Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ, nói lên những lời chào đón thăm hỏi thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, du sĩ Vacchagotta thưa với Thế Tôn:
—Tôi có được nghe, thưa Tôn giả Gotama, người ta loan truyền rằng Sa-môn Gotama nói như sau: “Cần phải bố thí cho Ta, không cần bố thí cho người khác. Cần phải bố thí cho đệ tử của Ta, không cần phải bố thí cho đệ tử những người khác. Bố thí cho Ta có quả lớn, bố thí cho những người khác không có quả lớn. Bố thí cho các đệ tử của ta có quả lớn, bố thí cho những đệ tử của người khác không có quả lớn!”. Thưa Tôn giả Gotama, những ai nói rằng Sa-môn nói như sau: “Cần phải bố thí cho Ta, không cần bố thí cho người khác. Cần phải bố thí cho đệ tử của Ta, không cần phải bố thí cho đệ tử những người khác. Bố thí cho Ta có quả lớn, bố thí cho những người khác không có quả lớn. Bố thí cho các đệ tử của ta có quả lớn, bố thí cho những đệ tử của người khác không có quả lớn!”, những người nói như vậy, có phải nói đúng lời nói của Tôn giả Gotama, không có xuyên tạc Tôn giả Gotama với điều không thật? Có phải họ nói như vậy là đúng pháp và thuận pháp, và những ai là người đúng pháp, nói lời đúng pháp và thuận pháp, không có cơ hội để chỉ trích? Họ không muốn xuyên tạc Tôn giả Gotama?
—Này Vaccha, những ai nói rằng Sa-môn Gotama nói như sau: “Cần phải bố thí cho Ta, không cần bố thí cho người khác. Cần phải bố thí cho đệ tử của Ta, không cần phải bố thí cho đệ tử những người khác. Bố thí cho Ta có quả lớn, bố thí cho những người khác không có quả lớn. Bố thí cho các đệ tử của ta có quả lớn, bố thí cho những đệ tử của người khác không có quả lớn!”, những người ấy không nói đúng với lời nói của ta, họ đã xuyên tạc ta với điều không thật, họ đã nói láo. Này Vaccha, ai ngăn chận người khác bố thí, người ấy tạo ra ba chướng ngại pháp và đánh cắp mất ba vật. Thế nào là ba?
Người ấy làm chướng ngại người cho không được công đức, người ấy ngăn chặn người nhận không được bố thí, và tự ngã người ấy trước đã mất gốc, lại càng bị thương tổn hơn. Này Vaccha, ai ngăn chặn người cho không bố thí người khác, tạo ra ba chướng ngại như vậy, và đánh cắp mất ba vật. Này Vaccha, ta nói như sau: “Những ai đổ đồ phế thải trên mâm bàn, hay đồ rửa chén bát vào hố phân hay hố rác rưởi với ý nghĩ để các loài hữu tình trong ấy nhờ đấy được ăn để sống”. Do nhân duyên ấy, này Vaccha, ta nói có đem lại công đức, còn nói gì đối với loài người.
Lại nữa, này Vaccha, Ta tuyên bố rằng, cho người có giới hạnh được quả lớn, cho người ác giới không phải như vậy. Người có giới hạnh là người đã đoạn tận năm pháp và đã đầy đủ năm pháp.
Thế nào là năm pháp đã được đoạn tận? Dục tham đã được đoạn tận, sân đã được đoạn tận, hôn trầm thùy miên đã được đoạn tận, trạo hối đã được đoạn tận, nghi đã được đoạn tận, năm pháp này đã được đoạn tận.
Năm pháp nào đã được đầy đủ?
Ðầy đủ vô học giới uẩn, đầy đủ vô học định uẩn, đầy đủ vô học tuệ uẩn, đầy đủ vô học giải thoát uẩn, đầy đủ vô học giải thoát tri kiến uẩn. Vị ấy được đầy đủ năm pháp này. Ở đây, Ta tuyên bố rằng, bố thí cho người đoạn tận năm pháp, đầy đủ năm pháp có quả lớn.
