TTC 1—Có ba Thiên sứ này, này các Tỷ-kheo, Thế nào là ba?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Sau khi thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Rồi này các Tỳ kheo, những người lính địa ngục với hai cánh tay bắt người ấy dẫn đến Vua Yama (Diêm vương) và thưa:
—“Thưa Ðại vương, người này không kính mẹ, không kính cha, không kính Sa-môn, không kính Bà-la-môn, không tôn kính các bậc lớn tuổi trong gia đình, Ðại vương hãy hình phạt nó”
Rồi vua Yama chất vấn người ấy:, cật vấn, nạn vấn người ấy về Thiên sứ thứ nhất:
—“Này người kia, người có thấy vị Thiên sứ thứ nhất hiện ra giữa loài người không?”
Người ấy trả lời:
—“Con không thấy, thưa ngài”
Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yama nói với người ấy:
—“Này người kia, ngươi có bao giờ thấy giữa loài người, một người đàn bà hay đàn ông 80 tuổi, hay 90 tuổi, hay 100 tuổi, già yếu, cong như nóc nhà, lưng còm, chống gậy, vừa đi vừa run rẩy, bệnh hoạn, tuổi trẻ đã tận, răng rụng tóc bạc, hư rụng, sói đầu, da nhăn, đầu rung, tay chân da mồi khô đét?”
Người ấy nói như sau:
—“Thưa Ngài, con có thấy”.
Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yama nói với người ấy như sau:
—“Này người kia, với ngươi là người có trí, và lớn tuổi, Ngươi có nghĩ rằng: “Ta rồi cũng bị già, ta không vượt qua tuổi già. Vậy ta hãy làm điều lành, về thân, về lời nói, về ý?”
Người ấy nói như sau:
—“Không, thưa Ngài, con không có làm. Thưa Ngài, con phóng dật.”
Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yama nói với người ấy:
—“Này người kia, chính vì do phóng dật, ngươi đã không làm các điều lành về thân, về lời nói, về ý. Thật vậy, này người kia, chúng sẽ làm cho ngươi, đúng theo sự phóng dật của ngươi. Ác nghiệp ấy của ngươi, không phải mẹ làm, không phải cha làm, không phải anh làm, không phải chị làm, không phải bạn bè thân hữu làm, không phải bà con huyết thống làm, không phải chư Thiên làm, không phải Sa-môn làm, Bà-la-môn làm. Ác nghiệp ấy chính do ngươi làm và Ngươi sẽ thọ lãnh quả dị thục của ác nghiệp ấy.
TTC 2Rồi vua Yama, này các Tỷ-kheo, sau khi chất vấn, cật vấn, nạn vấn người ấy về vị Thiên sứ thứ nhất, liền chất vấn, cật vấn, nạn vấn người ấy về vị Thiên sứ thứ hai:
—“Này người kia, người có thấy vị Thiên sứ thứ hai hiện ra giữa loài người không?”
Người ấy trả lời:
—“Con không thấy, thưa ngài”
Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yama nói với người ấy:
—“Này người kia, ngươi có bao giờ thấy giữa loài người, một người đàn bà hay một người đàn ông, bệnh hoạn khổ não nguy kịch, rơi nằm trong tiểu tiện, đại tiện của mình, cần người khác nâng dậy, cần người khác dìu nằm xuống?”
Người ấy nói như sau:
—“Thưa Ngài, con có thấy”.
Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yama nói với người ấy như sau:
—“Này người kia, với ngươi là người có trí, và lớn tuổi, Ngươi có nghĩ rằng: “Ta rồi cũng bị bệnh, ta không vượt qua bệnh hoạn. Vậy ta hãy làm điều lành, về thân, về lời nói, về ý?”
Người ấy nói như sau:
—“Không, thưa Ngài, con không có làm. Thưa Ngài, con phóng dật.”
Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yama nói với người ấy:
—“Này người kia, chính vì do phóng dật, ngươi đã không làm các điều lành về thân, về lời nói, về ý. Thật vậy, này người kia … ngươi sẽ thọ lãnh quả dị thục của các nghiệp ấy.”
TTC 3Rồi vua Yama, này các Tỷ-kheo, sau khi chất vấn, cật vấn, nạn vấn người ấy về vị Thiên sứ thứ hai, liền chất vấn, cật vấn, nạn vấn người ấy về vị Thiên sứ thứ ba:
—“Này người kia, người có thấy vị Thiên sứ thứ ba hiện ra giữa loài người không?”
Người ấy trả lời:
—“Con không thấy, thưa Ngài.”
Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yama nói với người ấy:
—“Này người kia, ngươi có bao giờ thấy giữa loài người, một người đàn bà hay một người đàn ông, chết đã được một ngày, hay chết được hai ngày, hay chết được ba ngày, sưng phù lên, xanh xám lại và nát rữa ra?”
Người ấy nói như sau:
—“Thưa Ngài, con có thấy”.
Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yama nói với người ấy như sau:
—“Này người kia, với ngươi là người có trí, và lớn tuổi, Ngươi có nghĩ rằng: “Ta rồi cũng bị chết, ta không vượt qua sự chết. Vậy ta hãy làm điều lành, về thân, về lời nói, về ý?”
Người ấy nói như sau:
—“Không, thưa Ngài, con không có làm. Thưa Ngài, con phóng dật.”
Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yama nói với người ấy:
—“Này người kia, chính vì do phóng dật, ngươi đã không làm các điều lành về thân, về lời nói, về ý. Thật vậy, này người kia … ngươi sẽ thọ lãnh quả dị thục của các nghiệp ấy.”
TTC 4Rồi vua Yama, này các Tỷ-kheo, sau khi chất vấn, cật vấn, nạn vấn người ấy về vị Thiên sứ thứ ba, rồi giữ im lặng.
Rồi này các Tỷ-kheo, những người lính địa ngục bắt người ấy chịu hình phạt gọi là năm cọc. Họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào một bàn tay, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn tay thứ hai, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào một bàn chân, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn chân thứ hai, Họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào giữa ngực. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ. Này các Tỷ-kheo, rồi các người lính địa ngục bắt người ấy nằm xuống và lấy cái rìu chặt người ấy. Người ấy ở đây thọ lãnh … chưa được tiêu trừ. Này các Tỷ-kheo, rồi các người lính địa ngục dựng ngược người ấy, chân trên đầu dưới và lấy dao sắc chặt người ấy. Người ấy ở đây thọ lãnh … chưa được tiêu trừ. Này các Tỷ-kheo, các người lính địa ngục, cột người ấy vào một chiếc xe, kéo người ấy chạy tới, kéo người ấy chạy lui, trên đất được đốt cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây thọ lãnh … chưa được tiêu trừ. Rồi này các Tỷ-kheo, các người lính địa ngục đẩy người ấy lên, kéo người ấy xuống trên một sườn núi đầy than hừng, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây thọ lãnh … chưa được tiêu trừ. Rồi này các Tỷ-kheo, các người lính địa ngục nắm ngược người ấy, chân phía trên, đầu phía dưới và quăng người ấy vào một vạc dầu bằng đồng nung đỏ, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây, bị nấu với bọt nước sôi sùng sục, khi thì trôi nổi lên, khi thì chìm xuống đáy, khi thì trôi dạt ngang. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy được tiêu trừ. Rồi này các Tỷ-kheo, những người lính địa ngục quăng người ấy vào Ðại địa ngục. Này các Tỷ-kheo, Ðại địa ngục ấy:
Có bốn góc, bốn cửa
Chia thành phần bằng nhau,
Xung quanh có tường sắt,
Mái sắt lợp lên trên
Nền địa ngục bằng sắt
Nung đỏ cháy đỏ rực
Ðứng thẳng luôn có mặt
Rộng một trăm do tuần
Một thời xưa lắm, này các Tỷ-kheo, vua Yama suy nghĩ như sau: “Những ai làm ác nghiệp ở đời, phải thọ lãnh những hình phạt sai khác như vậy. Mong rằng ta được làm người, và Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, ta có thể hầu hạ Thế Tôn, Thế Tôn thuyết pháp cho ta, và ta có thể thông hiểu pháp do Thế Tôn thuyết giảng”.
Này các Tỷ-kheo, điều ta đang nói, không phải ta nghe từ một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác; những điều ta đang nói chỉ được ta biết mà thôi, chỉ được ta thấy mà thôi, chỉ được ta hiểu mà thôi.
TTC 6
Dầu Thiên sứ báo động,
Thanh niên vẫn phóng dật
Họ ưu buồn lâu dài,
Sanh làm người hạ liệt.
Ở đây, bậc Chân nhân,
Ðược Thiên sứ báo động,
Không bao giờ phóng dật
Trong diệu pháp bậc thánh
Thấy sợ trong chấp thủ
Trong hiện hữu sanh tử
Ðược giải thoát không thủ
Sanh tử được đoạn trừ
Ðược yên ổn không lạc
Ngay hiện tại tịch tịnh
Mọi oán hận sợ hãi
Các vị ấy vượt qua
Mọi đau đớn khổ sầu
Thảy đều được siêu thoát.
“Tīṇimāni, bhikkhave, devadūtāni.
Katamāni tīṇi?
Idha, bhikkhave, ekacco kāyena duccaritaṁ carati, vācāya duccaritaṁ carati, manasā duccaritaṁ carati.
So kāyena duccaritaṁ caritvā, vācāya duccaritaṁ caritvā, manasā duccaritaṁ caritvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati.
Tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā nānābāhāsu gahetvā yamassa rañño dassenti:
‘ayaṁ, deva, puriso amatteyyo apetteyyo asāmañño abrahmañño, na kule jeṭṭhāpacāyī.
Imassa devo daṇḍaṁ paṇetū’ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā paṭhamaṁ devadūtaṁ samanuyuñjati samanugāhati samanubhāsati:
‘ambho, purisa, na tvaṁ addasa manussesu paṭhamaṁ devadūtaṁ pātubhūtan’ti?
