TTC 1—Này các Tỷ-kheo, ngày trai giới thành tựu tám chi phần, được thực hành thời có được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn; có biến mãn lớn. Như thế nào, này các Tỷ-kheo, là ngày trai giới thành tựu tám chi phần, được thực hành thời có được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn; có biến mãn lớn?
TTC 2-3… (giống như kinh 41 trên, từ đoạn số 22 đến 10) … (Ðây là chi phần thứ tám được thành tựu )
—Này các Tỷ-kheo, ngày trai giới thành tựu tám chi phần, được thực hành thời có được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn; có biến mãn lớn. Ðến như thế nào là quả lớn? Ðến như thế nào là lợi ích lớn? Ðến như thế nào là rực rỡ lớn? Ðến như thế nào là biến mãn lớn?
TTC 4Ví như, này các Tỷ-kheo, có người áp đặt chủ quyền cai trị trên mười sáu quốc độ lớn này tràn đầy bảy báu, như Anga, Magadha, Kàsìkosala, Vajjì, Cetì, Vamsà, Kurù, Pancàlà, Macchà, Sùrasenà, Asska, Avantì, Gandhàrà, Kambojà. Nhưng chủ quyền ấy không bằng một phần mười sáu của một ngày trai giới thành tựu tám chi phần. Vì cớ sao? Nhỏ nhoi, này các Tỷ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên.
TTC 5Năm mươi năm của một đời người, này các Tỷ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên Bốn thiên vương. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Năm mươi năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên Bốn thiên vương. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỷ-kheo: “Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên Bốn thiên vương”. Do vậy, Ta nói: “Nhỏ nhoi thay, này các Tỷ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên “.
TTC 6Một trăm năm của một đời người, này các Tỷ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Ba mươi ba. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Một ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Ba mươi ba. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỷ-kheo: “Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành ngày trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên cõi trời Ba mươi ba”. Do vậy, Ta nói: “Nhỏ nhoi thay, này các Tỷ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên “.
TTC 7Hai trăm năm của một đời người, này các Tỷ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Yàma. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Hai ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Yàma. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỷ-kheo: “Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành ngày trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên cõi trời Yàma”. Do vậy, Ta nói: “Nhỏ nhoi thay, này các Tỷ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên”.
Bốn trăm năm của một đời người, này các Tỷ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Tusità (Ðâu-Xuất). Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Bốn ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Tusità. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỷ-kheo: “Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành ngày trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên cõi trời Tusità”. Do vậy, Ta nói: “Nhỏ nhoi thay, này các Tỷ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên “.
Tám trăm năm của một đời người, này các Tỷ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Hóa lạc. Tám ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Hóa lạc. Sự kiện này có xảy ra, … với hạnh phúc chư Thiên “.
Mười sáu trăm năm của một đời người, này các Tỷ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Tha hóa Tự tại. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Mười sáu ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Tha hóa Tự tại. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỷ-kheo: “Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành ngày trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên cõi trời Tha hóa Tự tại. Do vậy, Ta nói: “Nhỏ nhoi thay, này các Tỷ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên “.
Chớ giết hại loại sanh
Chớ lấy của không cho
Chớ nói lời nói láo
Chớ uống thứ rượu say
Từ bỏ phi Phạm hạnh
Từ bỏ không dâm dục
Không ăn vào ban đêm
Tránh không ăn phi thời
Không mang các vòng hoa
Không dùng các hương liệu
Hãy nằm trên tấm thảm
Trải dài đất làm giường
Chính hạnh trai giới này
Ðược gọi có tám phần
Do đức Phật nói lên
Ðưa đến đoạn tận khổ
Mặt trăng và mặt trời
Cả hai thấy lành tốt
Chỗ nào chúng đi tới,
Chúng chói sáng hào quang
Chúng làm mây sáng chói
Giữa hư không chúng đi
Trên trời chúng chói sáng
Sáng rực mọi phương hướng
Trong khoảng không gian ấy
Tài sản được tìm thấy
Trân châu và ngọc báu
Lưu ly đá cầu may
Vàng cục trong lòng đất
Hay loại Kancana
Cùng loại vàng sáng chói
Ðược gọi Hataka
Tuy vậy chúng giá trị
Chỉ một phần mười sáu
Với hạnh giữ trai giới
Ðầy đủ cả tám mặt
Kể cả ánh sáng trăng
Với cả vòm trời sao
Vậy người nữ, người nam
Giữ gìn theo tịnh giới
Hành Bồ-tát trai giới
Ðầy đủ cả tám mặt
Làm các thiện công đức
Ðem lại nhiều an lạc
Ðược sanh lên cõi trời
Không bị người cười chê.
