TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có ba căn bản làm phước. Thế nào là ba?
TTC 2Căn bản làm phước do bố thí, căn bản làm phước do giới đức, căn bản làm phước do tu tập.
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô nhỏ, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô nhỏ, căn bản làm phước do tu tập trên một quy mô nhỏ. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm người không may mắn.
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô vừa, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô vừa, không đạt được căn bản làm phước do tu tập. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm người có may mắn.
TTC 5Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô to lớn, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô to lớn, nhưng không đạt được căn bản làm phước do tu tập. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở Tam thập Tam thiên. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do bố thí, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do giới đức, vượt qua Bốn thiên vương trên mười điểm: tuổi thọ chư Thiên, dung sắc chư Thiên, an lạc chư Thiên, danh tiếng chư Thiên, Tăng thượng lực chư Thiên, thiên sắc, thiên hương, thiên vị, thiên xúc.
TTC 6Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô to lớn, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô to lớn, nhưng không đạt được căn bản làm phước do tu tập. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở Tam thập Tam thiên. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do bố thí, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do giới đức, vượt qua chư Thiên ở Tàvatimsa trên mười điểm: tuổi thọ chư Thiên, dung sắc chư Thiên, an lạc chư Thiên, danh tiếng chư Thiên, Tăng thượng lực chư Thiên, thiên sắc, thiên hương, thiên vị, thiên xúc.
TTC 7Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô to lớn, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô to lớn, nhưng không đạt được căn bản làm phước do tu tập. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở Yàma thiên. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Thiên tử Suyàma sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do bố thí, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do giới đức, vượt qua chư Thiên ở Yàma trên mười điểm: tuổi thọ chư Thiên, … thiên vị, thiên xúc.
TTC 8Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô to lớn, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô to lớn, nhưng không đạt được căn bản làm phước do tu tập. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở Tusità thiên. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Thiên tử Santusità, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do bố thí, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do giới đức, vượt qua chư Thiên ở Tusità trên mười điểm: tuổi thọ chư Thiên, … thiên vị, thiên xúc.
TTC 9Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô to lớn, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô to lớn, nhưng không đạt được căn bản làm phước do tu tập. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở Hóa lạc thiên. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Thiên tử Sunimmita, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do bố thí, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do giới đức, vượt qua chư Thiên ở Hóa lạc thiên trên mười điểm: tuổi thọ chư Thiên, … thiên vị, thiên xúc.
TTC 10Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô to lớn, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô to lớn, nhưng không đạt được căn bản làm phước do tu tập. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở Tha hóa tự tại thiên. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Thiên tử Vasavattì, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do bố thí, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do giới đức, vượt qua chư Thiên ở Tha hóa Tự tại thiên trên mười điểm: tuổi thọ chư Thiên, … thiên vị, thiên xúc.
Này các Tỷ-kheo, có ba căn bản phước nghiệp này.
“Tīṇimāni, bhikkhave, puññakiriyavatthūni.
Katamāni tīṇi?
Dānamayaṁ puññakiriyavatthu, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthu.
Idha, bhikkhave, ekaccassa dānamayaṁ puññakiriyavatthu parittaṁ kataṁ hoti, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu parittaṁ kataṁ hoti, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthuṁ nābhisambhoti.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā manussadobhagyaṁ upapajjati.
Idha pana, bhikkhave, ekaccassa dānamayaṁ puññakiriyavatthu mattaso kataṁ hoti, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu mattaso kataṁ hoti, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthuṁ nābhisambhoti.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā manussasobhagyaṁ upapajjati.
Idha pana, bhikkhave, ekaccassa dānamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthuṁ nābhisambhoti.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā cātumahārājikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Tatra, bhikkhave, cattāro mahārājāno dānamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, sīlamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, cātumahārājike deve dasahi ṭhānehi adhigaṇhanti—
dibbena āyunā, dibbena vaṇṇena, dibbena sukhena, dibbena yasena, dibbena ādhipateyyena, dibbehi rūpehi, dibbehi saddehi, dibbehi gandhehi, dibbehi rasehi, dibbehi phoṭṭhabbehi.