Như trong một đàn bò,
Có con đen, trắng, đỏ
Màu hung hay có đốm,
Có con màu bồ câu
Dầu con bò màu gì,
Kiếm được con bò thuần,
Con vật kéo sức mạnh,
Ðẹp, lanh và hăng hái,
Mặc kệ nó màu gì,
Liền mắc vào gánh nặng,
Cũng vậy, giữa loài người,
Dầu có sinh chỗ nào,
Hoàng tộc, Bà-la-môn
Thương gia hay nô bộc,
Kẻ không có giai cấp,
Hay hạ cấp đổ phân,
Giữa những người như vậy.
Ai điều phục thuần thục,
Ngay thẳng, đủ giới đức
Nói thực, biết tàm quý,
Sanh tử đã đoạn tận,
Phạm hạnh được vẹn toàn
Gánh nặng đã hạ xuống,
Không còn bị trói buộc,
Việc cần làm đã làm,
Không còn bị lậu hoặc,
Ðã đến bờ bên kia,
Không chấp pháp tịch tịnh,
Phước điền ấy vô cấu.
Quả lớn đáng cúng dường;
Như kẻ ngu không biết,
Thiếu trí, ít nghe nhiều,
Chỉ bố thí bên ngoài,
Không đến gần kẻ thiện,
Những ai gần kẻ thiện,
Có tuệ, tôn bực hiền
Họ tin bậc Thiện Thệ,
An trú tận gốc rễ.
Sanh Thiên hay ở đây
Ðược sanh gia đình tốt
Bậc trí tuần tự tiến
Chứng được cảnh Niết-bàn.
Atha kho vacchagotto paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho vacchagotto paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“sutaṁ metaṁ, bho gotama, samaṇo gotamo evamāha:
‘mayhameva dānaṁ dātabbaṁ, nāññesaṁ dānaṁ dātabbaṁ;
mayhameva sāvakānaṁ dānaṁ dātabbaṁ, nāññesaṁ sāvakānaṁ dānaṁ dātabbaṁ;
mayhameva dinnaṁ mahapphalaṁ, nāññesaṁ dinnaṁ mahapphalaṁ;
mayhameva sāvakānaṁ dinnaṁ mahapphalaṁ, nāññesaṁ sāvakānaṁ dinnaṁ mahapphalan’ti.
Ye te, bho gotama, evamāhaṁsu ‘samaṇo gotamo evamāha:
“mayhameva dānaṁ dātabbaṁ, nāññesaṁ dānaṁ dātabbaṁ.
Mayhameva sāvakānaṁ dānaṁ dātabbaṁ, nāññesaṁ sāvakānaṁ dānaṁ dātabbaṁ.
Mayhameva dinnaṁ mahapphalaṁ, nāññesaṁ dinnaṁ mahapphalaṁ.
Mayhameva sāvakānaṁ dinnaṁ mahapphalaṁ, nāññesaṁ sāvakānaṁ dinnaṁ mahapphalan”’ti.
Kacci te bhoto gotamassa vuttavādino na ca bhavantaṁ gotamaṁ abhūtena abbhācikkhanti, dhammassa cānudhammaṁ byākaronti, na ca koci sahadhammiko vādānupāto gārayhaṁ ṭhānaṁ āgacchati?
Anabbhakkhātukāmā hi mayaṁ bhavantaṁ gotaman”ti.
“Ye te, vaccha, evamāhaṁsu:
‘samaṇo gotamo evamāha:
“mayhameva dānaṁ dātabbaṁ …pe…
nāññesaṁ sāvakānaṁ dinnaṁ mahapphalan”’ti
na me te vuttavādino. Abbhācikkhanti ca pana maṁ asatā abhūtena.
Yo kho, vaccha, paraṁ dānaṁ dadantaṁ vāreti so tiṇṇaṁ antarāyakaro hoti, tiṇṇaṁ pāripanthiko.
Katamesaṁ tiṇṇaṁ?
Dāyakassa puññantarāyakaro hoti, paṭiggāhakānaṁ lābhantarāyakaro hoti, pubbeva kho panassa attā khato ca hoti upahato ca.
Yo kho, vaccha, paraṁ dānaṁ dadantaṁ vāreti so imesaṁ tiṇṇaṁ antarāyakaro hoti, tiṇṇaṁ pāripanthiko.
Ahaṁ kho pana, vaccha, evaṁ vadāmi:
‘ye hi te candanikāya vā oligalle vā pāṇā, tatrapi yo thālidhovanaṁ vā sarāvadhovanaṁ vā chaḍḍeti:
“ye tattha pāṇā te tena yāpentū”’ti, tato nidānampāhaṁ, vaccha, puññassa āgamaṁ vadāmi.