So evamāha:
‘nāddasaṁ, bhante’ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha:
‘ambho purisa, na tvaṁ addasa manussesu itthiṁ vā purisaṁ vā āsītikaṁ vā nāvutikaṁ vā vassasatikaṁ vā jātiyā jiṇṇaṁ gopānasivaṅkaṁ bhoggaṁ daṇḍaparāyaṇaṁ pavedhamānaṁ gacchantaṁ āturaṁ gatayobbanaṁ khaṇḍadantaṁ palitakesaṁ vilūnaṁ khallitasiraṁ valitaṁ tilakāhatagattan’ti?
So evamāha:
‘addasaṁ, bhante’ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha:
‘ambho, purisa, tassa te viññussa sato mahallakassa na etadahosi—
ahampi khomhi jarādhammo jaraṁ anatīto, handāhaṁ kalyāṇaṁ karomi, kāyena vācāya manasā’ti?
So evamāha:
‘nāsakkhissaṁ, bhante. Pamādassaṁ, bhante’ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha:
‘ambho, purisa, pamādatāya na kalyāṇamakāsi kāyena vācāya manasā.
Taggha tvaṁ, ambho purisa, tathā karissanti yathā taṁ pamattaṁ.
Taṁ kho pana te etaṁ pāpakammaṁ neva mātarā kataṁ, na pitarā kataṁ, na bhātarā kataṁ, na bhaginiyā kataṁ, na mittāmaccehi kataṁ, na ñātisālohitehi kataṁ, na devatāhi kataṁ, na samaṇabrāhmaṇehi kataṁ;
atha kho tayāvetaṁ pāpakammaṁ kataṁ, tvaññevetassa vipākaṁ paṭisaṁvedissasī’ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā paṭhamaṁ devadūtaṁ samanuyuñjitvā samanugāhitvā samanubhāsitvā, dutiyaṁ devadūtaṁ samanuyuñjati samanugāhati samanubhāsati:
‘ambho purisa, na tvaṁ addasa manussesu dutiyaṁ devadūtaṁ pātubhūtan’ti?
So evamāha:
‘nāddasaṁ, bhante’ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha:
‘ambho purisa, na tvaṁ addasa manussesu itthiṁ vā purisaṁ vā ābādhikaṁ dukkhitaṁ bāḷhagilānaṁ, sake muttakarīse palipannaṁ semānaṁ, aññehi vuṭṭhāpiyamānaṁ, aññehi saṁvesiyamānan’ti?
So evamāha:
‘addasaṁ, bhante’ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha:
‘ambho purisa, tassa te viññussa sato mahallakassa na etadahosi:
“ahampi khomhi byādhidhammo byādhiṁ anatīto, handāhaṁ kalyāṇaṁ karomi kāyena vācāya manasā”’ti?
So evamāha:
‘nāsakkhissaṁ, bhante. Pamādassaṁ, bhante’ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha:
‘ambho purisa, pamādatāya na kalyāṇamakāsi kāyena vācāya manasā.
Taggha tvaṁ, ambho purisa, tathā karissanti yathā taṁ pamattaṁ.
Taṁ kho pana te etaṁ pāpakammaṁ neva mātarā kataṁ, na pitarā kataṁ, na bhātarā kataṁ, na bhaginiyā kataṁ, na mittāmaccehi kataṁ, na ñātisālohitehi kataṁ, na devatāhi kataṁ, na samaṇabrāhmaṇehi kataṁ;
atha kho tayāvetaṁ pāpakammaṁ kataṁ. Tvaññevetassa vipākaṁ paṭisaṁvedissasī’ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā dutiyaṁ devadūtaṁ samanuyuñjitvā samanugāhitvā samanubhāsitvā, tatiyaṁ devadūtaṁ samanuyuñjati samanugāhati samanubhāsati:
‘ambho purisa, na tvaṁ addasa manussesu tatiyaṁ devadūtaṁ pātubhūtan’ti?
So evamāha:
‘nāddasaṁ, bhante’ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha:
‘ambho purisa, na tvaṁ addasa manussesu itthiṁ vā purisaṁ vā ekāhamataṁ vā dvīhamataṁ vā tīhamataṁ vā uddhumātakaṁ vinīlakaṁ vipubbakajātan’ti?
So evamāha:
‘addasaṁ, bhante’ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha:
‘ambho purisa, tassa te viññussa sato mahallakassa na etadahosi—
ahampi khomhi maraṇadhammo maraṇaṁ anatīto, handāhaṁ kalyāṇaṁ karomi kāyena vācāya manasā’ti?
So evamāha:
‘nāsakkhissaṁ, bhante. Pamādassaṁ, bhante’ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha:
‘ambho purisa, pamādatāya na kalyāṇamakāsi kāyena vācāya manasā.
Taggha tvaṁ, ambho purisa, tathā karissanti yathā taṁ pamattaṁ.
