hơn, Ta tuyên bố như vậy.
Cái gì được thấy, nghe
Ðược cảm giác chấp trước
Ðược nghĩ là chân thực
Bởi các hạng người khác
Giữa những người thấy vậy
Ta không phải như vậy
Những điều chúng tuyên bố
Dầu là thật hay láo
Ta không xem tối hậu
Ta trong thời đã qua
Thấy được mũi tên này
Loài Người bị câu móc
Ta biết và Ta thấy
Các đức Phật Như Lai
Không tham đắm như vậy.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sākete viharati kāḷakārāme.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca—
Yaṁ, bhikkhave, sadevakassa lokassa samārakassa sabrahmakassa sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā, tamahaṁ jānāmi.
Yaṁ, bhikkhave, sadevakassa lokassa samārakassa sabrahmakassa sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā, tamahaṁ abbhaññāsiṁ.
Taṁ tathāgatassa viditaṁ, taṁ tathāgato na upaṭṭhāsi.
Yaṁ, bhikkhave, sadevakassa lokassa samārakassa sabrahmakassa sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā, tamahaṁ na jānāmīti vadeyyaṁ, taṁ mamassa musā.
Yaṁ, bhikkhave …pe… tamahaṁ jānāmi ca na ca jānāmīti vadeyyaṁ, tampassa tādisameva.
Yaṁ, bhikkhave …pe… tamahaṁ neva jānāmi na na jānāmīti vadeyyaṁ, taṁ mamassa kali.
Iti kho, bhikkhave, tathāgato daṭṭhā daṭṭhabbaṁ, diṭṭhaṁ na maññati, adiṭṭhaṁ na maññati, daṭṭhabbaṁ na maññati, daṭṭhāraṁ na maññati;
sutvā sotabbaṁ, sutaṁ na maññati, asutaṁ na maññati, sotabbaṁ na maññati, sotāraṁ na maññati;
mutvā motabbaṁ, mutaṁ na maññati, amutaṁ na maññati, motabbaṁ na maññati, motāraṁ na maññati;
viññatvā viññātabbaṁ, viññātaṁ na maññati, aviññātaṁ na maññati, viññātabbaṁ na maññati, viññātāraṁ na maññati.
Iti kho, bhikkhave, tathāgato diṭṭhasutamutaviññātabbesu dhammesu tādīyeva tādī.
‘Tamhā ca pana tādimhā añño tādī uttaritaro vā paṇītataro vā natthī’ti vadāmīti.
Yaṁ kiñci diṭṭhaṁva sutaṁ mutaṁ vā,
Ajjhositaṁ saccamutaṁ paresaṁ;
Na tesu tādī sayasaṁvutesu,
Saccaṁ musā vāpi paraṁ daheyya.
Etañca sallaṁ paṭikacca disvā,
Ajjhositā yattha pajā visattā;
Jānāmi passāmi tatheva etaṁ,
Ajjhositaṁ natthi tathāgatānan”ti.
Catutthaṁ.
SC 1Thus have I heard. On one occasion the Blessed One was dwelling at Sāketa, at Kāḷaka’s Park. There the Blessed One addressed the bhikkhus: “Bhikkhus!”
SC 2“Venerable sir!” those bhikkhus replied. The Blessed One said this: an.ii.25
SC 3“Bhikkhus, in this world with its devas, Māra, and Brahmā, among this population with its ascetics and brahmins, its devas and humans, whatever is seen, heard, sensed, cognized, reached, sought after, examined by the mind—that I know.
SC 4“Bhikkhus, in this world with its devas, Māra, and Brahmā, among this population with its ascetics and brahmins, its devas and humans, whatever is seen, heard, sensed, cognized, reached, sought after, examined by the mind—that I have directly known. It has been known by the Tathāgata, but the Tathāgata did not become subservient to it.
SC 5“Bhikkhus, if I were to say, ‘In this world with its devas … whatever is seen, heard, sensed, cognized, reached, sought after, examined by the mind—that I do not know,’ that would be a falsehood on my part.
SC 6“Bhikkhus, if I were to say, ‘In this world with its devas … whatever is seen, heard, sensed, cognized, reached, sought after, examined by the mind—that I both know and do not know,’ that too would be just the same.
SC 7“Bhikkhus, if I were to say, ‘In this world with its devas … whatever is seen, heard, sensed, cognized, reached, sought after, examined by the mind—that I neither know nor do not know,’ that would be a fault on my part.
SC 8(1) “So, having seen what can be seen, the Tathāgata does not misconceive the seen, does not misconceive the unseen, does not misconceive what can be seen, does not misconceive one who sees. (2) Having heard what can be heard, he does not misconceive the heard, does not misconceive the unheard, does not misconceive what can be heard, does not misconceive one who hears. (3) Having sensed what can be sensed, he does not misconceive the sensed, does not misconceive the unsensed, does not misconceive what can be sensed, does not misconceive one who senses. (4) Having cognized what can be cognized, he does not misconceive the cognized, does not misconceive the uncognized, does not misconceive what can be cognized, does not misconceive one who cognizes.
SC 9“Thus, bhikkhus, being ever stable among things seen, heard, sensed, and cognized, the Tathāgata is a stable one. And, I say, there is no stable one more excellent or sublime than that stable one.”