Ko pana vādo manussabhūte.
Api cāhaṁ, vaccha, sīlavato dinnaṁ mahapphalaṁ vadāmi, no tathā dussīlassa, so ca hoti pañcaṅgavippahīno pañcaṅgasamannāgato.
Katamāni pañcaṅgāni pahīnāni honti?
Kāmacchando pahīno hoti, byāpādo pahīno hoti, thinamiddhaṁ pahīnaṁ hoti, uddhaccakukkuccaṁ pahīnaṁ hoti, vicikicchā pahīnā hoti.
Imāni pañcaṅgāni vippahīnāni honti.
Katamehi pañcahi aṅgehi samannāgato hoti?
Asekkhena sīlakkhandhena samannāgato hoti, asekkhena samādhikkhandhena samannāgato hoti, asekkhena paññākkhandhena samannāgato hoti, asekkhena vimuttikkhandhena samannāgato hoti, asekkhena vimuttiñāṇadassanakkhandhena samannāgato hoti;
imehi pañcahi aṅgehi samannāgato hoti.
Iti pañcaṅgavippahīne pañcaṅgasamannāgate dinnaṁ mahapphalanti vadāmīti.
Iti kaṇhāsu setāsu,
rohiṇīsu harīsu vā;
Kammāsāsu sarūpāsu,
gosu pārevatāsu vā.
Yāsu kāsuci etāsu,
danto jāyati puṅgavo;
Dhorayho balasampanno,
kalyāṇajavanikkamo;
Tameva bhāre yuñjanti,
nāssa vaṇṇaṁ parikkhare.
Evamevaṁ manussesu,
yasmiṁ kasmiñci jātiye;
Khattiye brāhmaṇe vesse,
sudde caṇḍālapukkuse.
Yāsu kāsuci etāsu,
danto jāyati subbato;
Dhammaṭṭho sīlasampanno,
saccavādī hirīmano.
Pahīnajātimaraṇo,
brahmacariyassa kevalī;
Pannabhāro visaṁyutto,
katakicco anāsavo.
Pāragū sabbadhammānaṁ,
anupādāya nibbuto;
Tasmiṁyeva viraje khette,
vipulā hoti dakkhiṇā.
Bālā ca avijānantā,
dummedhā assutāvino;
Bahiddhā denti dānāni,
na hi sante upāsare.
Ye ca sante upāsanti,
sappaññe dhīrasammate;
Saddhā ca nesaṁ sugate,
mūlajātā patiṭṭhitā.
Devalokañca te yanti,
kule vā idha jāyare;
Anupubbena nibbānaṁ,
adhigacchanti paṇḍitā”ti.
Sattamaṁ.
SC 1Then the wanderer Vacchagotta approached the Blessed One … and said to him:
SC 2“Master Gotama, I have heard: ‘The ascetic Gotama says: “Alms should be given only to me, an.i.161 not to others; alms should be given only to my disciples, not to the disciples of others. Only what is given to me is very fruitful, not what is given to others; only what is given to my disciples is very fruitful, not what is given to the disciples of others.”’ Do those who speak thus state what has been said by Master Gotama and not misrepresent him with what is contrary to fact? Do they explain in accordance with the Dhamma so that they would not incur any reasonable criticism or ground for censure? For we do not want to misrepresent Master Gotama.”
SC 3“Those, Vaccha, who say: ‘The ascetic Gotama says: “Alms should be given only to me … only what is given to my disciples is very fruitful, not what is given to the disciples of others,”’ do not state what has been said by me but misrepresent me with what is untrue and contrary to fact. One who prevents another from giving alms creates an obstruction and stumbling block for three people. What three? He creates an obstruction to the donor’s acquiring merit, to the recipients’ gaining a gift, and already he has maimed and injured himself. One who prevents another from giving alms creates an obstruction and stumbling block for these three people.
SC 4“But, Vaccha, I say that one acquires merit even if one throws away dishwashing water in a refuse dump or cesspit with the thought: ‘May the living beings here sustain themselves with this!’ How much more, then, does one acquire merit when one gives to human beings! However, I say that what is given to one of virtuous behavior is more fruitful than what is given to an immoral person. And the most worthy recipient is one who has abandoned five factors and possesses five factors.
