TTC 1—Này các Tỷ-kheo, ba khát ái và ba mạn này cần phải đoạn diệt. Thế nào là ba khát ái cần phải đoạn diệt?
TTC 2Dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Ba khát ái này cần phải đoạn diệt.
Thế nào là ba mạn cần phải đoạn diệt?
TTC 3Mạn, tùy mạn, quá mạn. Ba mạn này cần phải đoạn diệt.
TTC 4Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo đã được tận ba khát ái và ba mạn này, vị này, này các Tỷ-kheo, được gọi là Tỷ-kheo đã chặt đứt khát ái, đã giải tỏa kiết sử, do chơn chánh thực hiện quán kiêu mạn, đã đoạn tận khổ đau.
“Tisso imā, bhikkhave, taṇhā pahātabbā, tayo ca mānā.
Katamā tisso taṇhā pahātabbā?
Kāmataṇhā, bhavataṇhā, vibhavataṇhā—
imā tisso taṇhā pahātabbā.
Katame tayo mānā pahātabbā?
Māno, omāno, atimāno—
ime tayo mānā pahātabbā.
Yato kho, bhikkhave, bhikkhuno imā tisso taṇhā pahīnā honti, ime ca tayo mānā;
ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu acchecchi taṇhaṁ, vivattayi saṁyojanaṁ, sammā mānābhisamayā antamakāsi dukkhassā”ti.
Ekādasamaṁ.
Ānisaṁsavaggo dasamo.
Tassuddānaṁ
Pātubhāvo ānisaṁso,
aniccadukkhaanattato;
Nibbānaṁ anavatthi,
ukkhittāsi atammayo;
Bhavā taṇhāyekā dasāti.
Dutiyo paṇṇāsako samatto.
“Mendicants, you should give up these three cravings and three conceits.
What three cravings should you give up?
Craving for sensual pleasures, craving for existence, and craving for nonexistence.
These are the three cravings you should give up.
What three conceits should you give up?
Conceit, inferiority complex, and superiority complex.
These are the three conceits you should give up.
When a mendicant has given up these three cravings and these three conceits
they’re called a mendicant who has cut off craving, cast off the fetters, and by rightly comprehending conceit has made an end of suffering.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, ba khát ái và ba mạn này cần phải đoạn diệt. Thế nào là ba khát ái cần phải đoạn diệt?
TTC 2Dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Ba khát ái này cần phải đoạn diệt.
Thế nào là ba mạn cần phải đoạn diệt?
TTC 3Mạn, tùy mạn, quá mạn. Ba mạn này cần phải đoạn diệt.
TTC 4Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo đã được tận ba khát ái và ba mạn này, vị này, này các Tỷ-kheo, được gọi là Tỷ-kheo đã chặt đứt khát ái, đã giải tỏa kiết sử, do chơn chánh thực hiện quán kiêu mạn, đã đoạn tận khổ đau.
“Tisso imā, bhikkhave, taṇhā pahātabbā, tayo ca mānā.
Katamā tisso taṇhā pahātabbā?
Kāmataṇhā, bhavataṇhā, vibhavataṇhā—
imā tisso taṇhā pahātabbā.
Katame tayo mānā pahātabbā?
Māno, omāno, atimāno—
ime tayo mānā pahātabbā.
Yato kho, bhikkhave, bhikkhuno imā tisso taṇhā pahīnā honti, ime ca tayo mānā;
ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu acchecchi taṇhaṁ, vivattayi saṁyojanaṁ, sammā mānābhisamayā antamakāsi dukkhassā”ti.
Ekādasamaṁ.
Ānisaṁsavaggo dasamo.
Tassuddānaṁ
Pātubhāvo ānisaṁso,
aniccadukkhaanattato;
Nibbānaṁ anavatthi,
ukkhittāsi atammayo;
Bhavā taṇhāyekā dasāti.
Dutiyo paṇṇāsako samatto.