“Aṭṭhaṅgasamannāgato, bhikkhave, uposatho upavuttho mahapphalo hoti mahānisaṁso mahājutiko mahāvipphāro.
Kathaṁ upavuttho ca, bhikkhave, aṭṭhaṅgasamannāgato uposatho mahapphalo hoti mahānisaṁso mahājutiko mahāvipphāro?
Idha, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘yāvajīvaṁ arahanto pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭiviratā nihitadaṇḍā nihitasatthā lajjī dayāpannā, sabbapāṇabhūtahitānukampino viharanti.
Ahampajja imañca rattiṁ imañca divasaṁ pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato nihitadaṇḍo nihitasattho lajjī dayāpanno, sabbapāṇabhūtahitānukampī viharāmi.
Imināpaṅgena arahataṁ anukaromi, uposatho ca me upavuttho bhavissatī’ti.
Iminā paṭhamena aṅgena samannāgato hoti …pe….
‘Yāvajīvaṁ arahanto uccāsayanamahāsayanaṁ pahāya uccāsayanamahāsayanā paṭiviratā nīcaseyyaṁ kappenti—mañcake vā tiṇasanthārake vā.
Ahampajja imañca rattiṁ imañca divasaṁ uccāsayanamahāsayanaṁ pahāya uccāsayanamahāsayanā paṭivirato nīcaseyyaṁ kappemi—mañcake vā tiṇasanthārake vā.
Imināpaṅgena arahataṁ anukaromi, uposatho ca me upavuttho bhavissatī’ti.
Iminā aṭṭhamena aṅgena samannāgato hoti.
Evaṁ upavuttho kho, bhikkhave, aṭṭhaṅgasamannāgato uposatho mahapphalo hoti mahānisaṁso mahājutiko mahāvipphāro.
Kīvamahapphalo hoti kīvamahānisaṁso kīvamahājutiko kīvamahāvipphāro?
Seyyathāpi, bhikkhave, yo imesaṁ soḷasannaṁ mahājanapadānaṁ pahūtarattaratanānaṁ issariyādhipaccaṁ rajjaṁ kāreyya, seyyathidaṁ—
aṅgānaṁ magadhānaṁ kāsīnaṁ kosalānaṁ vajjīnaṁ mallānaṁ cetīnaṁ vaṅgānaṁ kurūnaṁ pañcālānaṁ macchānaṁ sūrasenānaṁ assakānaṁ avantīnaṁ gandhārānaṁ kambojānaṁ, aṭṭhaṅgasamannāgatassa uposathassa etaṁ kalaṁ nāgghati soḷasiṁ.
Taṁ kissa hetu?
Kapaṇaṁ, bhikkhave, mānusakaṁ rajjaṁ dibbaṁ sukhaṁ upanidhāya.
Yāni, bhikkhave, mānusakāni paññāsa vassāni, cātumahārājikānaṁ devānaṁ eso eko rattindivo.
Tāya rattiyā tiṁsarattiyo māso.
Tena māsena dvādasamāsiyo saṁvaccharo.
Tena saṁvaccharena dibbāni pañca vassasatāni cātumahārājikānaṁ devānaṁ āyuppamāṇaṁ.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, vijjati yaṁ idhekacco itthī vā puriso vā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavasitvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā cātumahārājikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyya.
Idaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, sandhāya bhāsitaṁ:
‘kapaṇaṁ mānusakaṁ rajjaṁ dibbaṁ sukhaṁ upanidhāya’.
Yāni, bhikkhave, mānusakāni vassasatāni, tāvatiṁsānaṁ devānaṁ eso eko rattindivo.
Tāya rattiyā tiṁsarattiyo māso.
Tena māsena dvādasamāsiyo saṁvaccharo.
Tena saṁvaccharena dibbaṁ vassasahassaṁ tāvatiṁsānaṁ devānaṁ āyuppamāṇaṁ.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, vijjati yaṁ idhekacco itthī vā puriso vā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavasitvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā tāvatiṁsānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyya.
Idaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, sandhāya bhāsitaṁ:
‘kapaṇaṁ mānusakaṁ rajjaṁ dibbaṁ sukhaṁ upanidhāya’.
Yāni, bhikkhave, mānusakāni dve vassasatāni, yāmānaṁ devānaṁ eso eko rattindivo.
Tāya rattiyā tiṁsarattiyo māso.
Tena māsena dvādasamāsiyo saṁvaccharo.
Tena saṁvaccharena dibbāni dve vassasahassāni yāmānaṁ devānaṁ āyuppamāṇaṁ.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, vijjati yaṁ idhekacco itthī vā puriso vā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavasitvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā yāmānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyya.
Idaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, sandhāya bhāsitaṁ:
‘kapaṇaṁ mānusakaṁ rajjaṁ dibbaṁ sukhaṁ upanidhāya’.
Yāni, bhikkhave, mānusakāni cattāri vassasatāni, tusitānaṁ devānaṁ eso eko rattindivo.
Tāya rattiyā tiṁsarattiyo māso.
Tena māsena dvādasamāsiyo saṁvaccharo.
Tena saṁvaccharena dibbāni cattāri vassasahassāni tusitānaṁ devānaṁ āyuppamāṇaṁ.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, vijjati yaṁ idhekacco itthī vā puriso vā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavasitvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā tusitānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyya.
Idaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, sandhāya bhāsitaṁ:
‘kapaṇaṁ mānusakaṁ rajjaṁ dibbaṁ sukhaṁ upanidhāya’.
Yāni, bhikkhave, mānusakāni aṭṭha vassasatāni, nimmānaratīnaṁ devānaṁ eso eko rattindivo.
Tāya rattiyā tiṁsarattiyo māso.
Tena māsena dvādasamāsiyo saṁvaccharo.
Tena saṁvaccharena dibbāni aṭṭha vassasahassāni nimmānaratīnaṁ devānaṁ āyuppamāṇaṁ.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, vijjati yaṁ idhekacco itthī vā puriso vā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavasitvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā nimmānaratīnaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyya.
Idaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, sandhāya bhāsitaṁ:
‘kapaṇaṁ mānusakaṁ rajjaṁ dibbaṁ sukhaṁ upanidhāya’.
Yāni, bhikkhave, mānusakāni soḷasa vassasatāni, paranimmitavasavattīnaṁ devānaṁ eso eko rattindivo.
Tāya rattiyā tiṁsarattiyo māso.
Tena māsena dvādasamāsiyo saṁvaccharo.
Tena saṁvaccharena dibbāni soḷasa vassasahassāni paranimmitavasavattīnaṁ devānaṁ āyuppamāṇaṁ.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, vijjati yaṁ idhekacco itthī vā puriso vā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavasitvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā paranimmitavasavattīnaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyya.
Idaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, sandhāya bhāsitaṁ:
‘kapaṇaṁ mānusakaṁ rajjaṁ dibbaṁ sukhaṁ upanidhāyā’ti.
Pāṇaṁ na haññe na cadinnamādiye,
Musā na bhāse na ca majjapo siyā;
Abrahmacariyā virameyya methunā,
Rattiṁ na bhuñjeyya vikālabhojanaṁ.