SC 5“What five factors has he abandoned? Sensual desire, ill will, dullness an.i.162 and drowsiness, restlessness and remorse, and doubt. These are the five factors that he has abandoned.
SC 6“And what five factors does he possess? The virtuous behavior, concentration, wisdom, liberation, and knowledge and vision of liberation of one beyond training. These are the five factors that he possesses.
SC 7“It is in such a way, I say, that what is given to one who has abandoned five factors and possesses five factors is very fruitful.”
SC 8Among cattle of any sort,
whether black, white, red, or golden,
mottled, uniform, or pigeon-colored,
the tamed bull is born,
the one that can bear the load,
possessing strength, advancing with good speed.
They yoke the burden just to him;
they are not concerned about his color.
SC 9So too, among human beings
it is in any kind of birth—
among khattiyas, brahmins, vessas,
suddas, caṇḍālas, or scavengers—
among people of any sort
that the tamed person of good manners is born:
one firm in Dhamma, virtuous in conduct,
truthful in speech, endowed with moral shame;
one who has abandoned birth and death,
consummate in the spiritual life,
with the burden dropped, detached,
who has done his task, free of taints;
who has gone beyond all things of the world
and by non-clinging has reached nibbāna:
an offering is truly vast
when planted in that spotless field.
SC 10Fools devoid of understanding,
dull-witted, unlearned,
do not attend on the holy ones
but give their gifts to those outside.
Those, however, who attend on the holy ones,
on the wise ones esteemed as sagely,
and those whose faith in the Fortunate One
is deeply rooted and well established,
go to the world of the devas
or are born here in a good family.
Advancing in successive steps,
those wise ones attain nibbāna. an.i.163
Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ, nói lên những lời chào đón thăm hỏi thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, du sĩ Vacchagotta thưa với Thế Tôn:
—Tôi có được nghe, thưa Tôn giả Gotama, người ta loan truyền rằng Sa-môn Gotama nói như sau: “Cần phải bố thí cho Ta, không cần bố thí cho người khác. Cần phải bố thí cho đệ tử của Ta, không cần phải bố thí cho đệ tử những người khác. Bố thí cho Ta có quả lớn, bố thí cho những người khác không có quả lớn. Bố thí cho các đệ tử của ta có quả lớn, bố thí cho những đệ tử của người khác không có quả lớn!”. Thưa Tôn giả Gotama, những ai nói rằng Sa-môn nói như sau: “Cần phải bố thí cho Ta, không cần bố thí cho người khác. Cần phải bố thí cho đệ tử của Ta, không cần phải bố thí cho đệ tử những người khác. Bố thí cho Ta có quả lớn, bố thí cho những người khác không có quả lớn. Bố thí cho các đệ tử của ta có quả lớn, bố thí cho những đệ tử của người khác không có quả lớn!”, những người nói như vậy, có phải nói đúng lời nói của Tôn giả Gotama, không có xuyên tạc Tôn giả Gotama với điều không thật? Có phải họ nói như vậy là đúng pháp và thuận pháp, và những ai là người đúng pháp, nói lời đúng pháp và thuận pháp, không có cơ hội để chỉ trích? Họ không muốn xuyên tạc Tôn giả Gotama?
—Này Vaccha, những ai nói rằng Sa-môn Gotama nói như sau: “Cần phải bố thí cho Ta, không cần bố thí cho người khác. Cần phải bố thí cho đệ tử của Ta, không cần phải bố thí cho đệ tử những người khác. Bố thí cho Ta có quả lớn, bố thí cho những người khác không có quả lớn. Bố thí cho các đệ tử của ta có quả lớn, bố thí cho những đệ tử của người khác không có quả lớn!”, những người ấy không nói đúng với lời nói của ta, họ đã xuyên tạc ta với điều không thật, họ đã nói láo. Này Vaccha, ai ngăn chận người khác bố thí, người ấy tạo ra ba chướng ngại pháp và đánh cắp mất ba vật. Thế nào là ba?
Người ấy làm chướng ngại người cho không được công đức, người ấy ngăn chặn người nhận không được bố thí, và tự ngã người ấy trước đã mất gốc, lại càng bị thương tổn hơn. Này Vaccha, ai ngăn chặn người cho không bố thí người khác, tạo ra ba chướng ngại như vậy, và đánh cắp mất ba vật. Này Vaccha, ta nói như sau: “Những ai đổ đồ phế thải trên mâm bàn, hay đồ rửa chén bát vào hố phân hay hố rác rưởi với ý nghĩ để các loài hữu tình trong ấy nhờ đấy được ăn để sống”. Do nhân duyên ấy, này Vaccha, ta nói có đem lại công đức, còn nói gì đối với loài người.
