TTC 1—Thành tựu sáu pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có thể chứng ngộ vô thượng thanh lương. Thế nào là sáu?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi nào tâm cần hạn chế, khi ấy không hạn chế tâm; khi nào tâm cần phải phấn chấn, khi ấy, lại không phấn chấn tâm; khi nào tâm cần phải làm cho hoan hỷ, khi ấy lại không làm tâm hoan hỷ; khi nào tâm cần phải trú xả, quán sát, khi ấy lại không làm cho tâm trú xả, quán sát; xu hướng về hạ liệt; hoan hỷ thân kiến.
Thành tựu sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có thể chứng ngộ vô thượng thanh lương.
TTC 3Thành tựu sáu pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có thể chứng ngộ vô thượng thanh lương. Thế nào là sáu?
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi nào tâm cần phải hạn chế, khi ấy hạn chế tâm; khi nào tâm cần phải phấn chấn, khi ấy phấn chấn tâm; khi nào tâm cần phải làm cho hoan hỷ, khi ấy làm cho tâm hoan hỷ; khi nào tâm cần phải trú xả, quán sát khi ấy làm tâm trú xả, quán sát; xu hướng về thù thắng; hoan hỷ Niết-bàn.
Thành tựu sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có thể chứng ngộ vô thượng thanh lương.
“Chahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu abhabbo anuttaraṁ sītibhāvaṁ sacchikātuṁ.
Katamehi chahi?
Idha, bhikkhave, bhikkhu yasmiṁ samaye cittaṁ niggahetabbaṁ tasmiṁ samaye cittaṁ na niggaṇhāti, yasmiṁ samaye cittaṁ paggahetabbaṁ tasmiṁ samaye cittaṁ na paggaṇhāti, yasmiṁ samaye cittaṁ sampahaṁsitabbaṁ tasmiṁ samaye cittaṁ na sampahaṁseti, yasmiṁ samaye cittaṁ ajjhupekkhitabbaṁ tasmiṁ samaye cittaṁ na ajjhupekkhati, hīnādhimuttiko ca hoti, sakkāyābhirato ca.
Imehi kho, bhikkhave, chahi dhammehi samannāgato bhikkhu abhabbo anuttaraṁ sītibhāvaṁ sacchikātuṁ.
Chahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu bhabbo anuttaraṁ sītibhāvaṁ sacchikātuṁ.
Katamehi chahi?
Idha, bhikkhave, bhikkhu yasmiṁ samaye cittaṁ niggahetabbaṁ tasmiṁ samaye cittaṁ niggaṇhāti, yasmiṁ samaye cittaṁ paggahetabbaṁ tasmiṁ samaye cittaṁ paggaṇhāti, yasmiṁ samaye cittaṁ sampahaṁsitabbaṁ tasmiṁ samaye cittaṁ sampahaṁseti, yasmiṁ samaye cittaṁ ajjhupekkhitabbaṁ tasmiṁ samaye cittaṁ ajjhupekkhati, paṇītādhimuttiko ca hoti nibbānābhirato ca.
Imehi kho, bhikkhave, chahi dhammehi samannāgato bhikkhu bhabbo anuttaraṁ sītibhāvaṁ sacchikātun”ti.
Paṭhamaṁ.
“A monk endowed with six qualities is incapable of realizing the unexcelled cooled state. Which six? There is the case where a monk doesn’t rein in his mind when it should be reined in. He doesn’t exert his mind when it should be exerted. He doesn’t gladden his mind when it should be gladdened. He doesn’t watch over his mind when it should be watched over. He is intent on what is lowly. And he delights in self-identity. A monk endowed with these six qualities is incapable of realizing the unexcelled cooled state.
“A monk endowed with six qualities is capable of realizing the unexcelled cooled state. Which six? There is the case where a monk reins in his mind when it should be reined in. He exerts his mind when it should be exerted. He gladdens his mind when it should be gladdened. He watches over his mind when it should be watched over. He is intent on what is exquisite. And he delights in Unbinding. A monk endowed with these six qualities is capable of realizing the unexcelled cooled state.”
TTC 1—Thành tựu sáu pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có thể chứng ngộ vô thượng thanh lương. Thế nào là sáu?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi nào tâm cần hạn chế, khi ấy không hạn chế tâm; khi nào tâm cần phải phấn chấn, khi ấy, lại không phấn chấn tâm; khi nào tâm cần phải làm cho hoan hỷ, khi ấy lại không làm tâm hoan hỷ; khi nào tâm cần phải trú xả, quán sát, khi ấy lại không làm cho tâm trú xả, quán sát; xu hướng về hạ liệt; hoan hỷ thân kiến.
Thành tựu sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có thể chứng ngộ vô thượng thanh lương.
TTC 3Thành tựu sáu pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có thể chứng ngộ vô thượng thanh lương. Thế nào là sáu?
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi nào tâm cần phải hạn chế, khi ấy hạn chế tâm; khi nào tâm cần phải phấn chấn, khi ấy phấn chấn tâm; khi nào tâm cần phải làm cho hoan hỷ, khi ấy làm cho tâm hoan hỷ; khi nào tâm cần phải trú xả, quán sát khi ấy làm tâm trú xả, quán sát; xu hướng về thù thắng; hoan hỷ Niết-bàn.
Thành tựu sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có thể chứng ngộ vô thượng thanh lương.
“Chahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu abhabbo anuttaraṁ sītibhāvaṁ sacchikātuṁ.
Katamehi chahi?
Idha, bhikkhave, bhikkhu yasmiṁ samaye cittaṁ niggahetabbaṁ tasmiṁ samaye cittaṁ na niggaṇhāti, yasmiṁ samaye cittaṁ paggahetabbaṁ tasmiṁ samaye cittaṁ na paggaṇhāti, yasmiṁ samaye cittaṁ sampahaṁsitabbaṁ tasmiṁ samaye cittaṁ na sampahaṁseti, yasmiṁ samaye cittaṁ ajjhupekkhitabbaṁ tasmiṁ samaye cittaṁ na ajjhupekkhati, hīnādhimuttiko ca hoti, sakkāyābhirato ca.
Imehi kho, bhikkhave, chahi dhammehi samannāgato bhikkhu abhabbo anuttaraṁ sītibhāvaṁ sacchikātuṁ.
Chahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu bhabbo anuttaraṁ sītibhāvaṁ sacchikātuṁ.
Katamehi chahi?
Idha, bhikkhave, bhikkhu yasmiṁ samaye cittaṁ niggahetabbaṁ tasmiṁ samaye cittaṁ niggaṇhāti, yasmiṁ samaye cittaṁ paggahetabbaṁ tasmiṁ samaye cittaṁ paggaṇhāti, yasmiṁ samaye cittaṁ sampahaṁsitabbaṁ tasmiṁ samaye cittaṁ sampahaṁseti, yasmiṁ samaye cittaṁ ajjhupekkhitabbaṁ tasmiṁ samaye cittaṁ ajjhupekkhati, paṇītādhimuttiko ca hoti nibbānābhirato ca.
Imehi kho, bhikkhave, chahi dhammehi samannāgato bhikkhu bhabbo anuttaraṁ sītibhāvaṁ sacchikātun”ti.
Paṭhamaṁ.