TTC 1—“Làm việc đúng thời là thế giới, làm việc đúng thời là thế giới “, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu nói như vậy, nhưng vị ấy không biết đúng thời và phi thời. Này các Tỷ-kheo, có tám phi thời, phi thời tiết cho đời sống Phạm hạnh. Thế nào là tám?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Và pháp được giảng đưa đến an tịnh, đưa đến tịch tịnh, đưa đến giác ngộ, được bậc Thiện Thệ tuyên bố. Và người này lại bị sanh vào địa ngục. Này các Tỷ-kheo, đây là phi thời, phi thời tiết thứ nhất cho đời sống Phạm hạnh.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác … Phật, Thế Tôn và pháp được giảng đưa đến an tịnh, đưa đến tịch tịnh, đưa đến giác ngộ, được bậc Thiện Thệ tuyên bố. Và người này lại bị sanh vào loại bàng sanh … người này lại bị sanh vào cõi ngạ quỷ … người này lại bị sanh vào giữa chư Thiên giới có thọ mạng lâu dài … người này lại bị sanh vào các biên địa, giữa những kẻ vô trí mọi rợ, tại đây, không có hướng đi cho các Tỷ-kheo, cho các Tỷ-kheo—Ni, cho nam cư sĩ, nữ cư sĩ … và người này được sanh vào chánh địa, nhưng lại có tà kiến, có tri kiến đảo ngược: “Không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có mẹ, không có cha, không có loại hóa sanh, ở đời không có những Sa-môn, những Bà-la-môn chánh hướng chánh hạnh, đã tự mình chứng tri giác ngộ và truyền dạy lại đời này, đời khác …” và người này được sanh vào đây chánh địa, nhưng người ấy lại ác tuệ, si mê, câm điếc, không có thể hiểu rõ ý nghĩa của một lời nói khéo, nói hay, nói dở. Này các Tỷ-kheo, đây là phi thời, phi thời tiết thứ tám cho đời sống Phạm hạnh.
TTC 4Này các Tỷ-kheo, có tám phi thời, phi thời tiết này cho đời sống Phạm hạnh.
TTC 5Này các Tỷ-kheo, chỉ có một chánh thời, một chánh thời tiết này cho đời sống Phạm hạnh. Thế nào là một?
TTC 6Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thế Tôn xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Và pháp được giảng đưa đến an tịnh, đưa đến tịch tịnh, đưa đến giác ngộ, được bậc Thiện Thệ tuyên bố. Và người này được sanh vào chánh địa, vị ấy có trí tuệ, không si mê, không câm điếc, có thể hiểu rõ ý nghĩa của một lời nói khéo, nói hay, nói dở. Này các Tỷ-kheo, đây là chánh thời, chánh thời tiết độc nhất cho đời sống Phạm hạnh.
Ai được sanh làm người
Khi diệu pháp được giảng
Lại không nắm được thời
Họ vượt qua khỏi thời
Nhiều phi thời được nói
Làm chướng ngại con người
Chỉ năm khi mười họa
Như Lai hiện ở đời
Ðược giáp mặt với Ngài
Rất khó được ở đời
Ðược sanh ra làm người
Và diệu pháp được giảng
Vừa đủ để tinh tấn
Với ai muốn lợi ích
Sao biết rõ diệu pháp
Lại để thời vượt qua!
Kẻ để thời gian qua
Sầu muộn tại địa ngục
Ở đây ai bỏ rơi
Quyết định tánh diệu pháp
Như kẻ buôn mất của
Sẽ sầu não lâu ngày
Người vô minh bao phủ
Vi phạm đến diệu pháp
Phải chịu đựng lâu ngày
Lưu chuyển trong sanh tử
Ai được sanh làm người
Trong thời pháp khéo giảng
Quá khứ, hiện, vị lai
Làm theo lời Ðạo sư
Nắm được thời ở đời
Cho vô thượng Phạm hạnh
Ai đã bước con đường
Do Như Lai thuyết giảng
Những ai sống chế ngự
Do bậc pháp nhãn dạy
Như đã được thuyết giảng
Bậc bà con mặt trời
Hãy sống thường chánh niệm
Hộ trì không tham dục
Chặt đứt mọi tùy miên
Không chạy theo ma giới
Các vị ấy ở đời
Ðến được bờ bên kia
Và họ cũng đạt được
Các lậu hoặc đoạn tận.