Idha pana, bhikkhave, ekaccassa dānamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthuṁ nābhisambhoti.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā tāvatiṁsānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Tatra, bhikkhave, sakko devānamindo dānamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā sīlamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā tāvatiṁse deve dasahi ṭhānehi adhigaṇhāti—
dibbena āyunā …pe…
dibbehi phoṭṭhabbehi.
Idha pana, bhikkhave, ekaccassa dānamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthuṁ nābhisambhoti.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā yāmānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Tatra, bhikkhave, suyāmo devaputto dānamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, sīlamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, yāme deve dasahi ṭhānehi adhigaṇhāti—
dibbena āyunā …pe…
dibbehi phoṭṭhabbehi.
Idha pana, bhikkhave, ekaccassa dānamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthuṁ nābhisambhoti.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā tusitānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Tatra, bhikkhave, santusito devaputto dānamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, sīlamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, tusite deve dasahi ṭhānehi adhigaṇhāti—
dibbena āyunā …pe…
dibbehi phoṭṭhabbehi.
Idha pana, bhikkhave, ekaccassa dānamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthuṁ nābhisambhoti.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā nimmānaratīnaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Tatra, bhikkhave, sunimmito devaputto dānamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, sīlamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, nimmānaratīdeve dasahi ṭhānehi adhigaṇhāti—
dibbena āyunā …pe…
dibbehi phoṭṭhabbehi.
Idha pana, bhikkhave, ekaccassa dānamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthuṁ nābhisambhoti.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā paranimmitavasavattīnaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Tatra, bhikkhave, vasavattī devaputto dānamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, sīlamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, paranimmitavasavattīdeve dasahi ṭhānehi adhigaṇhāti—
dibbena āyunā, dibbena vaṇṇena, dibbena sukhena, dibbena yasena, dibbena ādhipateyyena, dibbehi rūpehi, dibbehi saddehi, dibbehi gandhehi, dibbehi rasehi, dibbehi phoṭṭhabbehi.
Imāni kho, bhikkhave, tīṇi puññakiriyavatthūnī”ti.
Chaṭṭhaṁ.
SC 1“Bhikkhus, there are these three bases of meritorious activity. What three? The basis of meritorious activity consisting in giving; the basis of meritorious activity consisting in virtuous behavior; and the basis of meritorious activity consisting in meditative development.
SC 2(1) “Here, bhikkhus, someone has practiced the basis of meritorious activity consisting in giving to a limited extent; he has practiced the basis of meritorious activity consisting in virtuous behavior to a limited extent; but he has not undertaken the basis of meritorious activity consisting in meditative development. With the breakup of the body, after death, he is reborn among humans in an unfavorable condition.
SC 3(2) “Someone else has practiced the basis of meritorious activity consisting in giving to a middling extent; he has practiced the basis of meritorious activity consisting in virtuous behavior to a middling extent; but he has not undertaken the basis of meritorious activity consisting in meditative development. With the breakup of the body, after death, he is reborn among humans in a favorable condition.
SC 4(3) “Someone else has practiced the basis of meritorious activity consisting in giving to a superior extent; he has practiced the basis of meritorious activity consisting in virtuous behavior an.iv.242 to a superior extent; but he has not undertaken the basis of meritorious activity consisting in meditative development. With the breakup of the body, after death, he is reborn in companionship with the devas ruled by the four great kings. There the four great kings, who had practiced superlatively the basis of meritorious activity consisting in giving and the basis of meritorious activity consisting in virtuous behavior surpass the devas ruled by the four great kings in ten respects: in celestial life span, celestial beauty, celestial happiness, celestial glory, and celestial authority; and in celestial forms, sounds, odors, tastes, and tactile objects.
SC 5(4) “Someone else has practiced the basis of meritorious activity consisting in giving to a superior extent; he has practiced the basis of meritorious activity consisting in virtuous behavior to a superior extent; but he has not undertaken the basis of meritorious activity consisting in meditative development. With the breakup of the body, after death, he is reborn in companionship with the Tāvatiṁsa devas. There Sakka, ruler of the devas, who had practiced superlatively the basis of meritorious activity consisting in giving and the basis of meritorious activity consisting in virtuous behavior, surpasses the Tāvatiṁsa devas in ten respects: in celestial life span … and tactile objects.
