TTC 1Một thời, Thế Tôn đang đi trên con đường giữa Ukkatthà và Setabbya. Bà-la-môn Dona cũng đang đi trên con đường giữa Ukkatthà và Setabbya. Bà-la-môn Dona thấy trên những dấu chân của Thế Tôn có dấu bánh xe một ngàn cọng, với vành xe, trục xe và đầy đủ tất cả các tướng khác. Thấy vậy, vị ấy suy nghĩ như sau: “Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Những dấu chân này không phải là của loài Người!”.
TTC 2Rồi Thế Tôn từ trên đường bước xuống, đến ngồi dưới một gốc cây, ngồi kiết-già, thân thẳng, đặt niệm trước mặt. Bà-la-môn Dona theo dấu chân của Thế Tôn, thấy Thế Tôn đang ngồi dưới một gốc cây đẹp đẽ, khởi lên tịnh tín, các căn tịch tịnh, tâm ý tịch tịnh, đạt được tịnh chỉ do điều phục tối thượng, giống như một con voi được điều phục, được phòng hộ với căn tịch tịnh. Thấy vậy Bà-la-môn Dona liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến, thưa với Thế Tôn:
—Có phải thưa Tôn giả, Ngài là vị tiên?
—Hỡi này Bà-la-môn, Ta không là tiên.
—Có phải thưa Tôn giả, Ngài là Càn-thát-bà?
—Hỡi này Bà-la-môn, Ta không là Càn-thát-bà,
—Có phải thưa Tôn giả, Ngài là Dạ-xoa?
—Hỡi này Bà-la-môn, Ta không là Dạ-xoa.
—Có phải thưa Tôn giả, Ngài là loài Người?
—Hỡi này Bà-la-môn, Ta không là Người.
—Hỏi “Ngài có phải là tiên không?”, Ngài trả lời: “Này Bà-la-môn, Ta không phải là tiên”. Hỏi “Ngài có phải là Càn-thát-bà không?”, Ngài trả lời: “Này Bà-la-môn, Ta không phải là Càn-thát-bà”. Hỏi “Ngài có phải là Dạ-xoa không?” Ngài trả lời: “Này Bà-la-môn, Ta không phải là Dạ-xoa”. Hỏi “Ngài có phải là loài Người không?”, Ngài trả lời: “Ta không phải là loài Người”. Vậy sở hành của Ngài là gì và Tôn giả là gì?
TTC 3—Này Bà-la-môn, đối với những người chưa đoạn tận các lậu hoặc, Ta có thể là chư Thiên, với các lậu hoặc đã đoạn tận, được chặt đứt từ gốc rễ, được làm thành như thân cây ta-la, được làm cho không thể hiện hữu, được làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Này Bà-la-môn, đối với những người chưa đoạn tận các lậu hoặc, Ta có thể là Càn-thát-bà, Ta có thể là Dạ-xoa, Ta có thể là Người, với các lậu hoặc đã đoạn tận, được chặt dứt từ gốc rễ, được làm thành như thân cây ta-la, được làm cho không thể hiện hữu, được làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Ví như, này Bà-la-môn, bông sen xanh, hay bông sen hồng, hay bông sen trắng, sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên khỏi nước, và đứng thẳng không bị nước thấm ướt. Cũng vậy, này Bà-la-môn sanh ta trong đời, lớn lên trong đời, Ta sống chinh phục đời, không bị đời thấm ướt. Này Bà-la-môn, Ta là Phật, hãy như vậy thọ trì.
TTC 4
Với lậu hoặc chưa đoạn,
Ta có thể là tiên,
Có thể Càn-thát-bà,
Có thể là loài chim
Hay đi đến Dạ-xoa,
Hay vào trong thai người,
Với Ta lậu hoặc tận,
Bị phá hủy, trừ khử
Như sen trắng tươi đẹp
Không bị nước thấm ướt,
Ðời không thấm ướt Ta,
Do vậy Ta được gọi,
Ta là Phật Chánh giác,
Hỡi này Bà-la-môn.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā antarā ca ukkaṭṭhaṁ antarā ca setabyaṁ addhānamaggappaṭipanno hoti.
Doṇopi sudaṁ brāhmaṇo antarā ca ukkaṭṭhaṁ antarā ca setabyaṁ addhānamaggappaṭipanno hoti.
Addasā kho doṇo brāhmaṇo bhagavato pādesu cakkāni sahassārāni sanemikāni sanābhikāni sabbākāraparipūrāni;
disvānassa etadahosi:
“acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho.
Na vatimāni manussabhūtassa padāni bhavissantī”ti.
Atha kho bhagavā maggā okkamma aññatarasmiṁ rukkhamūle nisīdi pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā.
