TTC 1—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về bảy sanh thú của loài Người, và không chấp thủ Niết-bàn. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói:
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
—Này các Tỷ-kheo. Thế nào là bảy sanh thú của loài Người?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành như vậy suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta. Cái gì có, cái gì được thành, ta đều từ bỏ”. Vị ấy có được xả. Vị ấy không tham đắm sanh hữu, không tham đắm tích tụ của hữu; với chánh trí tuệ, vị ấy thấy có con đường vô thượng tịch tịnh. Vị ấy chưa chứng ngộ trọn vẹn hoàn toàn con đường ấy. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn mạn tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn hữu tham tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn vô minh tùy miên. Do diệt tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng được Trung gian Niết-bàn. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái bát bằng sắt được đốt cháy cả ngày và được đập đánh, một miếng vụn có thể văng ra và trở thành nguội lạnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta. Cái gì có, cái gì được thành, ta đều từ bỏ”. Vị ấy có được xả, vị ấy không tham đắm hữu, không tham đắm hậu hữu; với chánh trí tuệ, vị ấy thấy có con đường vô thượng tịch tịnh. Và vị ấy chưa chứng ngộ trọn vẹn hoàn toàn con đường ấy. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn mạn tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn hữu tham tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn vô minh tùy miên. Do diệt tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng được Trung gian Niết-bàn.
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong thực hành suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta. Cái gì có, cái gì được thành, ta đều từ bỏ”. Vị ấy có được xả, vị ấy không tham đắm sanh hữu, không tham đắm tích tụ của hữu; với chánh trí tuệ, vị ấy thấy có con đường vô thượng tịch tịnh và vị ấy chưa chứng ngộ trọn vẹn hoàn toàn con đường ấy. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn mạn tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn hữu tham tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn vô minh tùy miên. Do diệt tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng được Trung gian Niết-bàn. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái bát bằng sắt được đốt cháy cả ngày và được đập đánh, một miếng vụn có thể văng ra, có thể bay lên và trở thành nguội lạnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy đoạn diệt tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng được Trung gian Niết-bàn.
TTC 4Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy đoạn diệt tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng được Trung gian Niết-bàn. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái bát bằng sắt được đốt cháy cả ngày và được đập đánh, một miếng vụn có thể văng ra, có thể bay lên, sau khi chưa chạm vào đất, có thể trở thành nguội lạnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy, sau khi diệt tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng được Trung gian Niết-bàn.
TTC 5Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy, do diệt tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Tổn hại Bát-niết-bàn. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái bát bằng sắt được đốt cháy cả ngày và được đập đánh, một miếng vụn có thể văng ra , có thể bay lên, sau khi chưa chạm vào đất, có thể trở thành nguội lạnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy, do diệt tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Tổn hại Bát-niết-bàn.
TTC 6Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy, do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, chứng được Vô hành Niết-bàn. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái bát bằng sắt được đốt cháy cả ngày và được đập đánh, một miếng vụn có thể văng ra, có thể bay lên, có thể rơi xuống trên một đống cỏ nhỏ, hay trên một đống củi nhỏ; miếng vụn ấy ở đấy sanh ra ngọn lửa, sanh ra khói. Sau khi sanh ra ngọn lửa, sau khi sanh ra khói, nó đốt cháy tiêu hết đồng cỏ nhỏ ấy, hay đống củi nhỏ ấy, rồi trở thành nguội lạnh vì không có nhiên liệu. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy, do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, chứng được Vô hành Niết-bàn.
TTC 7Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo khi thực hành như vậy, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy, do diệt tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Hữu hành Bát-niết-bàn. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái bát bằng sắt được đốt cháy cả ngày và được đập đánh, một miếng vụn có thể văng ra, có thể bay lên, có thể rơi xuống trên một đống cỏ , hay trên một đống củi rộng lớn; miếng vụn ấy ở đấy sanh ra ngọn lửa, sanh ra khói. Sau khi sanh ra ngọn lửa, sau khi sanh ra khói, nó đốt cháy tiêu hết đồng cỏ , hay đống củi rộng lớn ấy, rồi trở thành nguội lạnh vì không có nhiên liệu. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành như vậy, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này sẽ không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy, do diệt tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Hữu hành Bát-niết-bàn.