Taṁ kho pana te etaṁ pāpakammaṁ neva mātarā kataṁ, na pitarā kataṁ, na bhātarā kataṁ, na bhaginiyā kataṁ, na mittāmaccehi kataṁ, na ñātisālohitehi kataṁ, na devatāhi kataṁ, na samaṇabrāhmaṇehi kataṁ;
atha kho tayāvetaṁ pāpakammaṁ kataṁ. Tvaññevetassa vipākaṁ paṭisaṁvedissasī’”ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā tatiyaṁ devadūtaṁ samanuyuñjitvā samanugāhitvā samanubhāsitvā tuṇhī hoti.
Tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā pañcavidhabandhanaṁ nāma kāraṇaṁ karonti.
Tattaṁ ayokhilaṁ hatthe gamenti. Tattaṁ ayokhilaṁ dutiyasmiṁ hatthe gamenti. Tattaṁ ayokhilaṁ pāde gamenti. Tattaṁ ayokhilaṁ dutiyasmiṁ pāde gamenti. Tattaṁ ayokhilaṁ majjhe urasmiṁ gamenti.
So tattha dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vediyati, na ca tāva kālaṁ karoti yāva na taṁ pāpakammaṁ byantīhoti.
Tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā saṁvesetvā kudhārīhi tacchanti.
So tattha dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vediyati, na ca tāva kālaṁ karoti yāva na taṁ pāpakammaṁ byantīhoti.
Tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā uddhampādaṁ adhosiraṁ gahetvā vāsīhi tacchanti …pe…
tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā rathe yojetvā ādittāya bhūmiyā sampajjalitāya sajotibhūtāya sārentipi paccāsārentipi …pe…
tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā mahantaṁ aṅgārapabbataṁ ādittaṁ sampajjalitaṁ sajotibhūtaṁ āropentipi oropentipi …pe…
tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā uddhampādaṁ adhosiraṁ gahetvā tattāya lohakumbhiyā pakkhipanti, ādittāya sampajjalitāya sajotibhūtāya. (…)
So tattha pheṇuddehakaṁ paccamāno sakimpi uddhaṁ gacchati, sakimpi adho gacchati, sakimpi tiriyaṁ gacchati.
So tattha dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vediyati, na ca tāva kālaṁ karoti yāva na taṁ pāpakammaṁ byantīhoti.
Tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā mahāniraye pakkhipanti.
So kho pana, bhikkhave, mahānirayo—
Catukkaṇṇo catudvāro,
vibhatto bhāgaso mito;
Ayopākārapariyanto,
ayasā paṭikujjito.
Tassa ayomayā bhūmi,
Jalitā tejasā yutā;
Samantā yojanasataṁ,
Pharitvā tiṭṭhati sabbadāti.
Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, yamassa rañño etadahosi:
‘ye kira, bho, loke pāpakāni kammāni karonti te evarūpā vividhā kammakāraṇā karīyanti.
Aho vatāhaṁ manussattaṁ labheyyaṁ, tathāgato ca loke uppajjeyya arahaṁ sammāsambuddho, tañcāhaṁ bhagavantaṁ payirupāseyyaṁ.
So ca me bhagavā dhammaṁ deseyya, tassa cāhaṁ bhagavato dhammaṁ ājāneyyan’ti.
Taṁ kho panāhaṁ, bhikkhave, na aññassa samaṇassa vā brāhmaṇassa vā sutvā evaṁ vadāmi, api ca kho, bhikkhave, yadeva me sāmaṁ ñātaṁ sāmaṁ diṭṭhaṁ sāmaṁ viditaṁ tadevāhaṁ vadāmīti.
Coditā devadūtehi,
ye pamajjanti māṇavā;
Te dīgharattaṁ socanti,
hīnakāyūpagā narā.
Ye ca kho devadūtehi,
santo sappurisā idha;
Coditā nappamajjanti,
ariyadhamme kudācanaṁ.
Upādāne bhayaṁ disvā,
jātimaraṇasambhave;
Anupādā vimuccanti,
jātimaraṇasaṅkhaye.
Te appamattā sukhino,
diṭṭhadhammābhinibbutā;
Sabbaverabhayātītā,
sabbadukkhaṁ upaccagun”ti.
Chaṭṭhaṁ.
SC 1“Bhikkhus, there are these three divine messengers. What three?
SC 2“Here, bhikkhus, someone engages in misconduct by body, speech, and mind. In consequence, with the breakup of the body, after death, he is reborn in the plane of misery, in a bad destination, in the lower world, in hell. There the wardens of hell grab him by both arms and show him to King Yama, saying: ‘This person, your majesty, did not behave properly toward his mother and father; he did not behave properly toward ascetics and brahmins; and he did not honor the elders of the family. May your majesty inflict due punishment on him!’
SC 3(1) “Then King Yama questions, interrogates, and cross-examines him about the first divine messenger: ‘Good man, didn’t you see the first divine messenger that appeared among human beings?’ And he replies: ‘No, lord, I didn’t see him.’