SC 6(5) “Someone else has practiced the basis of meritorious activity consisting in giving to a superior extent; he has practiced the basis of meritorious activity consisting in virtuous behavior to a superior extent; but he has not undertaken the basis of meritorious activity consisting in meditative development. With the breakup of the body, after death, he is reborn in companionship with the Yāma devas. There the young deva Suyāma, who had practiced superlatively the basis of meritorious activity consisting in giving and the basis of meritorious activity consisting in virtuous behavior, surpasses the Yāma devas in ten respects: in celestial life span … and tactile objects.
SC 7(6) “Someone else has practiced the basis of meritorious activity consisting in giving to a superior extent; he has practiced the basis of meritorious activity consisting in virtuous behavior to a superior extent; but he has not undertaken the basis of meritorious activity consisting in meditative development. With the breakup of the body, after death, he is reborn in companionship with the Tusita devas. an.iv.243 There the young deva Santusita, who had practiced superlatively the basis of meritorious activity consisting in giving and the basis of meritorious activity consisting in virtuous behavior, surpasses the Tusita devas in ten respects: in celestial life span … and tactile objects.
SC 8(7) “Someone else has practiced the basis of meritorious activity consisting in giving to a superior extent; he has practiced the basis of meritorious activity consisting in virtuous behavior to a superior extent; but he has not undertaken the basis of meritorious activity consisting in meditative development. With the breakup of the body, after death, he is reborn in companionship with the devas who delight in creation. There the young deva Sunimmita, who had practiced superlatively the basis of meritorious activity consisting in giving and the basis of meritorious activity consisting in virtuous behavior, surpasses the devas who delight in creation in ten respects: in celestial life span … and tactile objects.
SC 9(8) “Someone else has practiced the basis of meritorious activity consisting in giving to a superior extent; he has practiced the basis of meritorious activity consisting in virtuous behavior to a superior extent; but he has not undertaken the basis of meritorious activity consisting in meditative development. With the breakup of the body, after death, he is reborn in companionship with the devas who control what is created by others. There the young deva Vasavattī, who had practiced superlatively the basis of meritorious activity consisting in giving and the basis of meritorious activity consisting in virtuous behavior, surpasses the devas who control what is created by others in ten respects: in celestial life span, celestial beauty, celestial happiness, celestial glory, and celestial authority; and in celestial forms, sounds, odors, tastes, and tactile objects.
SC 10“These, bhikkhus, are the three bases of meritorious activity.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có ba căn bản làm phước. Thế nào là ba?
TTC 2Căn bản làm phước do bố thí, căn bản làm phước do giới đức, căn bản làm phước do tu tập.
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô nhỏ, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô nhỏ, căn bản làm phước do tu tập trên một quy mô nhỏ. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm người không may mắn.
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô vừa, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô vừa, không đạt được căn bản làm phước do tu tập. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm người có may mắn.
TTC 5Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô to lớn, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô to lớn, nhưng không đạt được căn bản làm phước do tu tập. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở Tam thập Tam thiên. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do bố thí, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do giới đức, vượt qua Bốn thiên vương trên mười điểm: tuổi thọ chư Thiên, dung sắc chư Thiên, an lạc chư Thiên, danh tiếng chư Thiên, Tăng thượng lực chư Thiên, thiên sắc, thiên hương, thiên vị, thiên xúc.
TTC 6Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô to lớn, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô to lớn, nhưng không đạt được căn bản làm phước do tu tập. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở Tam thập Tam thiên. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do bố thí, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do giới đức, vượt qua chư Thiên ở Tàvatimsa trên mười điểm: tuổi thọ chư Thiên, dung sắc chư Thiên, an lạc chư Thiên, danh tiếng chư Thiên, Tăng thượng lực chư Thiên, thiên sắc, thiên hương, thiên vị, thiên xúc.
TTC 7Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô to lớn, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô to lớn, nhưng không đạt được căn bản làm phước do tu tập. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở Yàma thiên. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Thiên tử Suyàma sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do bố thí, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do giới đức, vượt qua chư Thiên ở Yàma trên mười điểm: tuổi thọ chư Thiên, … thiên vị, thiên xúc.
TTC 8Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô to lớn, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô to lớn, nhưng không đạt được căn bản làm phước do tu tập. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở Tusità thiên. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Thiên tử Santusità, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do bố thí, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do giới đức, vượt qua chư Thiên ở Tusità trên mười điểm: tuổi thọ chư Thiên, … thiên vị, thiên xúc.