“‘Khaṇakicco loko, khaṇakicco loko’ti, bhikkhave, assutavā puthujjano bhāsati, no ca kho so jānāti khaṇaṁ vā akkhaṇaṁ vā.
Aṭṭhime, bhikkhave, akkhaṇā asamayā brahmacariyavāsāya.
Katame aṭṭha?
Idha, bhikkhave, tathāgato ca loke uppanno hoti arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā, dhammo ca desiyati opasamiko parinibbāniko sambodhagāmī sugatappavedito;
ayañca puggalo nirayaṁ upapanno hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
Puna caparaṁ, bhikkhave, tathāgato ca loke uppanno hoti …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā, dhammo ca desiyati opasamiko parinibbāniko sambodhagāmī sugatappavedito;
ayañca puggalo tiracchānayoniṁ upapanno hoti …pe….
Puna caparaṁ, bhikkhave …pe…
ayañca puggalo pettivisayaṁ upapanno hoti …pe….
Puna caparaṁ, bhikkhave …pe…
ayañca puggalo aññataraṁ dīghāyukaṁ devanikāyaṁ upapanno hoti …pe….
Puna caparaṁ, bhikkhave …pe…
ayañca puggalo paccantimesu janapadesu paccājāto hoti, so ca hoti aviññātāresu milakkhesu, yattha natthi gati bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ …pe….
Puna caparaṁ, bhikkhave …pe… ayañca puggalo majjhimesu janapadesu paccājāto hoti, so ca hoti micchādiṭṭhiko viparītadassano:
‘natthi dinnaṁ, natthi yiṭṭhaṁ, natthi hutaṁ, natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, natthi ayaṁ loko, natthi paro loko, natthi mātā, natthi pitā, natthi sattā opapātikā, natthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammā paṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti …pe….
Puna caparaṁ, bhikkhave …pe…
ayañca puggalo majjhimesu janapadesu paccājāto hoti, so ca hoti duppañño jaḷo eḷamūgo appaṭibalo subhāsitadubbhāsitassa atthamaññātuṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, sattamo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
Puna caparaṁ, bhikkhave, tathāgato ca loke anuppanno hoti arahaṁ sammāsambuddho …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā.
Dhammo ca na desiyati opasamiko parinibbāniko sambodhagāmī sugatappavedito. Ayañca puggalo majjhimesu janapadesu paccājāto hoti, so ca hoti paññavā ajaḷo aneḷamūgo paṭibalo subhāsitadubbhāsitassa atthamaññātuṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, aṭṭhamo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
Ime kho, bhikkhave, aṭṭha akkhaṇā asamayā brahmacariyavāsāya.
Ekova kho, bhikkhave, khaṇo ca samayo ca brahmacariyavāsāya.
Katamo eko?
Idha, bhikkhave, tathāgato ca loke uppanno hoti arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā.
Dhammo ca desiyati opasamiko parinibbāniko sambodhagāmī sugatappavedito. Ayañca puggalo majjhimesu janapadesu paccājāto hoti, so ca hoti paññavā ajaḷo aneḷamūgo paṭibalo subhāsitadubbhāsitassa atthamaññātuṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, ekova khaṇo ca samayo ca brahmacariyavāsāyāti.
Manussalābhaṁ laddhāna,
saddhamme suppavedite;
Ye khaṇaṁ nādhigacchanti,
atināmenti te khaṇaṁ.
Bahū hi akkhaṇā vuttā,
maggassa antarāyikā;
Kadāci karahaci loke,
uppajjanti tathāgatā.
Tayidaṁ sammukhībhūtaṁ,
yaṁ lokasmiṁ sudullabhaṁ;
Manussapaṭilābho ca,
saddhammassa ca desanā;
Alaṁ vāyamituṁ tattha,
attakāmena jantunā.