SC 4“Then King Yama says to him: ‘But, good man, didn’t you ever see among human beings a man or a woman, eighty, ninety or a hundred years of age, frail, bent like a roof bracket, crooked, wobbling as they go along leaning on a stick, ailing, youth gone, with broken teeth, with grey and scanty hair or bald, with wrinkled skin and blotched limbs?’ And the man replies: ‘Yes, lord, I have seen this.’
SC 5“Then King Yama says to him: ‘Good man, didn’t it occur to you, an intelligent and mature person: “I too am subject to old age, I am not exempt from old age. Let me now do good by body, speech, and mind”?’ an.i.139 —‘No, lord, I could not. I was heedless.’
SC 6“Then King Yama says: ‘Through heedlessness, good man, you failed to do good by body, speech, or mind. Surely, they will treat you in a way that fits your heedlessness. That bad kamma of yours was not done by your mother or father, nor by your brother or sister, nor by your friends and companions, nor by your relatives and family members, nor by the deities, nor by ascetics and brahmins. Rather, you were the one who did that bad kamma, and you yourself will have to experience its result.’
SC 7(2) “When King Yama has questioned, interrogated, and cross-examined him about the first divine messenger, he again questions, interrogates, and cross-examines him about the second divine messenger: ‘Good man, didn’t you see the second divine messenger that appeared among human beings?’ And he replies: ‘No, lord, I didn’t see him.’
SC 8“Then King Yama says to him: ‘But, good man, didn’t you ever see among human beings a man or a woman, sick, afflicted, gravely ill, lying in his own urine and excrement, having to be lifted up by some and put down by others?’ And he replies: ‘Yes, lord, I have seen this.’
SC 9“Then King Yama says to him: ‘Good man, didn’t it occur to you, an intelligent and mature person: “I too am subject to illness, I am not exempt from illness. Let me now do good by body, speech, and mind”?’—‘No, lord, I could not. I was heedless.’
SC 10“Then King Yama says: an.i.140 ‘Through heedlessness, good man, you failed to do good by body, speech, or mind. Surely, they will treat you in a way that fits your heedlessness. That bad kamma of yours was not done by your mother or father, nor by your brother or sister, nor by your friends and companions, nor by your relatives and family members, nor by the deities, nor by ascetics and brahmins. Rather, you were the one who did that bad kamma, and you yourself will have to experience its result.’
SC 11(3) “When King Yama has questioned, interrogated, and cross-examined him about the second divine messenger, he again questions, interrogates, and cross-examines him about the third divine messenger: ‘Good man, didn’t you see the third divine messenger that appeared among human beings?’ And he replies: ‘No, lord, I didn’t see him.’
SC 12“Then King Yama says to him: ‘But, good man, didn’t you ever see among human beings a man or a woman, one, two, or three days dead, the corpse bloated, livid, and festering?’ And he replies: ‘Yes, lord, I have seen this.’
SC 13“Then King Yama says to him: ‘Good man, didn’t it occur to you, an intelligent and mature person: “I too am subject to death, I am not exempt from death. Let me now do good by body, speech, and mind”?’—‘No, lord, I could not. I was heedless.’
SC 14“Then King Yama says: ‘Through heedlessness, good man, you failed to do good by body, speech, or mind. Surely, they will treat you in a way that fits your heedlessness. That bad kamma of yours was not done by your mother or father, nor by your brother or sister, nor by your friends and companions, nor by your relatives and family members, nor by the deities, nor by ascetics and brahmins. Rather, you were the one who did that bad kamma, and you yourself will have to experience its result.’
SC 15“When, bhikkhus, King Yama has questioned, interrogated, and cross-examined him about the third divine messenger, he falls silent. an.i.141 Then the wardens of hell torture him with the fivefold transfixing. They drive a red-hot iron stake through one hand and another red-hot iron stake through the other hand; they drive a red-hot iron stake through one foot and another red-hot iron stake through the other foot; they drive a red-hot iron stake through the middle of his chest. There he feels painful, racking, piercing feelings, yet he does not die so long as that bad kamma is not exhausted.
SC 16“Next the wardens of hell throw him down and pare him with axes. There he feels painful, racking, piercing feelings, yet he does not die so long as that bad kamma is not exhausted. Next the wardens of hell turn him upside down and pare him with adzes…. Next the wardens of hell harness him to a chariot and drive him back and forth across ground that is burning, blazing, and glowing…. Next the wardens of hell make him climb up and down a great mound of coals that are burning, blazing, and glowing…. Next the wardens of hell turn him upside down and plunge him into a red-hot copper cauldron that is burning, blazing, and glowing. He is cooked there in a swirl of foam. And as he is being cooked there in a swirl of foam, he is swept now up, now down, and now across. There he feels painful, racking, piercing feelings, yet he does not die so long as that bad kamma is not exhausted.
