TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có bốn sự việc này, rất xa, rất xa với nhau. Thế nào là bốn?
Trời và đất, này các Tỷ-kheo, là sự việc thứ nhứt rất xa, rất xa với nhau. Bờ biển bên này, này các Tỷ-kheo với bờ biển bên kia, là sự việc thứ hai rất xa, rất xa với nhau. Từ chỗ mặt trời mọc lên, này các Tỷ-kheo, đến chỗ mặt trời lặn xuống, là sự việc thứ ba rất xa, rất xa với nhau. Pháp của hạng người bất thiện, này các Tỷ-kheo, với pháp của hạng người thiện, là sự việc thứ tư rất xa, rất xa với nhau.
Này các Tỷ-kheo, đây là bốn sự việc rất xa, rất xa với nhau này.
TTC 2
Rất xa là bầu trời,
Cũng rất xa, quả đất,
Người ta nói rất xa,
Là bờ biển bên kia.
Từ chỗ mặt trời mọc,
Chói sáng, tỏa ánh sáng,
Ðến chỗ mặt trời lặn.
Rằng xa, thật là xa,
Người ta nói xa hơn,
Là pháp của bậc thiện,
Với pháp kẻ bất thiện,
Thật xa, xa hơn nhiều.
Hòa hợp với bậc thiện,
Thường hằng, không hoại diệt,
Khi nào còn đứng vững,
Vẫn như vậy kiên trì,
Còn hòa hợp bất thiện,
Rất mau bị phá hoại,
Do vậy pháp bậc thiện,
Rất xa pháp kẻ ác.
“Cattārimāni, bhikkhave, suvidūravidūrāni.
Katamāni cattāri?
Nabhañca, bhikkhave, pathavī ca;
idaṁ paṭhamaṁ suvidūravidūre.
Orimañca, bhikkhave, tīraṁ samuddassa pārimañca;
idaṁ dutiyaṁ suvidūravidūre.
Yato ca, bhikkhave, verocano abbhudeti yattha ca atthameti;
idaṁ tatiyaṁ suvidūravidūre.
Satañca, bhikkhave, dhammo asatañca dhammo;
idaṁ catutthaṁ suvidūravidūre.
Imāni kho, bhikkhave, cattāri suvidūravidūrānīti.
Nabhañca dūre pathavī ca dūre,
Pāraṁ samuddassa tadāhu dūre;
Yato ca verocano abbhudeti,
Pabhaṅkaro yattha ca atthameti;
Tato have dūrataraṁ vadanti,
Satañca dhammaṁ asatañca dhammaṁ.
Abyāyiko hoti sataṁ samāgamo,
Yāvāpi tiṭṭheyya tatheva hoti;
Khippañhi veti asataṁ samāgamo,
Tasmā sataṁ dhammo asabbhi ārakā”ti.
Sattamaṁ.
“Mendicants, these four things are very far apart.
What four?
The firmament and the earth. …
The near and the far shore of the ocean. …
Where the sun rises and where it sets. …
The teaching of the virtuous and the teaching of the wicked. …
These are the four things very far apart.
The firmament is far from the earth;
they say the other shore of the ocean is far;
and where the sun rises is far
from where that beacon sets.
But even further apart than that, they say,
is the teaching of the virtuous from the wicked.
The company of the virtuous is reliable;
as long as it remains, it stays the same.
But the company of the wicked is fickle,
and so the teaching of the virtuous is far from the wicked.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có bốn sự việc này, rất xa, rất xa với nhau. Thế nào là bốn?
Trời và đất, này các Tỷ-kheo, là sự việc thứ nhứt rất xa, rất xa với nhau. Bờ biển bên này, này các Tỷ-kheo với bờ biển bên kia, là sự việc thứ hai rất xa, rất xa với nhau. Từ chỗ mặt trời mọc lên, này các Tỷ-kheo, đến chỗ mặt trời lặn xuống, là sự việc thứ ba rất xa, rất xa với nhau. Pháp của hạng người bất thiện, này các Tỷ-kheo, với pháp của hạng người thiện, là sự việc thứ tư rất xa, rất xa với nhau.
Này các Tỷ-kheo, đây là bốn sự việc rất xa, rất xa với nhau này.
TTC 2
Rất xa là bầu trời,
Cũng rất xa, quả đất,
Người ta nói rất xa,
Là bờ biển bên kia.
Từ chỗ mặt trời mọc,
Chói sáng, tỏa ánh sáng,
Ðến chỗ mặt trời lặn.
Rằng xa, thật là xa,
Người ta nói xa hơn,
Là pháp của bậc thiện,
Với pháp kẻ bất thiện,
Thật xa, xa hơn nhiều.
Hòa hợp với bậc thiện,
Thường hằng, không hoại diệt,
Khi nào còn đứng vững,
Vẫn như vậy kiên trì,
Còn hòa hợp bất thiện,
Rất mau bị phá hoại,
Do vậy pháp bậc thiện,
Rất xa pháp kẻ ác.
“Cattārimāni, bhikkhave, suvidūravidūrāni.
Katamāni cattāri?
Nabhañca, bhikkhave, pathavī ca;
idaṁ paṭhamaṁ suvidūravidūre.
Orimañca, bhikkhave, tīraṁ samuddassa pārimañca;
idaṁ dutiyaṁ suvidūravidūre.
Yato ca, bhikkhave, verocano abbhudeti yattha ca atthameti;
idaṁ tatiyaṁ suvidūravidūre.
Satañca, bhikkhave, dhammo asatañca dhammo;
idaṁ catutthaṁ suvidūravidūre.
Imāni kho, bhikkhave, cattāri suvidūravidūrānīti.
Nabhañca dūre pathavī ca dūre,
Pāraṁ samuddassa tadāhu dūre;
Yato ca verocano abbhudeti,
Pabhaṅkaro yattha ca atthameti;
Tato have dūrataraṁ vadanti,
Satañca dhammaṁ asatañca dhammaṁ.
Abyāyiko hoti sataṁ samāgamo,
Yāvāpi tiṭṭheyya tatheva hoti;
Khippañhi veti asataṁ samāgamo,
Tasmā sataṁ dhammo asabbhi ārakā”ti.
Sattamaṁ.