Mālaṁ na dhāre na ca gandhamācare,
Mañce chamāyaṁ va sayetha santhate;
Etañhi aṭṭhaṅgikamāhuposathaṁ,
Buddhena dukkhantagunā pakāsitaṁ.
Cando ca suriyo ca ubho sudassanā,
Obhāsayaṁ anupariyanti yāvatā;
Tamonudā te pana antalikkhagā,
Nabhe pabhāsanti disāvirocanā.
Etasmiṁ yaṁ vijjati antare dhanaṁ,
Muttā maṇi veḷuriyañca bhaddakaṁ;
Siṅgīsuvaṇṇaṁ atha vāpi kañcanaṁ,
Yaṁ jātarūpaṁ haṭakanti vuccati.
Aṭṭhaṅgupetassa uposathassa,
Kalampi te nānubhavanti soḷasiṁ;
Candappabhā tāragaṇā ca sabbe.
Tasmā hi nārī ca naro ca sīlavā,
Aṭṭhaṅgupetaṁ upavassuposathaṁ;
Puññāni katvāna sukhudrayāni,
Aninditā saggamupenti ṭhānan”ti.
Dutiyaṁ.
SC 1“Bhikkhus, observed complete in eight factors, the uposatha is of great fruit and benefit, extraordinarily brilliant and pervasive. And how is the uposatha observed complete in eight factors, so that it is of great fruit and benefit, extraordinarily brilliant and pervasive?
SC 2(1) “Here, bhikkhus, a noble disciple reflects thus: ‘As long as they live the arahants abandon and abstain from the destruction of life; with the rod and weapon laid aside, conscientious and kindly, they dwell compassionate toward all living beings. Today, for this night and day, I too shall abandon and abstain from the destruction of life; with the rod and weapon laid aside, conscientious and kindly, I too shall dwell compassionate toward all living beings. I shall imitate the arahants in this respect and the uposatha will be observed by me.’ This is the first factor it possesses …
As in 8:41 down to: …
SC 3(8) “‘As long as they live the arahants abandon and abstain from the use of high and luxurious beds; they lie down on a low resting place, either a small bed or a straw mat. Today, for this night and day, I too shall abandon and abstain from the use of high and luxurious beds; I shall lie down on a low resting place, either a small bed or a straw mat. I shall imitate the arahants in this respect and the uposatha will be observed by me.’ This is the eighth factor it possesses.
SC 4“It is in this way, bhikkhus, that the uposatha is observed complete in eight factors, so that it is of great fruit and benefit, extraordinarily brilliant and pervasive. an.iv.252
SC 5“To what extent is it of great fruit and benefit? To what extent is it extraordinarily brilliant and pervasive? Suppose one were to exercise sovereignty and kingship over these sixteen great countries abounding in the seven precious substances, that is, the countries of the Aṅgans, the Magadhans, the Kāsis, the Kosalans, the Vajjis, the Mallas, the Cetis, the Vaṅgas, the Kurus, the Pañcālas, the Macchas, the Sūrasenas, the Assakas, the Avantis, the Gandhārans, and the Kambojans: this would not be worth a sixteenth part of the uposatha observance complete in those eight factors. For what reason? Because human kingship is poor compared to celestial happiness.
SC 6“For the devas ruled by the four great kings, a single night and day is equivalent to fifty human years; thirty such days make up a month, and twelve such months make up a year. The life span of those devas is five hundred such celestial years. It is possible, bhikkhus, for a woman or man who observes the uposatha complete in these eight factors, with the breakup of the body, after death, to be reborn in companionship with the devas ruled by the four great kings. It was with reference to this that I said human kingship is poor compared to celestial happiness.
SC 7“For the Tāvatiṁsa devas, a single night and day is equivalent to a hundred human years; thirty such days make up a month, and twelve such months make up a year. The life span of those devas is a thousand such celestial years. an.iv.253 It is possible, bhikkhus, for a woman or man who observes the uposatha complete in these eight factors, with the breakup of the body, after death, to be reborn in companionship with the Tāvatiṁsa devas. It was with reference to this that I said human kingship is poor compared to celestial happiness.