Atha kho doṇo brāhmaṇo bhagavato padāni anugacchanto addasa bhagavantaṁ aññatarasmiṁ rukkhamūle nisinnaṁ pāsādikaṁ pasādanīyaṁ santindriyaṁ santamānasaṁ uttamadamathasamathamanuppattaṁ dantaṁ guttaṁ saṁyatindriyaṁ nāgaṁ.
Disvāna yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca:
“Devo no bhavaṁ bhavissatī”ti?
“Na kho ahaṁ, brāhmaṇa, devo bhavissāmī”ti.
“Gandhabbo no bhavaṁ bhavissatī”ti?
“Na kho ahaṁ, brāhmaṇa, gandhabbo bhavissāmī”ti.
“Yakkho no bhavaṁ bhavissatī”ti?
“Na kho ahaṁ, brāhmaṇa, yakkho bhavissāmī”ti.
“Manusso no bhavaṁ bhavissatī”ti?
“Na kho ahaṁ, brāhmaṇa, manusso bhavissāmī”ti.
“‘Devo no bhavaṁ bhavissatī’ti, iti puṭṭho samāno:
‘na kho ahaṁ, brāhmaṇa, devo bhavissāmī’ti vadesi.
‘Gandhabbo no bhavaṁ bhavissatī’ti, iti puṭṭho samāno:
‘na kho ahaṁ, brāhmaṇa, gandhabbo bhavissāmī’ti vadesi.
‘Yakkho no bhavaṁ bhavissatī’ti, iti puṭṭho samāno:
‘na kho ahaṁ, brāhmaṇa, yakkho bhavissāmī’ti vadesi.
‘Manusso no bhavaṁ bhavissatī’ti, iti puṭṭho samāno:
‘na kho ahaṁ, brāhmaṇa, manusso bhavissāmī’ti vadesi.
Atha ko carahi bhavaṁ bhavissatī”ti?
“Yesaṁ kho ahaṁ, brāhmaṇa, āsavānaṁ appahīnattā devo bhaveyyaṁ, te me āsavā pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Yesaṁ kho ahaṁ, brāhmaṇa, āsavānaṁ appahīnattā gandhabbo bhaveyyaṁ … yakkho bhaveyyaṁ … manusso bhaveyyaṁ, te me āsavā pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Seyyathāpi, brāhmaṇa, uppalaṁ vā padumaṁ vā puṇḍarīkaṁ vā udake jātaṁ udake saṁvaḍḍhaṁ udakā accuggamma tiṭṭhati anupalittaṁ udakena;
evamevaṁ kho ahaṁ, brāhmaṇa, loke jāto loke saṁvaḍḍho lokaṁ abhibhuyya viharāmi anupalitto lokena.
Buddhoti maṁ, brāhmaṇa, dhārehīti.
Yena devūpapatyassa,
gandhabbo vā vihaṅgamo;
Yakkhattaṁ yena gaccheyyaṁ,
manussattañca abbaje;
Te mayhaṁ āsavā khīṇā,
viddhastā vinaḷīkatā.
Puṇḍarīkaṁ yathā vaggu,
Toyena nupalippati;
Nupalippāmi lokena,
Tasmā buddhosmi brāhmaṇā”ti.
Chaṭṭhaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was traveling along the highway between Ukkaṭṭhā and Setavya. The brahmin Doṇa was also traveling along the highway between Ukkaṭṭhā and Setavya. The brahmin Doṇa then saw the thousand-spoked wheels of the Blessed One’s footprints, with their rims and hubs, complete in all respects, and thought: “It is astounding and amazing! These surely could not be the footprints of a human being!” an.ii.38
SC 2Then the Blessed One left the highway and sat down at the foot of a tree, folding his legs crosswise, straightening his body, and establishing mindfulness in front of him. Tracking the Blessed One’s footprints, the brahmin Doṇa saw the Blessed One sitting at the foot of the tree—graceful, inspiring confidence, with peaceful faculties and peaceful mind, one who had attained to the highest taming and serenity, like a tamed and guarded bull elephant with controlled faculties. He then approached the Blessed One and said to him:
(1) “Could you be a deva, sir?”
“I will not be a deva, brahmin.”
(2) “Could you be a gandhabba, sir?”
“I will not be a gandhabba, brahmin.”
(3) “Could you be a yakkha, sir?”
“I will not be a yakkha, brahmin.”
(4) “Could you be a human being, sir?”
“I will not be a human being, brahmin.”