Lại nữa, này Vaccha, Ta tuyên bố rằng, cho người có giới hạnh được quả lớn, cho người ác giới không phải như vậy. Người có giới hạnh là người đã đoạn tận năm pháp và đã đầy đủ năm pháp.
Thế nào là năm pháp đã được đoạn tận? Dục tham đã được đoạn tận, sân đã được đoạn tận, hôn trầm thùy miên đã được đoạn tận, trạo hối đã được đoạn tận, nghi đã được đoạn tận, năm pháp này đã được đoạn tận.
Năm pháp nào đã được đầy đủ?
Ðầy đủ vô học giới uẩn, đầy đủ vô học định uẩn, đầy đủ vô học tuệ uẩn, đầy đủ vô học giải thoát uẩn, đầy đủ vô học giải thoát tri kiến uẩn. Vị ấy được đầy đủ năm pháp này. Ở đây, Ta tuyên bố rằng, bố thí cho người đoạn tận năm pháp, đầy đủ năm pháp có quả lớn.
Như trong một đàn bò,
Có con đen, trắng, đỏ
Màu hung hay có đốm,
Có con màu bồ câu
Dầu con bò màu gì,
Kiếm được con bò thuần,
Con vật kéo sức mạnh,
Ðẹp, lanh và hăng hái,
Mặc kệ nó màu gì,
Liền mắc vào gánh nặng,
Cũng vậy, giữa loài người,
Dầu có sinh chỗ nào,
Hoàng tộc, Bà-la-môn
Thương gia hay nô bộc,
Kẻ không có giai cấp,
Hay hạ cấp đổ phân,
Giữa những người như vậy.
Ai điều phục thuần thục,
Ngay thẳng, đủ giới đức
Nói thực, biết tàm quý,
Sanh tử đã đoạn tận,
Phạm hạnh được vẹn toàn
Gánh nặng đã hạ xuống,
Không còn bị trói buộc,
Việc cần làm đã làm,
Không còn bị lậu hoặc,
Ðã đến bờ bên kia,
Không chấp pháp tịch tịnh,
Phước điền ấy vô cấu.
Quả lớn đáng cúng dường;
Như kẻ ngu không biết,
Thiếu trí, ít nghe nhiều,
Chỉ bố thí bên ngoài,
Không đến gần kẻ thiện,
Những ai gần kẻ thiện,
Có tuệ, tôn bực hiền
Họ tin bậc Thiện Thệ,
An trú tận gốc rễ.
Sanh Thiên hay ở đây
Ðược sanh gia đình tốt
Bậc trí tuần tự tiến
Chứng được cảnh Niết-bàn.
Atha kho vacchagotto paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho vacchagotto paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“sutaṁ metaṁ, bho gotama, samaṇo gotamo evamāha:
‘mayhameva dānaṁ dātabbaṁ, nāññesaṁ dānaṁ dātabbaṁ;
mayhameva sāvakānaṁ dānaṁ dātabbaṁ, nāññesaṁ sāvakānaṁ dānaṁ dātabbaṁ;
mayhameva dinnaṁ mahapphalaṁ, nāññesaṁ dinnaṁ mahapphalaṁ;
mayhameva sāvakānaṁ dinnaṁ mahapphalaṁ, nāññesaṁ sāvakānaṁ dinnaṁ mahapphalan’ti.
Ye te, bho gotama, evamāhaṁsu ‘samaṇo gotamo evamāha:
“mayhameva dānaṁ dātabbaṁ, nāññesaṁ dānaṁ dātabbaṁ.
Mayhameva sāvakānaṁ dānaṁ dātabbaṁ, nāññesaṁ sāvakānaṁ dānaṁ dātabbaṁ.
Mayhameva dinnaṁ mahapphalaṁ, nāññesaṁ dinnaṁ mahapphalaṁ.
Mayhameva sāvakānaṁ dinnaṁ mahapphalaṁ, nāññesaṁ sāvakānaṁ dinnaṁ mahapphalan”’ti.