Kathaṁ vijaññā saddhammaṁ,
khaṇo ve mā upaccagā;
Khaṇātītā hi socanti,
nirayamhi samappitā.
Idha ce naṁ virādheti,
saddhammassa niyāmataṁ;
Vāṇijova atītattho,
cirattaṁ anutapissati.
Avijjānivuto poso,
saddhammaṁ aparādhiko;
Jātimaraṇasaṁsāraṁ,
ciraṁ paccanubhossati.
Ye ca laddhā manussattaṁ,
saddhamme suppavedite;
Akaṁsu satthu vacanaṁ,
karissanti karonti vā.
Khaṇaṁ paccaviduṁ loke,
brahmacariyaṁ anuttaraṁ;
Ye maggaṁ paṭipajjiṁsu,
tathāgatappaveditaṁ.
Ye saṁvarā cakkhumatā,
desitādiccabandhunā;
Tesu gutto sadā sato,
vihare anavassuto.
Sabbe anusaye chetvā,
māradheyyaparānuge;
Te ve pāraṅgatā loke,
ye pattā āsavakkhayan”ti.
Navamaṁ.
SC 1“Bhikkhus, the uninstructed worldling says: ‘The world has gained the opportunity! The world has gained the opportunity!’ but he does not know what is an opportunity and what is not an opportunity. There are, bhikkhus, these eight inopportune moments that are not right occasions for living the spiritual life. What eight?
SC 2(1) “Here, a Tathāgata has arisen in the world, an arahant, perfectly enlightened, accomplished in true knowledge and conduct, fortunate, knower of the world, unsurpassed trainer of persons to be tamed, teacher of devas and humans, an Enlightened One, a Blessed One, and the Dhamma leading to peace, nibbāna, and enlightenment is taught as proclaimed by a Fortunate One. But a person has been reborn in hell. This is the first inopportune moment that is not the right occasion for living the spiritual life. an.iv.226
SC 3(2) “Again, a Tathāgata has arisen in the world … and the Dhamma leading to peace, nibbāna, and enlightenment is taught as proclaimed by a Fortunate One. But a person has been reborn in the animal realm. This is the second inopportune moment that is not the right occasion for living the spiritual life.
SC 4(3) “Again, a Tathāgata has arisen in the world … and the Dhamma leading to peace, nibbāna, and enlightenment is taught as proclaimed by a Fortunate One. But a person has been reborn in the sphere of afflicted spirits. This is the third inopportune moment that is not the right occasion for living the spiritual life.
SC 5(4) “Again, a Tathāgata has arisen in the world … and the Dhamma leading to peace, nibbāna, and enlightenment is taught as proclaimed by a Fortunate One. But a person has been reborn in a certain order of long-lived devas. This is the fourth inopportune moment that is not the right occasion for living the spiritual life.
SC 6(5) “Again, a Tathāgata has arisen in the world … and the Dhamma leading to peace, nibbāna, and enlightenment is taught as proclaimed by a Fortunate One. But a person has been reborn in the outlying provinces among the uncouth foreigners, a place to which bhikkhus, bhikkhunīs, male lay followers, and female lay followers do not travel. This is the fifth inopportune moment that is not the right occasion for living the spiritual life.
SC 7(6) “Again, a Tathāgata has arisen in the world … and the Dhamma leading to peace, nibbāna, and enlightenment is taught as proclaimed by a Fortunate One. A person has been reborn in the central provinces, but he holds wrong view and has a distorted perspective: ‘There is nothing given, nothing sacrificed, nothing offered; there is no fruit or result of good and bad actions; there is no this world, no other world; there is no mother, no father; there are no beings spontaneously reborn; there are in the world no ascetics and brahmins of right conduct and right practice who, having realized this world and the other world for themselves by direct knowledge, make them known to others.’ This is the sixth inopportune moment that is not the right occasion for living the spiritual life.