TTC 8Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành như vậy suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta. Cái gì có, cái gì được thành, ta đều từ bỏ.”. Vị ấy có được xả, vị ấy không tham đắm sanh hữu, không tham đắm tích tụ của hữu; với chánh trí tuệ, vị ấy thấy có con đường vô thượng tịch tịnh và vị ấy chưa chứng ngộ trọn vẹn hoàn toàn con đường ấy. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn mạn tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn hữu tham tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn vô minh tùy miên. Do diệt tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng được Thượng lưu Bát-niết-bàn, đi đến Sắc cứu cánh. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái bát bằng sắt được đốt cháy cả ngày và được đập đánh, một miếng vụn có thể văng ra, có thể bay lên, có thể rơi xuống trên một đống cỏ, hay trên một đống củi to lớn; miếng vụn ấy ở đấy sanh ra ngọn lửa, sanh ra khói. Sau khi sanh ra ngọn lửa, sau khi sanh ra khói, nó đốt cháy tiêu hết đồng cỏ, hay đống củi to lớn ấy, thiêu cháy lùm cây, thiêu cháy rừng rậm. Sau khi thiêu cháy thảo nguyên, sau khi thiêu cháy rừng rậm, nó cháy lan đến đám ruộng xanh hay đến đám đất cao, hay đến hòn đá, hay đến dòng nước, hay đến đám đất khả ái, hay đến một phần đất nào rồi trở thành nguội lạnh vì không có nhiên liệu. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành như vậy, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy, do diệt tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Thượng lưu Bát-niết-bàn, đi đến Sắc cứu cánh.
Này các Tỷ-kheo, đây là bảy sanh thú của loài Người. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Không chấp thủ Bát-Niết-bàn?
TTC 9Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo khi thực hành như vậy, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta. Cái gì có, cái gì được thành, ta đều từ bỏ.”. Vị ấy có được xả, vị ấy không tham đắm sanh hữu, không tham đắm tích tụ của hữu; với chánh trí tuệ, vị ấy thấy có con đường vô thượng tịch tịnh và vị ấy chứng đắc trọn vẹn hoàn toàn con đường ấy. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn mạn tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn hữu tham tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn vô minh tùy miên. Do diệt tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy tự mình với thắng trí, ngay trong hiện tại, chứng nhập, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Không chấp thủ Bát-niết-bàn. Và này các Tỷ-kheo, đây là bảy sanh thú của loài Người và Không chấp thủ Bát-niết-bàn.
“Satta ca, bhikkhave, purisagatiyo desessāmi anupādā ca parinibbānaṁ.
Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“katamā ca, bhikkhave, satta purisagatiyo?
Idha, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā, na bhavissati na me bhavissati, yadatthi yaṁ bhūtaṁ taṁ pajahāmī’ti upekkhaṁ paṭilabhati.
So bhave na rajjati, sambhave na rajjati, atthuttari padaṁ santaṁ sammappaññāya passati.
Tañca khvassa padaṁ na sabbena sabbaṁ sacchikataṁ hoti, tassa na sabbena sabbaṁ mānānusayo pahīno hoti, na sabbena sabbaṁ bhavarāgānusayo pahīno hoti, na sabbena sabbaṁ avijjānusayo pahīno hoti.
So pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā antarāparinibbāyī hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, divasaṁsantatte ayokapāle haññamāne papaṭikā nibbattitvā nibbāyeyya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā, na bhavissati na me bhavissati, yadatthi yaṁ bhūtaṁ taṁ pajahāmī’ti upekkhaṁ paṭilabhati.
