TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàlì, tạo Ðại Lâm, giảng đường có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến hành lang người bệnh. Thế Tôn thấy một Tỷ-kheo ốm yếu bệnh hoạn, thấy vậy ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, nếu năm pháp này không rời bỏ một kẻ ốm yếu bệnh hoạn, thời người ấy được chờ đợi như sau: Không bao lâu, do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng trí sẽ chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Thế nào là năm?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo sống quán bất tịnh trên thân, với tưởng ghê tởm đối với các món ăn, với tưởng không thích thú đối với tất cả thế giới, quán vô thường trong tất cả hành, và nội tâm khéo an trú trong tưởng về chết.
—Này các Tỷ-kheo, nếu năm pháp này không rời bỏ một kẻ ốm yếu bệnh hoạn, thời người ấy được chờ đợi như sau: Không bao lâu, do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng trí sẽ chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena gilānasālā tenupasaṅkami.
Addasā kho bhagavā aññataraṁ bhikkhuṁ dubbalaṁ gilānakaṁ;
disvā paññatte āsane nisīdi.
Nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“Yaṁ kiñci, bhikkhave, bhikkhuṁ dubbalaṁ gilānakaṁ pañca dhammā na vijahanti, tassetaṁ pāṭikaṅkhaṁ:
‘nacirasseva āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissatī’ti.
Katame pañca?
Idha, bhikkhave, bhikkhu asubhānupassī kāye viharati, āhāre paṭikūlasaññī, sabbaloke anabhiratasaññī, sabbasaṅkhāresu aniccānupassī, maraṇasaññā kho panassa ajjhattaṁ sūpaṭṭhitā hoti.
Yaṁ kiñci, bhikkhave, bhikkhuṁ dubbalaṁ gilānakaṁ ime pañca dhammā na vijahanti, tassetaṁ pāṭikaṅkhaṁ:
‘nacirasseva āsavānaṁ khayā …pe… sacchikatvā upasampajja viharissatī’”ti.
Paṭhamaṁ.
I have heard that on one occasion the Blessed One was staying near Vesali, in the Great Forest, at the Gabled Pavilion. Then, in the late afternoon, he left his seclusion and went to the sick ward, where he saw a monk who was weak & sickly. Seeing him, he sat down on a prepared seat. As he was sitting there, he addressed the monks: “When these five things don’t leave a monk who is weak & sickly, it can be expected of him that, before long—with the ending of the fermentations—he will enter & remain in the fermentation-free awareness-release & discernment-release, having realized & directly known them for himself in the here & now. Which five?
“There is the case where a monk [1] remains focused on unattractiveness with regard to the body, [2] is percipient of foulness with regard to food, [3] is percipient of distaste with regard to every world, [4] is percipient of the undesirability of all fabrications, and [5] has the perception of death well established within himself.
“When these five things don’t leave a monk who is weak & sickly, it can be expected of him that, before long—with the ending of the fermentations—he will enter & remain in the fermentation-free awareness-release & discernment-release, having realized & directly known them for himself in the here & now.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàlì, tạo Ðại Lâm, giảng đường có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến hành lang người bệnh. Thế Tôn thấy một Tỷ-kheo ốm yếu bệnh hoạn, thấy vậy ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, nếu năm pháp này không rời bỏ một kẻ ốm yếu bệnh hoạn, thời người ấy được chờ đợi như sau: Không bao lâu, do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng trí sẽ chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Thế nào là năm?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo sống quán bất tịnh trên thân, với tưởng ghê tởm đối với các món ăn, với tưởng không thích thú đối với tất cả thế giới, quán vô thường trong tất cả hành, và nội tâm khéo an trú trong tưởng về chết.
—Này các Tỷ-kheo, nếu năm pháp này không rời bỏ một kẻ ốm yếu bệnh hoạn, thời người ấy được chờ đợi như sau: Không bao lâu, do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng trí sẽ chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena gilānasālā tenupasaṅkami.
Addasā kho bhagavā aññataraṁ bhikkhuṁ dubbalaṁ gilānakaṁ;
disvā paññatte āsane nisīdi.
Nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“Yaṁ kiñci, bhikkhave, bhikkhuṁ dubbalaṁ gilānakaṁ pañca dhammā na vijahanti, tassetaṁ pāṭikaṅkhaṁ:
‘nacirasseva āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissatī’ti.
Katame pañca?
Idha, bhikkhave, bhikkhu asubhānupassī kāye viharati, āhāre paṭikūlasaññī, sabbaloke anabhiratasaññī, sabbasaṅkhāresu aniccānupassī, maraṇasaññā kho panassa ajjhattaṁ sūpaṭṭhitā hoti.
Yaṁ kiñci, bhikkhave, bhikkhuṁ dubbalaṁ gilānakaṁ ime pañca dhammā na vijahanti, tassetaṁ pāṭikaṅkhaṁ:
‘nacirasseva āsavānaṁ khayā …pe… sacchikatvā upasampajja viharissatī’”ti.
Paṭhamaṁ.