Kacci te bhoto gotamassa vuttavādino na ca bhavantaṁ gotamaṁ abhūtena abbhācikkhanti, dhammassa cānudhammaṁ byākaronti, na ca koci sahadhammiko vādānupāto gārayhaṁ ṭhānaṁ āgacchati?
Anabbhakkhātukāmā hi mayaṁ bhavantaṁ gotaman”ti.
“Ye te, vaccha, evamāhaṁsu:
‘samaṇo gotamo evamāha:
“mayhameva dānaṁ dātabbaṁ …pe…
nāññesaṁ sāvakānaṁ dinnaṁ mahapphalan”’ti
na me te vuttavādino. Abbhācikkhanti ca pana maṁ asatā abhūtena.
Yo kho, vaccha, paraṁ dānaṁ dadantaṁ vāreti so tiṇṇaṁ antarāyakaro hoti, tiṇṇaṁ pāripanthiko.
Katamesaṁ tiṇṇaṁ?
Dāyakassa puññantarāyakaro hoti, paṭiggāhakānaṁ lābhantarāyakaro hoti, pubbeva kho panassa attā khato ca hoti upahato ca.
Yo kho, vaccha, paraṁ dānaṁ dadantaṁ vāreti so imesaṁ tiṇṇaṁ antarāyakaro hoti, tiṇṇaṁ pāripanthiko.
Ahaṁ kho pana, vaccha, evaṁ vadāmi:
‘ye hi te candanikāya vā oligalle vā pāṇā, tatrapi yo thālidhovanaṁ vā sarāvadhovanaṁ vā chaḍḍeti:
“ye tattha pāṇā te tena yāpentū”’ti, tato nidānampāhaṁ, vaccha, puññassa āgamaṁ vadāmi.
Ko pana vādo manussabhūte.
Api cāhaṁ, vaccha, sīlavato dinnaṁ mahapphalaṁ vadāmi, no tathā dussīlassa, so ca hoti pañcaṅgavippahīno pañcaṅgasamannāgato.
Katamāni pañcaṅgāni pahīnāni honti?
Kāmacchando pahīno hoti, byāpādo pahīno hoti, thinamiddhaṁ pahīnaṁ hoti, uddhaccakukkuccaṁ pahīnaṁ hoti, vicikicchā pahīnā hoti.
Imāni pañcaṅgāni vippahīnāni honti.
Katamehi pañcahi aṅgehi samannāgato hoti?
Asekkhena sīlakkhandhena samannāgato hoti, asekkhena samādhikkhandhena samannāgato hoti, asekkhena paññākkhandhena samannāgato hoti, asekkhena vimuttikkhandhena samannāgato hoti, asekkhena vimuttiñāṇadassanakkhandhena samannāgato hoti;
imehi pañcahi aṅgehi samannāgato hoti.
Iti pañcaṅgavippahīne pañcaṅgasamannāgate dinnaṁ mahapphalanti vadāmīti.
Iti kaṇhāsu setāsu,
rohiṇīsu harīsu vā;
Kammāsāsu sarūpāsu,
gosu pārevatāsu vā.
Yāsu kāsuci etāsu,
danto jāyati puṅgavo;
Dhorayho balasampanno,
kalyāṇajavanikkamo;
Tameva bhāre yuñjanti,
nāssa vaṇṇaṁ parikkhare.
Evamevaṁ manussesu,
yasmiṁ kasmiñci jātiye;
Khattiye brāhmaṇe vesse,
sudde caṇḍālapukkuse.
Yāsu kāsuci etāsu,
danto jāyati subbato;
Dhammaṭṭho sīlasampanno,
saccavādī hirīmano.
Pahīnajātimaraṇo,
brahmacariyassa kevalī;
Pannabhāro visaṁyutto,
katakicco anāsavo.
Pāragū sabbadhammānaṁ,
anupādāya nibbuto;
Tasmiṁyeva viraje khette,
vipulā hoti dakkhiṇā.
Bālā ca avijānantā,
dummedhā assutāvino;
Bahiddhā denti dānāni,
na hi sante upāsare.
Ye ca sante upāsanti,
sappaññe dhīrasammate;
Saddhā ca nesaṁ sugate,
mūlajātā patiṭṭhitā.
Devalokañca te yanti,
kule vā idha jāyare;
Anupubbena nibbānaṁ,
adhigacchanti paṇḍitā”ti.
Sattamaṁ.