So bhave na rajjati, sambhave na rajjati, atthuttari padaṁ santaṁ sammappaññāya passati.
Tañca khvassa padaṁ na sabbena sabbaṁ sacchikataṁ hoti, tassa na sabbena sabbaṁ mānānusayo pahīno hoti, na sabbena sabbaṁ bhavarāgānusayo pahīno hoti, na sabbena sabbaṁ avijjānusayo pahīno hoti.
So pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā antarāparinibbāyī hoti.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā, na bhavissati na me bhavissati, yadatthi yaṁ bhūtaṁ taṁ pajahāmī’ti upekkhaṁ paṭilabhati.
So bhave na rajjati, sambhave na rajjati, atthuttari padaṁ santaṁ sammappaññāya passati.
Tañca khvassa padaṁ na sabbena sabbaṁ sacchikataṁ hoti, tassa na sabbena sabbaṁ mānānusayo pahīno hoti, na sabbena sabbaṁ bhavarāgānusayo pahīno hoti, na sabbena sabbaṁ avijjānusayo pahīno hoti.
So pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā antarāparinibbāyī hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, divasaṁsantatte ayokapāle haññamāne papaṭikā nibbattitvā uppatitvā nibbāyeyya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā …pe…
so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā antarāparinibbāyī hoti.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā …pe…
so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā antarāparinibbāyī hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, divasaṁsantatte ayokapāle haññamāne papaṭikā nibbattitvā uppatitvā anupahacca talaṁ nibbāyeyya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā …pe…
so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā antarāparinibbāyī hoti.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā …pe…
so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā upahaccaparinibbāyī hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, divasaṁsantatte ayokapāle haññamāne papaṭikā nibbattitvā uppatitvā upahacca talaṁ nibbāyeyya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā …pe…
so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā upahaccaparinibbāyī hoti.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā …pe…
so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā asaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, divasaṁsantatte ayokapāle haññamāne papaṭikā nibbattitvā uppatitvā paritte tiṇapuñje vā kaṭṭhapuñje vā nipateyya.
Sā tattha aggimpi janeyya, dhūmampi janeyya, aggimpi janetvā dhūmampi janetvā tameva parittaṁ tiṇapuñjaṁ vā kaṭṭhapuñjaṁ vā pariyādiyitvā anāhārā nibbāyeyya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā …pe…
so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā asaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā …pe…
so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sasaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, divasaṁsantatte ayokapāle haññamāne papaṭikā nibbattitvā uppatitvā vipule tiṇapuñje vā kaṭṭhapuñje vā nipateyya.
Sā tattha aggimpi janeyya, dhūmampi janeyya, aggimpi janetvā dhūmampi janetvā tameva vipulaṁ tiṇapuñjaṁ vā kaṭṭhapuñjaṁ vā pariyādiyitvā anāhārā nibbāyeyya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā …pe…
so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sasaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā, na bhavissati na me bhavissati, yadatthi yaṁ bhūtaṁ taṁ pajahāmī’ti upekkhaṁ paṭilabhati.
So bhave na rajjati, sambhave na rajjati, atthuttari padaṁ santaṁ sammappaññāya passati.
Tañca khvassa padaṁ na sabbena sabbaṁ sacchikataṁ hoti, tassa na sabbena sabbaṁ mānānusayo pahīno hoti, na sabbena sabbaṁ bhavarāgānusayo pahīno hoti, na sabbena sabbaṁ avijjānusayo pahīno hoti.
So pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā uddhaṁsoto hoti akaniṭṭhagāmī.
Seyyathāpi, bhikkhave, divasaṁsantatte ayokapāle haññamāne papaṭikā nibbattitvā uppatitvā mahante tiṇapuñje vā kaṭṭhapuñje vā nipateyya.