SC 10Amid those who are self-constrained, the Stable One
would not posit as categorically true or false
anything seen, heard, or sensed,
clung to and considered truth by others.
SC 11Since they have already seen this dart
to which people cling and adhere, an.ii.26
saying “I know, I see, it is just so,”
the Tathāgatas cling to nothing.
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàketa, tại khu vườn Kàlaka. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:
—Này các Tỷ-kheo, cái gì trong toàn thế giới với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, được thấy … được ý tư sát, tất cả Ta đều biết. Này các Tỷ-kheo, cái gì trong toàn thế giới này … được thấy, được ý tư sát, Ta đã được biết rõ như sau: “Tất cả đều được Như Lai biết đến. Như Lai không có dựng đứng lên”. Này các Tỷ-kheo, nếu Ta nói rằng: “Ta biết tất cả, cái gì trong toàn thế giới … được thấy, được ý tư sát”. Như vậy, là có nói láo trong ta. Nếu Ta nói như sau: “Ta cả hai biết và không biết”. Như vậy, là có nói láo trong ta. Nếu Ta nói như sau: “Ta không biết và cũng không phải biết”. Như vậy là có nói láo trong Ta. Như vậy có lỗi trong Ta.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai là vị đã thấy những gì cần thấy, nhưng không có tưởng tượng điều đã được thấy, không có tưởng tượng những cái gì không được thấy, không có tưởng tượng những gì cần phải thấy, không có tưởng tượng đối với người thấy. Ðã nghe những gì cần nghe, nhưng không có tưởng tượng điều đã được nghe, không có tưởng tượng những cái gì không được nghe, không có tưởng tượng những gì cần phải nghe, không có tưởng tượng đối với người nghe. Ðã cảm giác những gì cần cảm giác, nhưng không có tưởng tượng điều đã được cảm giác, không có tưởng tượng những cái gì không được cảm giác, không có tưởng tượng những gì cần phải cảm giác, không có tưởng tượng đối với người cảm giác. Ðã thức tri những gì cần thức tri, nhưng không có tưởng tượng điều đã được thức tri, không có tưởng tượng những cái gì không được thức tri, không có tưởng tượng những cái gì cần phải thức tri, không có tưởng tượng đối với người thức tri. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai đối với các pháp được thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri, đều đã biết rõ, nên vị ấy là như vậy. Lại nữa, hơn người như vậy, không có ai khác tối thượng hơn và thù thắng hơn, Ta tuyên bố như vậy.
Cái gì được thấy, nghe
Ðược cảm giác chấp trước
Ðược nghĩ là chân thực
Bởi các hạng người khác
Giữa những người thấy vậy
Ta không phải như vậy
Những điều chúng tuyên bố
Dầu là thật hay láo
Ta không xem tối hậu
Ta trong thời đã qua
Thấy được mũi tên này
Loài Người bị câu móc
Ta biết và Ta thấy
Các đức Phật Như Lai
Không tham đắm như vậy.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sākete viharati kāḷakārāme.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca—
Yaṁ, bhikkhave, sadevakassa lokassa samārakassa sabrahmakassa sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā, tamahaṁ jānāmi.
Yaṁ, bhikkhave, sadevakassa lokassa samārakassa sabrahmakassa sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā, tamahaṁ abbhaññāsiṁ.
Taṁ tathāgatassa viditaṁ, taṁ tathāgato na upaṭṭhāsi.
Yaṁ, bhikkhave, sadevakassa lokassa samārakassa sabrahmakassa sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā, tamahaṁ na jānāmīti vadeyyaṁ, taṁ mamassa musā.
Yaṁ, bhikkhave …pe… tamahaṁ jānāmi ca na ca jānāmīti vadeyyaṁ, tampassa tādisameva.
Yaṁ, bhikkhave …pe… tamahaṁ neva jānāmi na na jānāmīti vadeyyaṁ, taṁ mamassa kali.
Iti kho, bhikkhave, tathāgato daṭṭhā daṭṭhabbaṁ, diṭṭhaṁ na maññati, adiṭṭhaṁ na maññati, daṭṭhabbaṁ na maññati, daṭṭhāraṁ na maññati;
sutvā sotabbaṁ, sutaṁ na maññati, asutaṁ na maññati, sotabbaṁ na maññati, sotāraṁ na maññati;
mutvā motabbaṁ, mutaṁ na maññati, amutaṁ na maññati, motabbaṁ na maññati, motāraṁ na maññati;
viññatvā viññātabbaṁ, viññātaṁ na maññati, aviññātaṁ na maññati, viññātabbaṁ na maññati, viññātāraṁ na maññati.
Iti kho, bhikkhave, tathāgato diṭṭhasutamutaviññātabbesu dhammesu tādīyeva tādī.
‘Tamhā ca pana tādimhā añño tādī uttaritaro vā paṇītataro vā natthī’ti vadāmīti.
Yaṁ kiñci diṭṭhaṁva sutaṁ mutaṁ vā,
Ajjhositaṁ saccamutaṁ paresaṁ;
Na tesu tādī sayasaṁvutesu,
Saccaṁ musā vāpi paraṁ daheyya.
Etañca sallaṁ paṭikacca disvā,
Ajjhositā yattha pajā visattā;
Jānāmi passāmi tatheva etaṁ,
Ajjhositaṁ natthi tathāgatānan”ti.
Catutthaṁ.