SC 8“For the Yāma devas, a single night and day is equivalent to two hundred human years; thirty such days make up a month, and twelve such months make up a year. The life span of those devas is two thousand such celestial years. It is possible, bhikkhus, for a woman or man who observes the uposatha complete in these eight factors, with the breakup of the body, after death, to be reborn in companionship with the Yāma devas. It was with reference to this that I said human kingship is poor compared to celestial happiness.
SC 9“For the Tusita devas, a single night and day is equivalent to four hundred human years; thirty such days make up a month, and twelve such months make up a year. The life span of those devas is four thousand such celestial years. It is possible, bhikkhus, for a woman or man who observes the uposatha complete in these eight factors, with the breakup of the body, after death, to be reborn in companionship with the Tusita devas. It was with reference to this that I said human kingship is poor compared to celestial happiness.
SC 10“For the devas who delight in creation, a single night and day is equivalent to eight hundred human years; thirty such days make up a month, and twelve such months make up a year. The life span of those devas is eight thousand such celestial years. It is possible, bhikkhus, for a woman or man an.iv.254 who observes the uposatha complete in these eight factors, with the breakup of the body, after death, to be reborn in companionship with the devas who delight in creation. It was with reference to this that I said human kingship is poor compared to celestial happiness.
SC 11“For the devas who control what is created by others, a single night and day is equivalent to sixteen hundred human years; thirty such days make up a month, and twelve such months make up a year. The life span of those devas is sixteen thousand such celestial years. It is possible, bhikkhus, for a woman or man who observes the uposatha complete in these eight factors, with the breakup of the body, after death, to be reborn in companionship with the devas who control what is created by others. It was with reference to this that I said human kingship is poor compared to celestial happiness.”
SC 12One should not kill living beings or take what is not given;
SC 13one should not speak falsehood or drink intoxicants;
SC 14one should refrain from sexual activity, from unchastity;
SC 15one should not eat at night or at an improper time.
SC 16One should not wear garlands or apply scents;
one should sleep on a low bed or a mat on the ground;
this, they say, is the eight-factored uposatha
proclaimed by the Buddha,
who reached the end of suffering.
SC 17As far as the sun and moon revolve,
shedding light, so beautiful to gaze upon,
dispellers of darkness, moving through the firmament,
they shine in the sky, brightening up the quarters. an.iv.255
SC 18Whatever wealth exists in this sphere—
pearls, gems, and excellent beryl,
horn gold and mountain gold,
and the natural gold called haṭaka—
SC 19those are not worth a sixteenth part
of an uposatha complete in the eight factors,
just as all the hosts of stars
do not match the moon’s radiance.
SC 20Therefore a virtuous woman or man,
having observed the uposatha complete in eight factors
and having made merit productive of happiness,
blameless goes to a heavenly state.
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, ngày trai giới thành tựu tám chi phần, được thực hành thời có được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn; có biến mãn lớn. Như thế nào, này các Tỷ-kheo, là ngày trai giới thành tựu tám chi phần, được thực hành thời có được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn; có biến mãn lớn?
TTC 2-3… (giống như kinh 41 trên, từ đoạn số 22 đến 10) … (Ðây là chi phần thứ tám được thành tựu )
—Này các Tỷ-kheo, ngày trai giới thành tựu tám chi phần, được thực hành thời có được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn; có biến mãn lớn. Ðến như thế nào là quả lớn? Ðến như thế nào là lợi ích lớn? Ðến như thế nào là rực rỡ lớn? Ðến như thế nào là biến mãn lớn?
TTC 4Ví như, này các Tỷ-kheo, có người áp đặt chủ quyền cai trị trên mười sáu quốc độ lớn này tràn đầy bảy báu, như Anga, Magadha, Kàsìkosala, Vajjì, Cetì, Vamsà, Kurù, Pancàlà, Macchà, Sùrasenà, Asska, Avantì, Gandhàrà, Kambojà. Nhưng chủ quyền ấy không bằng một phần mười sáu của một ngày trai giới thành tựu tám chi phần. Vì cớ sao? Nhỏ nhoi, này các Tỷ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên.