SC 8(7) “Again, a Tathāgata has arisen in the world … and the Dhamma leading to peace, nibbāna, and enlightenment is taught as proclaimed by a Fortunate One. A person has been reborn in the central provinces, but he is unwise, stupid, obtuse, unable to understand the meaning of what has been well stated and badly stated. This is the seventh inopportune moment that is not the right occasion for living the spiritual life.
SC 9(8) “Again, a Tathāgata has not arisen in the world … and the Dhamma an.iv.227 leading to peace, nibbāna, and enlightenment is not taught as proclaimed by a Fortunate One. But a person has been reborn in the central provinces, and he is wise, intelligent, astute, able to understand the meaning of what has been well stated and badly stated. This is the eighth inopportune moment that is not the right occasion for living the spiritual life.
SC 10“These are the eight inopportune moments that are not the right occasions for living the spiritual life.
SC 11“There is, bhikkhus, one unique opportune moment that is the right occasion for living the spiritual life. What is it? Here, a Tathāgata has arisen in the world, an arahant, perfectly enlightened, accomplished in true knowledge and conduct, fortunate, knower of the world, unsurpassed trainer of persons to be tamed, teacher of devas and humans, an Enlightened One, a Blessed One, and the Dhamma leading to peace, nibbāna, and enlightenment is taught as proclaimed by a Fortunate One. And a person has been reborn in the central provinces, and he is wise, intelligent, astute, able to understand the meaning of what has been well stated and badly stated. This, bhikkhus, is the one unique opportune moment that is the right occasion for living the spiritual life.”
SC 12Having obtained the human state
when the good Dhamma has been well proclaimed,
those who do not seize the moment
have let the right moment slip by.
SC 13For many inopportune times are spoken of,
occasions obstructive to the path;
for it is only sometimes, on occasion,
that Tathāgatas arise in the world.
SC 14If one has directly encountered them,
fortune rarely gained in the world,
if one has obtained the human state,
and the good Dhamma is being taught,
for a person desiring his own good,
this is incentive enough to strive. an.iv.228
SC 15How can one understand the good Dhamma,
so that the moment won’t slip by?
For those who miss the moment grieve
when they are reborn in hell.
SC 16One here who has failed to obtain
the fixed course of the good Dhamma,
will come to regret it for a long time
like a merchant who has missed a profit.
SC 17A person hindered by ignorance
who has failed in the good Dhamma
will long experience wandering on
in the round of birth and death.
SC 18But those who gain the human state
when the good Dhamma is well proclaimed,
have accomplished the Teacher’s word,
or will do so, or are doing so now.
SC 19Those who have practiced the path,
proclaimed by the Tathāgata,
have penetrated the right moment in the world
the unsurpassed spiritual life.
SC 20You should dwell without leakages,
guarded, ever-mindful in the restraints
taught by the One with Vision,
the Kinsman of the Sun.
SC 21Having cut off all underlying tendencies
that follow one drifting in Māra’s domain,
those who attain the destruction of the taints,
though in the world, have gone beyond.
TTC 1—“Làm việc đúng thời là thế giới, làm việc đúng thời là thế giới “, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu nói như vậy, nhưng vị ấy không biết đúng thời và phi thời. Này các Tỷ-kheo, có tám phi thời, phi thời tiết cho đời sống Phạm hạnh. Thế nào là tám?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Và pháp được giảng đưa đến an tịnh, đưa đến tịch tịnh, đưa đến giác ngộ, được bậc Thiện Thệ tuyên bố. Và người này lại bị sanh vào địa ngục. Này các Tỷ-kheo, đây là phi thời, phi thời tiết thứ nhất cho đời sống Phạm hạnh.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác … Phật, Thế Tôn và pháp được giảng đưa đến an tịnh, đưa đến tịch tịnh, đưa đến giác ngộ, được bậc Thiện Thệ tuyên bố. Và người này lại bị sanh vào loại bàng sanh … người này lại bị sanh vào cõi ngạ quỷ … người này lại bị sanh vào giữa chư Thiên giới có thọ mạng lâu dài … người này lại bị sanh vào các biên địa, giữa những kẻ vô trí mọi rợ, tại đây, không có hướng đi cho các Tỷ-kheo, cho các Tỷ-kheo—Ni, cho nam cư sĩ, nữ cư sĩ … và người này được sanh vào chánh địa, nhưng lại có tà kiến, có tri kiến đảo ngược: “Không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có mẹ, không có cha, không có loại hóa sanh, ở đời không có những Sa-môn, những Bà-la-môn chánh hướng chánh hạnh, đã tự mình chứng tri giác ngộ và truyền dạy lại đời này, đời khác …” và người này được sanh vào đây chánh địa, nhưng người ấy lại ác tuệ, si mê, câm điếc, không có thể hiểu rõ ý nghĩa của một lời nói khéo, nói hay, nói dở. Này các Tỷ-kheo, đây là phi thời, phi thời tiết thứ tám cho đời sống Phạm hạnh.