SC 17“Next the wardens of hell throw him into the great hell. Now, bhikkhus, as to that great hell:
SC 18“It has four corners and four doors
and is divided into separate compartments;
it is surrounded by iron ramparts
and shut in with an iron roof. an.i.142
SC 19“Its floor as well is made of iron
and heated till it glows with fire.
The range is a full hundred yojanas
which it ever covers pervasively.
SC 20“Once, bhikkhus, in the past King Yama thought: ‘Those in the world who do evil deeds are punished with such diverse tortures. Oh, that I might attain the human state! That a Tathāgata, Arahant, Perfectly Enlightened One might arise in the world! That I might attend upon that Blessed One! That the Blessed One might teach me the Dhamma, and that I might come to understand his Dhamma!’
SC 21“Bhikkhus, I am not repeating something that I heard from another ascetic or brahmin, but rather I am speaking about a matter that I have actually known, seen, and understood myself.”
SC 22Though warned by the divine messengers,
those people who remain heedless
sorrow for a long time,
having fared on to a lower realm.
SC 23But those good people here who,
when warned by the divine messengers,
never become heedless
in regard to the noble Dhamma;
who, having seen the peril in clinging
as the origin of birth and death,
are liberated by non-clinging
in the extinction of birth and death:
those happy ones have attained security;
they have reached nibbāna in this very life.
Having overcome all enmity and peril,
they have transcended all suffering.
TTC 1—Có ba Thiên sứ này, này các Tỷ-kheo, Thế nào là ba?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Sau khi thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Rồi này các Tỳ kheo, những người lính địa ngục với hai cánh tay bắt người ấy dẫn đến Vua Yama (Diêm vương) và thưa:
—“Thưa Ðại vương, người này không kính mẹ, không kính cha, không kính Sa-môn, không kính Bà-la-môn, không tôn kính các bậc lớn tuổi trong gia đình, Ðại vương hãy hình phạt nó”
Rồi vua Yama chất vấn người ấy:, cật vấn, nạn vấn người ấy về Thiên sứ thứ nhất:
—“Này người kia, người có thấy vị Thiên sứ thứ nhất hiện ra giữa loài người không?”
Người ấy trả lời:
—“Con không thấy, thưa ngài”
Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yama nói với người ấy:
—“Này người kia, ngươi có bao giờ thấy giữa loài người, một người đàn bà hay đàn ông 80 tuổi, hay 90 tuổi, hay 100 tuổi, già yếu, cong như nóc nhà, lưng còm, chống gậy, vừa đi vừa run rẩy, bệnh hoạn, tuổi trẻ đã tận, răng rụng tóc bạc, hư rụng, sói đầu, da nhăn, đầu rung, tay chân da mồi khô đét?”
Người ấy nói như sau:
—“Thưa Ngài, con có thấy”.
Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yama nói với người ấy như sau:
—“Này người kia, với ngươi là người có trí, và lớn tuổi, Ngươi có nghĩ rằng: “Ta rồi cũng bị già, ta không vượt qua tuổi già. Vậy ta hãy làm điều lành, về thân, về lời nói, về ý?”
Người ấy nói như sau:
—“Không, thưa Ngài, con không có làm. Thưa Ngài, con phóng dật.”
Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yama nói với người ấy:
—“Này người kia, chính vì do phóng dật, ngươi đã không làm các điều lành về thân, về lời nói, về ý. Thật vậy, này người kia, chúng sẽ làm cho ngươi, đúng theo sự phóng dật của ngươi. Ác nghiệp ấy của ngươi, không phải mẹ làm, không phải cha làm, không phải anh làm, không phải chị làm, không phải bạn bè thân hữu làm, không phải bà con huyết thống làm, không phải chư Thiên làm, không phải Sa-môn làm, Bà-la-môn làm. Ác nghiệp ấy chính do ngươi làm và Ngươi sẽ thọ lãnh quả dị thục của ác nghiệp ấy.
TTC 2Rồi vua Yama, này các Tỷ-kheo, sau khi chất vấn, cật vấn, nạn vấn người ấy về vị Thiên sứ thứ nhất, liền chất vấn, cật vấn, nạn vấn người ấy về vị Thiên sứ thứ hai:
—“Này người kia, người có thấy vị Thiên sứ thứ hai hiện ra giữa loài người không?”
Người ấy trả lời:
—“Con không thấy, thưa ngài”
Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yama nói với người ấy:
—“Này người kia, ngươi có bao giờ thấy giữa loài người, một người đàn bà hay một người đàn ông, bệnh hoạn khổ não nguy kịch, rơi nằm trong tiểu tiện, đại tiện của mình, cần người khác nâng dậy, cần người khác dìu nằm xuống?”
Người ấy nói như sau:
—“Thưa Ngài, con có thấy”.
Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yama nói với người ấy như sau:
—“Này người kia, với ngươi là người có trí, và lớn tuổi, Ngươi có nghĩ rằng: “Ta rồi cũng bị bệnh, ta không vượt qua bệnh hoạn. Vậy ta hãy làm điều lành, về thân, về lời nói, về ý?”
Người ấy nói như sau:
—“Không, thưa Ngài, con không có làm. Thưa Ngài, con phóng dật.”
Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yama nói với người ấy:
—“Này người kia, chính vì do phóng dật, ngươi đã không làm các điều lành về thân, về lời nói, về ý. Thật vậy, này người kia … ngươi sẽ thọ lãnh quả dị thục của các nghiệp ấy.”
TTC 3Rồi vua Yama, này các Tỷ-kheo, sau khi chất vấn, cật vấn, nạn vấn người ấy về vị Thiên sứ thứ hai, liền chất vấn, cật vấn, nạn vấn người ấy về vị Thiên sứ thứ ba:
—“Này người kia, người có thấy vị Thiên sứ thứ ba hiện ra giữa loài người không?”
Người ấy trả lời:
—“Con không thấy, thưa Ngài.”
Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yama nói với người ấy:
—“Này người kia, ngươi có bao giờ thấy giữa loài người, một người đàn bà hay một người đàn ông, chết đã được một ngày, hay chết được hai ngày, hay chết được ba ngày, sưng phù lên, xanh xám lại và nát rữa ra?”
Người ấy nói như sau:
—“Thưa Ngài, con có thấy”.
Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yama nói với người ấy như sau:
—“Này người kia, với ngươi là người có trí, và lớn tuổi, Ngươi có nghĩ rằng: “Ta rồi cũng bị chết, ta không vượt qua sự chết. Vậy ta hãy làm điều lành, về thân, về lời nói, về ý?”
Người ấy nói như sau:
—“Không, thưa Ngài, con không có làm. Thưa Ngài, con phóng dật.”
Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yama nói với người ấy:
—“Này người kia, chính vì do phóng dật, ngươi đã không làm các điều lành về thân, về lời nói, về ý. Thật vậy, này người kia … ngươi sẽ thọ lãnh quả dị thục của các nghiệp ấy.”
TTC 4Rồi vua Yama, này các Tỷ-kheo, sau khi chất vấn, cật vấn, nạn vấn người ấy về vị Thiên sứ thứ ba, rồi giữ im lặng.
Rồi này các Tỷ-kheo, những người lính địa ngục bắt người ấy chịu hình phạt gọi là năm cọc. Họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào một bàn tay, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn tay thứ hai, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào một bàn chân, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn chân thứ hai, Họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào giữa ngực. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ. Này các Tỷ-kheo, rồi các người lính địa ngục bắt người ấy nằm xuống và lấy cái rìu chặt người ấy. Người ấy ở đây thọ lãnh … chưa được tiêu trừ. Này các Tỷ-kheo, rồi các người lính địa ngục dựng ngược người ấy, chân trên đầu dưới và lấy dao sắc chặt người ấy. Người ấy ở đây thọ lãnh … chưa được tiêu trừ. Này các Tỷ-kheo, các người lính địa ngục, cột người ấy vào một chiếc xe, kéo người ấy chạy tới, kéo người ấy chạy lui, trên đất được đốt cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây thọ lãnh … chưa được tiêu trừ. Rồi này các Tỷ-kheo, các người lính địa ngục đẩy người ấy lên, kéo người ấy xuống trên một sườn núi đầy than hừng, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây thọ lãnh … chưa được tiêu trừ. Rồi này các Tỷ-kheo, các người lính địa ngục nắm ngược người ấy, chân phía trên, đầu phía dưới và quăng người ấy vào một vạc dầu bằng đồng nung đỏ, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây, bị nấu với bọt nước sôi sùng sục, khi thì trôi nổi lên, khi thì chìm xuống đáy, khi thì trôi dạt ngang. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy được tiêu trừ. Rồi này các Tỷ-kheo, những người lính địa ngục quăng người ấy vào Ðại địa ngục. Này các Tỷ-kheo, Ðại địa ngục ấy:
Có bốn góc, bốn cửa
Chia thành phần bằng nhau,
Xung quanh có tường sắt,
Mái sắt lợp lên trên
Nền địa ngục bằng sắt
Nung đỏ cháy đỏ rực
Ðứng thẳng luôn có mặt
Rộng một trăm do tuần
Một thời xưa lắm, này các Tỷ-kheo, vua Yama suy nghĩ như sau: “Những ai làm ác nghiệp ở đời, phải thọ lãnh những hình phạt sai khác như vậy. Mong rằng ta được làm người, và Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, ta có thể hầu hạ Thế Tôn, Thế Tôn thuyết pháp cho ta, và ta có thể thông hiểu pháp do Thế Tôn thuyết giảng”.
Này các Tỷ-kheo, điều ta đang nói, không phải ta nghe từ một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác; những điều ta đang nói chỉ được ta biết mà thôi, chỉ được ta thấy mà thôi, chỉ được ta hiểu mà thôi.
TTC 6
Dầu Thiên sứ báo động,
Thanh niên vẫn phóng dật
Họ ưu buồn lâu dài,
Sanh làm người hạ liệt.