TTC 5Năm mươi năm của một đời người, này các Tỷ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên Bốn thiên vương. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Năm mươi năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên Bốn thiên vương. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỷ-kheo: “Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên Bốn thiên vương”. Do vậy, Ta nói: “Nhỏ nhoi thay, này các Tỷ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên “.
TTC 6Một trăm năm của một đời người, này các Tỷ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Ba mươi ba. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Một ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Ba mươi ba. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỷ-kheo: “Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành ngày trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên cõi trời Ba mươi ba”. Do vậy, Ta nói: “Nhỏ nhoi thay, này các Tỷ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên “.
TTC 7Hai trăm năm của một đời người, này các Tỷ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Yàma. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Hai ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Yàma. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỷ-kheo: “Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành ngày trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên cõi trời Yàma”. Do vậy, Ta nói: “Nhỏ nhoi thay, này các Tỷ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên”.
Bốn trăm năm của một đời người, này các Tỷ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Tusità (Ðâu-Xuất). Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Bốn ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Tusità. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỷ-kheo: “Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành ngày trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên cõi trời Tusità”. Do vậy, Ta nói: “Nhỏ nhoi thay, này các Tỷ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên “.
Tám trăm năm của một đời người, này các Tỷ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Hóa lạc. Tám ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Hóa lạc. Sự kiện này có xảy ra, … với hạnh phúc chư Thiên “.
Mười sáu trăm năm của một đời người, này các Tỷ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Tha hóa Tự tại. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Mười sáu ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Tha hóa Tự tại. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỷ-kheo: “Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành ngày trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên cõi trời Tha hóa Tự tại. Do vậy, Ta nói: “Nhỏ nhoi thay, này các Tỷ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên “.
Chớ giết hại loại sanh
Chớ lấy của không cho
Chớ nói lời nói láo
Chớ uống thứ rượu say
Từ bỏ phi Phạm hạnh
Từ bỏ không dâm dục
Không ăn vào ban đêm
Tránh không ăn phi thời
Không mang các vòng hoa
Không dùng các hương liệu
Hãy nằm trên tấm thảm
Trải dài đất làm giường
Chính hạnh trai giới này
Ðược gọi có tám phần
Do đức Phật nói lên
Ðưa đến đoạn tận khổ
Mặt trăng và mặt trời
Cả hai thấy lành tốt
Chỗ nào chúng đi tới,
Chúng chói sáng hào quang
Chúng làm mây sáng chói
Giữa hư không chúng đi
Trên trời chúng chói sáng
Sáng rực mọi phương hướng
Trong khoảng không gian ấy
Tài sản được tìm thấy
Trân châu và ngọc báu
Lưu ly đá cầu may
Vàng cục trong lòng đất
Hay loại Kancana
Cùng loại vàng sáng chói
Ðược gọi Hataka
Tuy vậy chúng giá trị
Chỉ một phần mười sáu
Với hạnh giữ trai giới
Ðầy đủ cả tám mặt
Kể cả ánh sáng trăng
Với cả vòm trời sao
Vậy người nữ, người nam
Giữ gìn theo tịnh giới
Hành Bồ-tát trai giới
Ðầy đủ cả tám mặt
Làm các thiện công đức
Ðem lại nhiều an lạc
Ðược sanh lên cõi trời
Không bị người cười chê.
“Aṭṭhaṅgasamannāgato, bhikkhave, uposatho upavuttho mahapphalo hoti mahānisaṁso mahājutiko mahāvipphāro.
Kathaṁ upavuttho ca, bhikkhave, aṭṭhaṅgasamannāgato uposatho mahapphalo hoti mahānisaṁso mahājutiko mahāvipphāro?