TTC 4Này các Tỷ-kheo, có tám phi thời, phi thời tiết này cho đời sống Phạm hạnh.
TTC 5Này các Tỷ-kheo, chỉ có một chánh thời, một chánh thời tiết này cho đời sống Phạm hạnh. Thế nào là một?
TTC 6Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thế Tôn xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Và pháp được giảng đưa đến an tịnh, đưa đến tịch tịnh, đưa đến giác ngộ, được bậc Thiện Thệ tuyên bố. Và người này được sanh vào chánh địa, vị ấy có trí tuệ, không si mê, không câm điếc, có thể hiểu rõ ý nghĩa của một lời nói khéo, nói hay, nói dở. Này các Tỷ-kheo, đây là chánh thời, chánh thời tiết độc nhất cho đời sống Phạm hạnh.
Ai được sanh làm người
Khi diệu pháp được giảng
Lại không nắm được thời
Họ vượt qua khỏi thời
Nhiều phi thời được nói
Làm chướng ngại con người
Chỉ năm khi mười họa
Như Lai hiện ở đời
Ðược giáp mặt với Ngài
Rất khó được ở đời
Ðược sanh ra làm người
Và diệu pháp được giảng
Vừa đủ để tinh tấn
Với ai muốn lợi ích
Sao biết rõ diệu pháp
Lại để thời vượt qua!
Kẻ để thời gian qua
Sầu muộn tại địa ngục
Ở đây ai bỏ rơi
Quyết định tánh diệu pháp
Như kẻ buôn mất của
Sẽ sầu não lâu ngày
Người vô minh bao phủ
Vi phạm đến diệu pháp
Phải chịu đựng lâu ngày
Lưu chuyển trong sanh tử
Ai được sanh làm người
Trong thời pháp khéo giảng
Quá khứ, hiện, vị lai
Làm theo lời Ðạo sư
Nắm được thời ở đời
Cho vô thượng Phạm hạnh
Ai đã bước con đường
Do Như Lai thuyết giảng
Những ai sống chế ngự
Do bậc pháp nhãn dạy
Như đã được thuyết giảng
Bậc bà con mặt trời
Hãy sống thường chánh niệm
Hộ trì không tham dục
Chặt đứt mọi tùy miên
Không chạy theo ma giới
Các vị ấy ở đời
Ðến được bờ bên kia
Và họ cũng đạt được
Các lậu hoặc đoạn tận.
“‘Khaṇakicco loko, khaṇakicco loko’ti, bhikkhave, assutavā puthujjano bhāsati, no ca kho so jānāti khaṇaṁ vā akkhaṇaṁ vā.
Aṭṭhime, bhikkhave, akkhaṇā asamayā brahmacariyavāsāya.
Katame aṭṭha?
Idha, bhikkhave, tathāgato ca loke uppanno hoti arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā, dhammo ca desiyati opasamiko parinibbāniko sambodhagāmī sugatappavedito;
ayañca puggalo nirayaṁ upapanno hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
Puna caparaṁ, bhikkhave, tathāgato ca loke uppanno hoti …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā, dhammo ca desiyati opasamiko parinibbāniko sambodhagāmī sugatappavedito;
ayañca puggalo tiracchānayoniṁ upapanno hoti …pe….