Sā tattha aggimpi janeyya, dhūmampi janeyya, aggimpi janetvā dhūmampi janetvā tameva mahantaṁ tiṇapuñjaṁ vā kaṭṭhapuñjaṁ vā pariyādiyitvā gacchampi daheyya, dāyampi daheyya, gacchampi dahitvā dāyampi dahitvā haritantaṁ vā pathantaṁ vā selantaṁ vā udakantaṁ vā ramaṇīyaṁ vā bhūmibhāgaṁ āgamma anāhārā nibbāyeyya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā …pe…
so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā uddhaṁsoto hoti akaniṭṭhagāmī.
Imā kho, bhikkhave, satta purisagatiyo.
Katamañca, bhikkhave, anupādāparinibbānaṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā, na bhavissati na me bhavissati, yadatthi yaṁ bhūtaṁ taṁ pajahāmī’ti upekkhaṁ paṭilabhati.
So bhave na rajjati, sambhave na rajjati, atthuttari padaṁ santaṁ sammappaññāya passati.
Tañca khvassa padaṁ sabbena sabbaṁ sacchikataṁ hoti, tassa sabbena sabbaṁ mānānusayo pahīno hoti, sabbena sabbaṁ bhavarāgānusayo pahīno hoti, sabbena sabbaṁ avijjānusayo pahīno hoti.
So āsavānaṁ khayā …pe… sacchikatvā upasampajja viharati.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, anupādāparinibbānaṁ.
Imā kho, bhikkhave, satta purisagatiyo anupādā ca parinibbānan”ti.
Dutiyaṁ.
“Mendicants, I will teach you seven places people are reborn, and extinguishment by not grasping.
Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” the mendicants replied.
The Buddha said this:
“And what are the seven places people are reborn?
Take a mendicant who practices like this:
‘It might not be, and it might not be mine. It will not be, and it will not be mine. I am giving up what exists, what has come to be.’ They gain equanimity.
They’re not attached to life, or to creating a new life. And they see with right wisdom that there is a peaceful state beyond.
But they haven’t completely realized that state. They haven’t totally given up the underlying tendencies of conceit, desire for continued existence, and ignorance.
With the ending of the five lower fetters they’re extinguished between one life and the next.
Suppose you struck an iron pot that had been heated all day. Any spark that flew off would be extinguished.
In the same way, a mendicant who practices like this …
With the ending of the five lower fetters they’re extinguished between one life and the next.
Take a mendicant who practices like this:
‘It might not be, and it might not be mine. It will not be, and it will not be mine. I am giving up what exists, what has come to be.’ They gain equanimity.
They’re not attached to life, or to creating a new life. And they see with right wisdom that there is a peaceful state beyond.
But they haven’t totally realized that state. They haven’t completely given up the underlying tendencies of conceit, desire for continued existence, and ignorance.
With the ending of the five lower fetters they’re extinguished between one life and the next.
Suppose you struck an iron pot that had been heated all day. Any spark that flew off and floated away would be extinguished.
In the same way, a mendicant who practices like this …
With the ending of the five lower fetters they’re extinguished between one life and the next.
Take a mendicant who practices like this:
‘It might not be, and it might not be mine. …’
With the ending of the five lower fetters they’re extinguished between one life and the next.
Suppose you struck an iron pot that had been heated all day. Any spark that flew off and floated away would be extinguished before landing.
In the same way, a mendicant who practices like this …
With the ending of the five lower fetters they’re extinguished between one life and the next.
Take a mendicant who practices like this:
‘It might not be, and it might not be mine. …’
With the ending of the five lower fetters they’re extinguished upon landing.
Suppose you struck an iron pot that had been heated all day. Any spark that flew off and floated away would be extinguished upon landing.
In the same way, a mendicant who practices like this …
‘It might not be, and it might not be mine. …’
With the ending of the five lower fetters they’re extinguished upon landing.
Take a mendicant who practices like this:
‘It might not be, and it might not be mine. …’
With the ending of the five lower fetters they’re extinguished without extra effort.
Suppose you struck an iron pot that had been heated all day. Any spark that flew off and floated away would fall on a little heap of grass or twigs.