TTC 9Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô to lớn, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô to lớn, nhưng không đạt được căn bản làm phước do tu tập. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở Hóa lạc thiên. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Thiên tử Sunimmita, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do bố thí, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do giới đức, vượt qua chư Thiên ở Hóa lạc thiên trên mười điểm: tuổi thọ chư Thiên, … thiên vị, thiên xúc.
TTC 10Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô to lớn, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô to lớn, nhưng không đạt được căn bản làm phước do tu tập. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở Tha hóa tự tại thiên. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Thiên tử Vasavattì, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do bố thí, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do giới đức, vượt qua chư Thiên ở Tha hóa Tự tại thiên trên mười điểm: tuổi thọ chư Thiên, … thiên vị, thiên xúc.
Này các Tỷ-kheo, có ba căn bản phước nghiệp này.
“Tīṇimāni, bhikkhave, puññakiriyavatthūni.
Katamāni tīṇi?
Dānamayaṁ puññakiriyavatthu, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthu.
Idha, bhikkhave, ekaccassa dānamayaṁ puññakiriyavatthu parittaṁ kataṁ hoti, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu parittaṁ kataṁ hoti, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthuṁ nābhisambhoti.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā manussadobhagyaṁ upapajjati.
Idha pana, bhikkhave, ekaccassa dānamayaṁ puññakiriyavatthu mattaso kataṁ hoti, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu mattaso kataṁ hoti, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthuṁ nābhisambhoti.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā manussasobhagyaṁ upapajjati.
Idha pana, bhikkhave, ekaccassa dānamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthuṁ nābhisambhoti.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā cātumahārājikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Tatra, bhikkhave, cattāro mahārājāno dānamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, sīlamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, cātumahārājike deve dasahi ṭhānehi adhigaṇhanti—
dibbena āyunā, dibbena vaṇṇena, dibbena sukhena, dibbena yasena, dibbena ādhipateyyena, dibbehi rūpehi, dibbehi saddehi, dibbehi gandhehi, dibbehi rasehi, dibbehi phoṭṭhabbehi.
Idha pana, bhikkhave, ekaccassa dānamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthuṁ nābhisambhoti.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā tāvatiṁsānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Tatra, bhikkhave, sakko devānamindo dānamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā sīlamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā tāvatiṁse deve dasahi ṭhānehi adhigaṇhāti—
dibbena āyunā …pe…
dibbehi phoṭṭhabbehi.
Idha pana, bhikkhave, ekaccassa dānamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthuṁ nābhisambhoti.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā yāmānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Tatra, bhikkhave, suyāmo devaputto dānamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, sīlamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, yāme deve dasahi ṭhānehi adhigaṇhāti—
dibbena āyunā …pe…
dibbehi phoṭṭhabbehi.
Idha pana, bhikkhave, ekaccassa dānamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthuṁ nābhisambhoti.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā tusitānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Tatra, bhikkhave, santusito devaputto dānamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, sīlamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, tusite deve dasahi ṭhānehi adhigaṇhāti—
dibbena āyunā …pe…
dibbehi phoṭṭhabbehi.
Idha pana, bhikkhave, ekaccassa dānamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthuṁ nābhisambhoti.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā nimmānaratīnaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Tatra, bhikkhave, sunimmito devaputto dānamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, sīlamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, nimmānaratīdeve dasahi ṭhānehi adhigaṇhāti—
dibbena āyunā …pe…
dibbehi phoṭṭhabbehi.
Idha pana, bhikkhave, ekaccassa dānamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu adhimattaṁ kataṁ hoti, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthuṁ nābhisambhoti.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā paranimmitavasavattīnaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Tatra, bhikkhave, vasavattī devaputto dānamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, sīlamayaṁ puññakiriyavatthuṁ atirekaṁ karitvā, paranimmitavasavattīdeve dasahi ṭhānehi adhigaṇhāti—
dibbena āyunā, dibbena vaṇṇena, dibbena sukhena, dibbena yasena, dibbena ādhipateyyena, dibbehi rūpehi, dibbehi saddehi, dibbehi gandhehi, dibbehi rasehi, dibbehi phoṭṭhabbehi.
Imāni kho, bhikkhave, tīṇi puññakiriyavatthūnī”ti.
Chaṭṭhaṁ.