Idha, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘yāvajīvaṁ arahanto pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭiviratā nihitadaṇḍā nihitasatthā lajjī dayāpannā, sabbapāṇabhūtahitānukampino viharanti.
Ahampajja imañca rattiṁ imañca divasaṁ pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato nihitadaṇḍo nihitasattho lajjī dayāpanno, sabbapāṇabhūtahitānukampī viharāmi.
Imināpaṅgena arahataṁ anukaromi, uposatho ca me upavuttho bhavissatī’ti.
Iminā paṭhamena aṅgena samannāgato hoti …pe….
‘Yāvajīvaṁ arahanto uccāsayanamahāsayanaṁ pahāya uccāsayanamahāsayanā paṭiviratā nīcaseyyaṁ kappenti—mañcake vā tiṇasanthārake vā.
Ahampajja imañca rattiṁ imañca divasaṁ uccāsayanamahāsayanaṁ pahāya uccāsayanamahāsayanā paṭivirato nīcaseyyaṁ kappemi—mañcake vā tiṇasanthārake vā.
Imināpaṅgena arahataṁ anukaromi, uposatho ca me upavuttho bhavissatī’ti.
Iminā aṭṭhamena aṅgena samannāgato hoti.
Evaṁ upavuttho kho, bhikkhave, aṭṭhaṅgasamannāgato uposatho mahapphalo hoti mahānisaṁso mahājutiko mahāvipphāro.
Kīvamahapphalo hoti kīvamahānisaṁso kīvamahājutiko kīvamahāvipphāro?
Seyyathāpi, bhikkhave, yo imesaṁ soḷasannaṁ mahājanapadānaṁ pahūtarattaratanānaṁ issariyādhipaccaṁ rajjaṁ kāreyya, seyyathidaṁ—
aṅgānaṁ magadhānaṁ kāsīnaṁ kosalānaṁ vajjīnaṁ mallānaṁ cetīnaṁ vaṅgānaṁ kurūnaṁ pañcālānaṁ macchānaṁ sūrasenānaṁ assakānaṁ avantīnaṁ gandhārānaṁ kambojānaṁ, aṭṭhaṅgasamannāgatassa uposathassa etaṁ kalaṁ nāgghati soḷasiṁ.
Taṁ kissa hetu?
Kapaṇaṁ, bhikkhave, mānusakaṁ rajjaṁ dibbaṁ sukhaṁ upanidhāya.
Yāni, bhikkhave, mānusakāni paññāsa vassāni, cātumahārājikānaṁ devānaṁ eso eko rattindivo.
Tāya rattiyā tiṁsarattiyo māso.
Tena māsena dvādasamāsiyo saṁvaccharo.
Tena saṁvaccharena dibbāni pañca vassasatāni cātumahārājikānaṁ devānaṁ āyuppamāṇaṁ.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, vijjati yaṁ idhekacco itthī vā puriso vā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavasitvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā cātumahārājikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyya.
Idaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, sandhāya bhāsitaṁ:
‘kapaṇaṁ mānusakaṁ rajjaṁ dibbaṁ sukhaṁ upanidhāya’.
Yāni, bhikkhave, mānusakāni vassasatāni, tāvatiṁsānaṁ devānaṁ eso eko rattindivo.
Tāya rattiyā tiṁsarattiyo māso.
Tena māsena dvādasamāsiyo saṁvaccharo.
Tena saṁvaccharena dibbaṁ vassasahassaṁ tāvatiṁsānaṁ devānaṁ āyuppamāṇaṁ.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, vijjati yaṁ idhekacco itthī vā puriso vā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavasitvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā tāvatiṁsānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyya.
Idaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, sandhāya bhāsitaṁ:
‘kapaṇaṁ mānusakaṁ rajjaṁ dibbaṁ sukhaṁ upanidhāya’.
Yāni, bhikkhave, mānusakāni dve vassasatāni, yāmānaṁ devānaṁ eso eko rattindivo.
Tāya rattiyā tiṁsarattiyo māso.
Tena māsena dvādasamāsiyo saṁvaccharo.