There it would ignite a fire and produce smoke. But the fire would consume the grass or twigs and become extinguished due to not being fed.
In the same way, a mendicant who practices like this …
‘It might not be, and it might not be mine. …’
With the ending of the five lower fetters they’re extinguished without extra effort.
Take a mendicant who practices like this:
‘It might not be, and it might not be mine. …’
With the ending of the five lower fetters they’re extinguished with extra effort.
Suppose you struck an iron pot that had been heated all day. Any spark that flew off and floated away would fall on a large heap of grass or twigs.
There it would ignite a fire and produce smoke. But the fire would consume the grass or twigs and become extinguished due to not being fed.
In the same way, a mendicant who practices like this …
‘It might not be, and it might not be mine. …’
With the ending of the five lower fetters they’re extinguished with extra effort.
Take a mendicant who practices like this:
‘It might not be, and it might not be mine. It will not be, and it will not be mine. I am giving up what exists, what has come to be.’ They gain equanimity.
They’re not attached to life, or to creating a new life. And they see with right wisdom that there is a peaceful state beyond.
But they haven’t totally realized that state. They haven’t completely given up the underlying tendencies of conceit, desire for continued existence, and ignorance.
With the ending of the five lower fetters they head upstream, going to the Akaniṭṭha realm.
Suppose you struck an iron pot that had been heated all day. Any spark that flew off and floated away would fall on a huge heap of grass or twigs.
There it would ignite a fire and produce smoke. And after consuming the grass and twigs, the fire would burn up plants and trees until it reached a green field, a roadside, a cliff’s edge, a body of water, or cleared parkland, where it would be extinguished due to not being fed.
In the same way, a mendicant who practices like this …
‘It might not be, and it might not be mine. …’
With the ending of the five lower fetters they head upstream, going to the Akaniṭṭha realm.
These are the seven places people are reborn.
And what is complete extinguishment with no fuel for grasping?
Take a mendicant who practices like this:
‘It might not be, and it might not be mine. It will not be, and it will not be mine. I am giving up what exists, what has come to be.’ They gain equanimity.
They’re not attached to life, or to creating a new life. And they see with right wisdom that there is a peaceful state beyond.
And they have totally realized that state. They’ve completely given up the underlying tendencies of conceit, desire for continued existence, and ignorance.
They’ve realized the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom in this very life, and live having realized it with their own insight due to the ending of defilements.
This is called complete extinguishment with no fuel for grasping.
These are the seven places people are reborn, and extinguishment by not grasping.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về bảy sanh thú của loài Người, và không chấp thủ Niết-bàn. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói:
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
—Này các Tỷ-kheo. Thế nào là bảy sanh thú của loài Người?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành như vậy suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta. Cái gì có, cái gì được thành, ta đều từ bỏ”. Vị ấy có được xả. Vị ấy không tham đắm sanh hữu, không tham đắm tích tụ của hữu; với chánh trí tuệ, vị ấy thấy có con đường vô thượng tịch tịnh. Vị ấy chưa chứng ngộ trọn vẹn hoàn toàn con đường ấy. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn mạn tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn hữu tham tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn vô minh tùy miên. Do diệt tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng được Trung gian Niết-bàn. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái bát bằng sắt được đốt cháy cả ngày và được đập đánh, một miếng vụn có thể văng ra và trở thành nguội lạnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta. Cái gì có, cái gì được thành, ta đều từ bỏ”. Vị ấy có được xả, vị ấy không tham đắm hữu, không tham đắm hậu hữu; với chánh trí tuệ, vị ấy thấy có con đường vô thượng tịch tịnh. Và vị ấy chưa chứng ngộ trọn vẹn hoàn toàn con đường ấy. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn mạn tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn hữu tham tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn vô minh tùy miên. Do diệt tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng được Trung gian Niết-bàn.