Puna caparaṁ, bhikkhave …pe…
ayañca puggalo pettivisayaṁ upapanno hoti …pe….
Puna caparaṁ, bhikkhave …pe…
ayañca puggalo aññataraṁ dīghāyukaṁ devanikāyaṁ upapanno hoti …pe….
Puna caparaṁ, bhikkhave …pe…
ayañca puggalo paccantimesu janapadesu paccājāto hoti, so ca hoti aviññātāresu milakkhesu, yattha natthi gati bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ …pe….
Puna caparaṁ, bhikkhave …pe… ayañca puggalo majjhimesu janapadesu paccājāto hoti, so ca hoti micchādiṭṭhiko viparītadassano:
‘natthi dinnaṁ, natthi yiṭṭhaṁ, natthi hutaṁ, natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, natthi ayaṁ loko, natthi paro loko, natthi mātā, natthi pitā, natthi sattā opapātikā, natthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammā paṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti …pe….
Puna caparaṁ, bhikkhave …pe…
ayañca puggalo majjhimesu janapadesu paccājāto hoti, so ca hoti duppañño jaḷo eḷamūgo appaṭibalo subhāsitadubbhāsitassa atthamaññātuṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, sattamo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
Puna caparaṁ, bhikkhave, tathāgato ca loke anuppanno hoti arahaṁ sammāsambuddho …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā.
Dhammo ca na desiyati opasamiko parinibbāniko sambodhagāmī sugatappavedito. Ayañca puggalo majjhimesu janapadesu paccājāto hoti, so ca hoti paññavā ajaḷo aneḷamūgo paṭibalo subhāsitadubbhāsitassa atthamaññātuṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, aṭṭhamo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
Ime kho, bhikkhave, aṭṭha akkhaṇā asamayā brahmacariyavāsāya.
Ekova kho, bhikkhave, khaṇo ca samayo ca brahmacariyavāsāya.
Katamo eko?
Idha, bhikkhave, tathāgato ca loke uppanno hoti arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā.
Dhammo ca desiyati opasamiko parinibbāniko sambodhagāmī sugatappavedito. Ayañca puggalo majjhimesu janapadesu paccājāto hoti, so ca hoti paññavā ajaḷo aneḷamūgo paṭibalo subhāsitadubbhāsitassa atthamaññātuṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, ekova khaṇo ca samayo ca brahmacariyavāsāyāti.
Manussalābhaṁ laddhāna,
saddhamme suppavedite;
Ye khaṇaṁ nādhigacchanti,
atināmenti te khaṇaṁ.
Bahū hi akkhaṇā vuttā,
maggassa antarāyikā;
Kadāci karahaci loke,
uppajjanti tathāgatā.
Tayidaṁ sammukhībhūtaṁ,
yaṁ lokasmiṁ sudullabhaṁ;
Manussapaṭilābho ca,
saddhammassa ca desanā;
Alaṁ vāyamituṁ tattha,
attakāmena jantunā.
Kathaṁ vijaññā saddhammaṁ,
khaṇo ve mā upaccagā;
Khaṇātītā hi socanti,
nirayamhi samappitā.
Idha ce naṁ virādheti,
saddhammassa niyāmataṁ;
Vāṇijova atītattho,
cirattaṁ anutapissati.
Avijjānivuto poso,
saddhammaṁ aparādhiko;
Jātimaraṇasaṁsāraṁ,
ciraṁ paccanubhossati.
Ye ca laddhā manussattaṁ,
saddhamme suppavedite;
Akaṁsu satthu vacanaṁ,
karissanti karonti vā.
Khaṇaṁ paccaviduṁ loke,
brahmacariyaṁ anuttaraṁ;
Ye maggaṁ paṭipajjiṁsu,
tathāgatappaveditaṁ.
Ye saṁvarā cakkhumatā,
desitādiccabandhunā;
Tesu gutto sadā sato,
vihare anavassuto.
Sabbe anusaye chetvā,
māradheyyaparānuge;
Te ve pāraṅgatā loke,
ye pattā āsavakkhayan”ti.
Navamaṁ.