SC 3“When you are asked: ‘Could you be a deva, sir?’ you say: ‘I will not be a deva, brahmin.’ When you are asked: ‘Could you be a gandhabba, sir?’ you say: ‘I will not be a gandhabba, brahmin.’ When you are asked: ‘Could you be a yakkha, sir?’ you say: ‘I will not be a yakkha, brahmin.’ When you are asked: ‘Could you be a human being, sir?’ you say: ‘I will not be a human being, brahmin.’ What, then, could you be, sir?”
SC 4(1) “Brahmin, I have abandoned those taints because of which I might have become a deva; I have cut them off at the root, made them like palm stumps, obliterated them so that they are no longer subject to future arising. (2) I have abandoned those taints because of which I might have become a gandhabba … (3) … might have become a yakkha … (4) … might have become a human being; I have cut them off at the root, made them like palm stumps, obliterated them so that they are no longer subject to future arising. Just as a blue, red, or white lotus flower, though born in the water and grown up in the water, rises above the water and stands an.ii.39 unsoiled by the water, even so, though born in the world and grown up in the world, I have overcome the world and dwell unsoiled by the world. Remember me, brahmin, as a Buddha.
SC 5“I have destroyed those taints by which
I might have been reborn as a deva
or as a gandhabba that travels through the sky;
by which I might have reached the state of a yakkha,
or arrived back at the human state:
I have dispelled and cut down these taints.
SC 6“As a lovely white lotus
is not soiled by the water,
I am not soiled by the world:
therefore, O brahmin, I am a Buddha.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn đang đi trên con đường giữa Ukkatthà và Setabbya. Bà-la-môn Dona cũng đang đi trên con đường giữa Ukkatthà và Setabbya. Bà-la-môn Dona thấy trên những dấu chân của Thế Tôn có dấu bánh xe một ngàn cọng, với vành xe, trục xe và đầy đủ tất cả các tướng khác. Thấy vậy, vị ấy suy nghĩ như sau: “Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Những dấu chân này không phải là của loài Người!”.
TTC 2Rồi Thế Tôn từ trên đường bước xuống, đến ngồi dưới một gốc cây, ngồi kiết-già, thân thẳng, đặt niệm trước mặt. Bà-la-môn Dona theo dấu chân của Thế Tôn, thấy Thế Tôn đang ngồi dưới một gốc cây đẹp đẽ, khởi lên tịnh tín, các căn tịch tịnh, tâm ý tịch tịnh, đạt được tịnh chỉ do điều phục tối thượng, giống như một con voi được điều phục, được phòng hộ với căn tịch tịnh. Thấy vậy Bà-la-môn Dona liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến, thưa với Thế Tôn:
—Có phải thưa Tôn giả, Ngài là vị tiên?
—Hỡi này Bà-la-môn, Ta không là tiên.
—Có phải thưa Tôn giả, Ngài là Càn-thát-bà?
—Hỡi này Bà-la-môn, Ta không là Càn-thát-bà,
—Có phải thưa Tôn giả, Ngài là Dạ-xoa?
—Hỡi này Bà-la-môn, Ta không là Dạ-xoa.
—Có phải thưa Tôn giả, Ngài là loài Người?
—Hỡi này Bà-la-môn, Ta không là Người.
—Hỏi “Ngài có phải là tiên không?”, Ngài trả lời: “Này Bà-la-môn, Ta không phải là tiên”. Hỏi “Ngài có phải là Càn-thát-bà không?”, Ngài trả lời: “Này Bà-la-môn, Ta không phải là Càn-thát-bà”. Hỏi “Ngài có phải là Dạ-xoa không?” Ngài trả lời: “Này Bà-la-môn, Ta không phải là Dạ-xoa”. Hỏi “Ngài có phải là loài Người không?”, Ngài trả lời: “Ta không phải là loài Người”. Vậy sở hành của Ngài là gì và Tôn giả là gì?
TTC 3—Này Bà-la-môn, đối với những người chưa đoạn tận các lậu hoặc, Ta có thể là chư Thiên, với các lậu hoặc đã đoạn tận, được chặt đứt từ gốc rễ, được làm thành như thân cây ta-la, được làm cho không thể hiện hữu, được làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Này Bà-la-môn, đối với những người chưa đoạn tận các lậu hoặc, Ta có thể là Càn-thát-bà, Ta có thể là Dạ-xoa, Ta có thể là Người, với các lậu hoặc đã đoạn tận, được chặt dứt từ gốc rễ, được làm thành như thân cây ta-la, được làm cho không thể hiện hữu, được làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Ví như, này Bà-la-môn, bông sen xanh, hay bông sen hồng, hay bông sen trắng, sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên khỏi nước, và đứng thẳng không bị nước thấm ướt. Cũng vậy, này Bà-la-môn sanh ta trong đời, lớn lên trong đời, Ta sống chinh phục đời, không bị đời thấm ướt. Này Bà-la-môn, Ta là Phật, hãy như vậy thọ trì.