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong thực hành suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta. Cái gì có, cái gì được thành, ta đều từ bỏ”. Vị ấy có được xả, vị ấy không tham đắm sanh hữu, không tham đắm tích tụ của hữu; với chánh trí tuệ, vị ấy thấy có con đường vô thượng tịch tịnh và vị ấy chưa chứng ngộ trọn vẹn hoàn toàn con đường ấy. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn mạn tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn hữu tham tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn vô minh tùy miên. Do diệt tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng được Trung gian Niết-bàn. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái bát bằng sắt được đốt cháy cả ngày và được đập đánh, một miếng vụn có thể văng ra, có thể bay lên và trở thành nguội lạnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy đoạn diệt tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng được Trung gian Niết-bàn.
TTC 4Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy đoạn diệt tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng được Trung gian Niết-bàn. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái bát bằng sắt được đốt cháy cả ngày và được đập đánh, một miếng vụn có thể văng ra, có thể bay lên, sau khi chưa chạm vào đất, có thể trở thành nguội lạnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy, sau khi diệt tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng được Trung gian Niết-bàn.
TTC 5Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy, do diệt tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Tổn hại Bát-niết-bàn. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái bát bằng sắt được đốt cháy cả ngày và được đập đánh, một miếng vụn có thể văng ra , có thể bay lên, sau khi chưa chạm vào đất, có thể trở thành nguội lạnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy, do diệt tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Tổn hại Bát-niết-bàn.
TTC 6Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy, do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, chứng được Vô hành Niết-bàn. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái bát bằng sắt được đốt cháy cả ngày và được đập đánh, một miếng vụn có thể văng ra, có thể bay lên, có thể rơi xuống trên một đống cỏ nhỏ, hay trên một đống củi nhỏ; miếng vụn ấy ở đấy sanh ra ngọn lửa, sanh ra khói. Sau khi sanh ra ngọn lửa, sau khi sanh ra khói, nó đốt cháy tiêu hết đồng cỏ nhỏ ấy, hay đống củi nhỏ ấy, rồi trở thành nguội lạnh vì không có nhiên liệu. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy, do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, chứng được Vô hành Niết-bàn.
TTC 7Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo khi thực hành như vậy, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy, do diệt tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Hữu hành Bát-niết-bàn. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái bát bằng sắt được đốt cháy cả ngày và được đập đánh, một miếng vụn có thể văng ra, có thể bay lên, có thể rơi xuống trên một đống cỏ , hay trên một đống củi rộng lớn; miếng vụn ấy ở đấy sanh ra ngọn lửa, sanh ra khói. Sau khi sanh ra ngọn lửa, sau khi sanh ra khói, nó đốt cháy tiêu hết đồng cỏ , hay đống củi rộng lớn ấy, rồi trở thành nguội lạnh vì không có nhiên liệu. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành như vậy, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này sẽ không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy, do diệt tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Hữu hành Bát-niết-bàn.
TTC 8Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành như vậy suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta. Cái gì có, cái gì được thành, ta đều từ bỏ.”. Vị ấy có được xả, vị ấy không tham đắm sanh hữu, không tham đắm tích tụ của hữu; với chánh trí tuệ, vị ấy thấy có con đường vô thượng tịch tịnh và vị ấy chưa chứng ngộ trọn vẹn hoàn toàn con đường ấy. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn mạn tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn hữu tham tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn vô minh tùy miên. Do diệt tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng được Thượng lưu Bát-niết-bàn, đi đến Sắc cứu cánh. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái bát bằng sắt được đốt cháy cả ngày và được đập đánh, một miếng vụn có thể văng ra, có thể bay lên, có thể rơi xuống trên một đống cỏ, hay trên một đống củi to lớn; miếng vụn ấy ở đấy sanh ra ngọn lửa, sanh ra khói. Sau khi sanh ra ngọn lửa, sau khi sanh ra khói, nó đốt cháy tiêu hết đồng cỏ, hay đống củi to lớn ấy, thiêu cháy lùm cây, thiêu cháy rừng rậm. Sau khi thiêu cháy thảo nguyên, sau khi thiêu cháy rừng rậm, nó cháy lan đến đám ruộng xanh hay đến đám đất cao, hay đến hòn đá, hay đến dòng nước, hay đến đám đất khả ái, hay đến một phần đất nào rồi trở thành nguội lạnh vì không có nhiên liệu. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành như vậy, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy, do diệt tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Thượng lưu Bát-niết-bàn, đi đến Sắc cứu cánh.