Tena saṁvaccharena dibbāni dve vassasahassāni yāmānaṁ devānaṁ āyuppamāṇaṁ.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, vijjati yaṁ idhekacco itthī vā puriso vā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavasitvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā yāmānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyya.
Idaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, sandhāya bhāsitaṁ:
‘kapaṇaṁ mānusakaṁ rajjaṁ dibbaṁ sukhaṁ upanidhāya’.
Yāni, bhikkhave, mānusakāni cattāri vassasatāni, tusitānaṁ devānaṁ eso eko rattindivo.
Tāya rattiyā tiṁsarattiyo māso.
Tena māsena dvādasamāsiyo saṁvaccharo.
Tena saṁvaccharena dibbāni cattāri vassasahassāni tusitānaṁ devānaṁ āyuppamāṇaṁ.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, vijjati yaṁ idhekacco itthī vā puriso vā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavasitvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā tusitānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyya.
Idaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, sandhāya bhāsitaṁ:
‘kapaṇaṁ mānusakaṁ rajjaṁ dibbaṁ sukhaṁ upanidhāya’.
Yāni, bhikkhave, mānusakāni aṭṭha vassasatāni, nimmānaratīnaṁ devānaṁ eso eko rattindivo.
Tāya rattiyā tiṁsarattiyo māso.
Tena māsena dvādasamāsiyo saṁvaccharo.
Tena saṁvaccharena dibbāni aṭṭha vassasahassāni nimmānaratīnaṁ devānaṁ āyuppamāṇaṁ.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, vijjati yaṁ idhekacco itthī vā puriso vā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavasitvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā nimmānaratīnaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyya.
Idaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, sandhāya bhāsitaṁ:
‘kapaṇaṁ mānusakaṁ rajjaṁ dibbaṁ sukhaṁ upanidhāya’.
Yāni, bhikkhave, mānusakāni soḷasa vassasatāni, paranimmitavasavattīnaṁ devānaṁ eso eko rattindivo.
Tāya rattiyā tiṁsarattiyo māso.
Tena māsena dvādasamāsiyo saṁvaccharo.
Tena saṁvaccharena dibbāni soḷasa vassasahassāni paranimmitavasavattīnaṁ devānaṁ āyuppamāṇaṁ.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, vijjati yaṁ idhekacco itthī vā puriso vā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavasitvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā paranimmitavasavattīnaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyya.
Idaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, sandhāya bhāsitaṁ:
‘kapaṇaṁ mānusakaṁ rajjaṁ dibbaṁ sukhaṁ upanidhāyā’ti.
Pāṇaṁ na haññe na cadinnamādiye,
Musā na bhāse na ca majjapo siyā;
Abrahmacariyā virameyya methunā,
Rattiṁ na bhuñjeyya vikālabhojanaṁ.
Mālaṁ na dhāre na ca gandhamācare,
Mañce chamāyaṁ va sayetha santhate;
Etañhi aṭṭhaṅgikamāhuposathaṁ,
Buddhena dukkhantagunā pakāsitaṁ.
Cando ca suriyo ca ubho sudassanā,
Obhāsayaṁ anupariyanti yāvatā;
Tamonudā te pana antalikkhagā,
Nabhe pabhāsanti disāvirocanā.
Etasmiṁ yaṁ vijjati antare dhanaṁ,
Muttā maṇi veḷuriyañca bhaddakaṁ;
Siṅgīsuvaṇṇaṁ atha vāpi kañcanaṁ,
Yaṁ jātarūpaṁ haṭakanti vuccati.
Aṭṭhaṅgupetassa uposathassa,
Kalampi te nānubhavanti soḷasiṁ;
Candappabhā tāragaṇā ca sabbe.
Tasmā hi nārī ca naro ca sīlavā,
Aṭṭhaṅgupetaṁ upavassuposathaṁ;
Puññāni katvāna sukhudrayāni,
Aninditā saggamupenti ṭhānan”ti.
Dutiyaṁ.