TTC 4
Với lậu hoặc chưa đoạn,
Ta có thể là tiên,
Có thể Càn-thát-bà,
Có thể là loài chim
Hay đi đến Dạ-xoa,
Hay vào trong thai người,
Với Ta lậu hoặc tận,
Bị phá hủy, trừ khử
Như sen trắng tươi đẹp
Không bị nước thấm ướt,
Ðời không thấm ướt Ta,
Do vậy Ta được gọi,
Ta là Phật Chánh giác,
Hỡi này Bà-la-môn.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā antarā ca ukkaṭṭhaṁ antarā ca setabyaṁ addhānamaggappaṭipanno hoti.
Doṇopi sudaṁ brāhmaṇo antarā ca ukkaṭṭhaṁ antarā ca setabyaṁ addhānamaggappaṭipanno hoti.
Addasā kho doṇo brāhmaṇo bhagavato pādesu cakkāni sahassārāni sanemikāni sanābhikāni sabbākāraparipūrāni;
disvānassa etadahosi:
“acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho.
Na vatimāni manussabhūtassa padāni bhavissantī”ti.
Atha kho bhagavā maggā okkamma aññatarasmiṁ rukkhamūle nisīdi pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā.
Atha kho doṇo brāhmaṇo bhagavato padāni anugacchanto addasa bhagavantaṁ aññatarasmiṁ rukkhamūle nisinnaṁ pāsādikaṁ pasādanīyaṁ santindriyaṁ santamānasaṁ uttamadamathasamathamanuppattaṁ dantaṁ guttaṁ saṁyatindriyaṁ nāgaṁ.
Disvāna yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca:
“Devo no bhavaṁ bhavissatī”ti?
“Na kho ahaṁ, brāhmaṇa, devo bhavissāmī”ti.
“Gandhabbo no bhavaṁ bhavissatī”ti?
“Na kho ahaṁ, brāhmaṇa, gandhabbo bhavissāmī”ti.
“Yakkho no bhavaṁ bhavissatī”ti?
“Na kho ahaṁ, brāhmaṇa, yakkho bhavissāmī”ti.
“Manusso no bhavaṁ bhavissatī”ti?
“Na kho ahaṁ, brāhmaṇa, manusso bhavissāmī”ti.
“‘Devo no bhavaṁ bhavissatī’ti, iti puṭṭho samāno:
‘na kho ahaṁ, brāhmaṇa, devo bhavissāmī’ti vadesi.
‘Gandhabbo no bhavaṁ bhavissatī’ti, iti puṭṭho samāno:
‘na kho ahaṁ, brāhmaṇa, gandhabbo bhavissāmī’ti vadesi.
‘Yakkho no bhavaṁ bhavissatī’ti, iti puṭṭho samāno:
‘na kho ahaṁ, brāhmaṇa, yakkho bhavissāmī’ti vadesi.
‘Manusso no bhavaṁ bhavissatī’ti, iti puṭṭho samāno:
‘na kho ahaṁ, brāhmaṇa, manusso bhavissāmī’ti vadesi.
Atha ko carahi bhavaṁ bhavissatī”ti?
“Yesaṁ kho ahaṁ, brāhmaṇa, āsavānaṁ appahīnattā devo bhaveyyaṁ, te me āsavā pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Yesaṁ kho ahaṁ, brāhmaṇa, āsavānaṁ appahīnattā gandhabbo bhaveyyaṁ … yakkho bhaveyyaṁ … manusso bhaveyyaṁ, te me āsavā pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Seyyathāpi, brāhmaṇa, uppalaṁ vā padumaṁ vā puṇḍarīkaṁ vā udake jātaṁ udake saṁvaḍḍhaṁ udakā accuggamma tiṭṭhati anupalittaṁ udakena;
evamevaṁ kho ahaṁ, brāhmaṇa, loke jāto loke saṁvaḍḍho lokaṁ abhibhuyya viharāmi anupalitto lokena.
Buddhoti maṁ, brāhmaṇa, dhārehīti.
Yena devūpapatyassa,
gandhabbo vā vihaṅgamo;
Yakkhattaṁ yena gaccheyyaṁ,
manussattañca abbaje;
Te mayhaṁ āsavā khīṇā,
viddhastā vinaḷīkatā.
Puṇḍarīkaṁ yathā vaggu,
Toyena nupalippati;
Nupalippāmi lokena,
Tasmā buddhosmi brāhmaṇā”ti.
Chaṭṭhaṁ.