Này các Tỷ-kheo, đây là bảy sanh thú của loài Người. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Không chấp thủ Bát-Niết-bàn?
TTC 9Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo khi thực hành như vậy, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta. Cái gì có, cái gì được thành, ta đều từ bỏ.”. Vị ấy có được xả, vị ấy không tham đắm sanh hữu, không tham đắm tích tụ của hữu; với chánh trí tuệ, vị ấy thấy có con đường vô thượng tịch tịnh và vị ấy chứng đắc trọn vẹn hoàn toàn con đường ấy. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn mạn tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn hữu tham tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn vô minh tùy miên. Do diệt tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy tự mình với thắng trí, ngay trong hiện tại, chứng nhập, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Không chấp thủ Bát-niết-bàn. Và này các Tỷ-kheo, đây là bảy sanh thú của loài Người và Không chấp thủ Bát-niết-bàn.
“Satta ca, bhikkhave, purisagatiyo desessāmi anupādā ca parinibbānaṁ.
Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“katamā ca, bhikkhave, satta purisagatiyo?
Idha, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā, na bhavissati na me bhavissati, yadatthi yaṁ bhūtaṁ taṁ pajahāmī’ti upekkhaṁ paṭilabhati.
So bhave na rajjati, sambhave na rajjati, atthuttari padaṁ santaṁ sammappaññāya passati.
Tañca khvassa padaṁ na sabbena sabbaṁ sacchikataṁ hoti, tassa na sabbena sabbaṁ mānānusayo pahīno hoti, na sabbena sabbaṁ bhavarāgānusayo pahīno hoti, na sabbena sabbaṁ avijjānusayo pahīno hoti.
So pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā antarāparinibbāyī hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, divasaṁsantatte ayokapāle haññamāne papaṭikā nibbattitvā nibbāyeyya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā, na bhavissati na me bhavissati, yadatthi yaṁ bhūtaṁ taṁ pajahāmī’ti upekkhaṁ paṭilabhati.
So bhave na rajjati, sambhave na rajjati, atthuttari padaṁ santaṁ sammappaññāya passati.
Tañca khvassa padaṁ na sabbena sabbaṁ sacchikataṁ hoti, tassa na sabbena sabbaṁ mānānusayo pahīno hoti, na sabbena sabbaṁ bhavarāgānusayo pahīno hoti, na sabbena sabbaṁ avijjānusayo pahīno hoti.
So pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā antarāparinibbāyī hoti.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā, na bhavissati na me bhavissati, yadatthi yaṁ bhūtaṁ taṁ pajahāmī’ti upekkhaṁ paṭilabhati.
So bhave na rajjati, sambhave na rajjati, atthuttari padaṁ santaṁ sammappaññāya passati.
Tañca khvassa padaṁ na sabbena sabbaṁ sacchikataṁ hoti, tassa na sabbena sabbaṁ mānānusayo pahīno hoti, na sabbena sabbaṁ bhavarāgānusayo pahīno hoti, na sabbena sabbaṁ avijjānusayo pahīno hoti.
So pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā antarāparinibbāyī hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, divasaṁsantatte ayokapāle haññamāne papaṭikā nibbattitvā uppatitvā nibbāyeyya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā …pe…
so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā antarāparinibbāyī hoti.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā …pe…
so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā antarāparinibbāyī hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, divasaṁsantatte ayokapāle haññamāne papaṭikā nibbattitvā uppatitvā anupahacca talaṁ nibbāyeyya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā …pe…
so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā antarāparinibbāyī hoti.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā …pe…
so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā upahaccaparinibbāyī hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, divasaṁsantatte ayokapāle haññamāne papaṭikā nibbattitvā uppatitvā upahacca talaṁ nibbāyeyya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā …pe…
so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā upahaccaparinibbāyī hoti.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā …pe…
so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā asaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, divasaṁsantatte ayokapāle haññamāne papaṭikā nibbattitvā uppatitvā paritte tiṇapuñje vā kaṭṭhapuñje vā nipateyya.
Sā tattha aggimpi janeyya, dhūmampi janeyya, aggimpi janetvā dhūmampi janetvā tameva parittaṁ tiṇapuñjaṁ vā kaṭṭhapuñjaṁ vā pariyādiyitvā anāhārā nibbāyeyya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā …pe…
so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā asaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā …pe…
so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sasaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, divasaṁsantatte ayokapāle haññamāne papaṭikā nibbattitvā uppatitvā vipule tiṇapuñje vā kaṭṭhapuñje vā nipateyya.
Sā tattha aggimpi janeyya, dhūmampi janeyya, aggimpi janetvā dhūmampi janetvā tameva vipulaṁ tiṇapuñjaṁ vā kaṭṭhapuñjaṁ vā pariyādiyitvā anāhārā nibbāyeyya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā …pe…
so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sasaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā, na bhavissati na me bhavissati, yadatthi yaṁ bhūtaṁ taṁ pajahāmī’ti upekkhaṁ paṭilabhati.
So bhave na rajjati, sambhave na rajjati, atthuttari padaṁ santaṁ sammappaññāya passati.
Tañca khvassa padaṁ na sabbena sabbaṁ sacchikataṁ hoti, tassa na sabbena sabbaṁ mānānusayo pahīno hoti, na sabbena sabbaṁ bhavarāgānusayo pahīno hoti, na sabbena sabbaṁ avijjānusayo pahīno hoti.
So pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā uddhaṁsoto hoti akaniṭṭhagāmī.
Seyyathāpi, bhikkhave, divasaṁsantatte ayokapāle haññamāne papaṭikā nibbattitvā uppatitvā mahante tiṇapuñje vā kaṭṭhapuñje vā nipateyya.
Sā tattha aggimpi janeyya, dhūmampi janeyya, aggimpi janetvā dhūmampi janetvā tameva mahantaṁ tiṇapuñjaṁ vā kaṭṭhapuñjaṁ vā pariyādiyitvā gacchampi daheyya, dāyampi daheyya, gacchampi dahitvā dāyampi dahitvā haritantaṁ vā pathantaṁ vā selantaṁ vā udakantaṁ vā ramaṇīyaṁ vā bhūmibhāgaṁ āgamma anāhārā nibbāyeyya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā …pe…
so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā uddhaṁsoto hoti akaniṭṭhagāmī.
Imā kho, bhikkhave, satta purisagatiyo.
Katamañca, bhikkhave, anupādāparinibbānaṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa no ca me siyā, na bhavissati na me bhavissati, yadatthi yaṁ bhūtaṁ taṁ pajahāmī’ti upekkhaṁ paṭilabhati.
So bhave na rajjati, sambhave na rajjati, atthuttari padaṁ santaṁ sammappaññāya passati.
Tañca khvassa padaṁ sabbena sabbaṁ sacchikataṁ hoti, tassa sabbena sabbaṁ mānānusayo pahīno hoti, sabbena sabbaṁ bhavarāgānusayo pahīno hoti, sabbena sabbaṁ avijjānusayo pahīno hoti.
So āsavānaṁ khayā …pe… sacchikatvā upasampajja viharati.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, anupādāparinibbānaṁ.
Imā kho, bhikkhave, satta purisagatiyo anupādā ca parinibbānan”ti.
Dutiyaṁ.