Ở đây, bậc Chân nhân,
Ðược Thiên sứ báo động,
Không bao giờ phóng dật
Trong diệu pháp bậc thánh
Thấy sợ trong chấp thủ
Trong hiện hữu sanh tử
Ðược giải thoát không thủ
Sanh tử được đoạn trừ
Ðược yên ổn không lạc
Ngay hiện tại tịch tịnh
Mọi oán hận sợ hãi
Các vị ấy vượt qua
Mọi đau đớn khổ sầu
Thảy đều được siêu thoát.
“Tīṇimāni, bhikkhave, devadūtāni.
Katamāni tīṇi?
Idha, bhikkhave, ekacco kāyena duccaritaṁ carati, vācāya duccaritaṁ carati, manasā duccaritaṁ carati.
So kāyena duccaritaṁ caritvā, vācāya duccaritaṁ caritvā, manasā duccaritaṁ caritvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati.
Tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā nānābāhāsu gahetvā yamassa rañño dassenti:
‘ayaṁ, deva, puriso amatteyyo apetteyyo asāmañño abrahmañño, na kule jeṭṭhāpacāyī.
Imassa devo daṇḍaṁ paṇetū’ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā paṭhamaṁ devadūtaṁ samanuyuñjati samanugāhati samanubhāsati:
‘ambho, purisa, na tvaṁ addasa manussesu paṭhamaṁ devadūtaṁ pātubhūtan’ti?
So evamāha:
‘nāddasaṁ, bhante’ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha:
‘ambho purisa, na tvaṁ addasa manussesu itthiṁ vā purisaṁ vā āsītikaṁ vā nāvutikaṁ vā vassasatikaṁ vā jātiyā jiṇṇaṁ gopānasivaṅkaṁ bhoggaṁ daṇḍaparāyaṇaṁ pavedhamānaṁ gacchantaṁ āturaṁ gatayobbanaṁ khaṇḍadantaṁ palitakesaṁ vilūnaṁ khallitasiraṁ valitaṁ tilakāhatagattan’ti?
So evamāha:
‘addasaṁ, bhante’ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha:
‘ambho, purisa, tassa te viññussa sato mahallakassa na etadahosi—
ahampi khomhi jarādhammo jaraṁ anatīto, handāhaṁ kalyāṇaṁ karomi, kāyena vācāya manasā’ti?
So evamāha:
‘nāsakkhissaṁ, bhante. Pamādassaṁ, bhante’ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha:
‘ambho, purisa, pamādatāya na kalyāṇamakāsi kāyena vācāya manasā.
Taggha tvaṁ, ambho purisa, tathā karissanti yathā taṁ pamattaṁ.
Taṁ kho pana te etaṁ pāpakammaṁ neva mātarā kataṁ, na pitarā kataṁ, na bhātarā kataṁ, na bhaginiyā kataṁ, na mittāmaccehi kataṁ, na ñātisālohitehi kataṁ, na devatāhi kataṁ, na samaṇabrāhmaṇehi kataṁ;
atha kho tayāvetaṁ pāpakammaṁ kataṁ, tvaññevetassa vipākaṁ paṭisaṁvedissasī’ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā paṭhamaṁ devadūtaṁ samanuyuñjitvā samanugāhitvā samanubhāsitvā, dutiyaṁ devadūtaṁ samanuyuñjati samanugāhati samanubhāsati:
‘ambho purisa, na tvaṁ addasa manussesu dutiyaṁ devadūtaṁ pātubhūtan’ti?
So evamāha:
‘nāddasaṁ, bhante’ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha:
‘ambho purisa, na tvaṁ addasa manussesu itthiṁ vā purisaṁ vā ābādhikaṁ dukkhitaṁ bāḷhagilānaṁ, sake muttakarīse palipannaṁ semānaṁ, aññehi vuṭṭhāpiyamānaṁ, aññehi saṁvesiyamānan’ti?
So evamāha:
‘addasaṁ, bhante’ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha:
‘ambho purisa, tassa te viññussa sato mahallakassa na etadahosi:
“ahampi khomhi byādhidhammo byādhiṁ anatīto, handāhaṁ kalyāṇaṁ karomi kāyena vācāya manasā”’ti?
So evamāha:
‘nāsakkhissaṁ, bhante. Pamādassaṁ, bhante’ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha:
‘ambho purisa, pamādatāya na kalyāṇamakāsi kāyena vācāya manasā.
Taggha tvaṁ, ambho purisa, tathā karissanti yathā taṁ pamattaṁ.
Taṁ kho pana te etaṁ pāpakammaṁ neva mātarā kataṁ, na pitarā kataṁ, na bhātarā kataṁ, na bhaginiyā kataṁ, na mittāmaccehi kataṁ, na ñātisālohitehi kataṁ, na devatāhi kataṁ, na samaṇabrāhmaṇehi kataṁ;
atha kho tayāvetaṁ pāpakammaṁ kataṁ. Tvaññevetassa vipākaṁ paṭisaṁvedissasī’ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā dutiyaṁ devadūtaṁ samanuyuñjitvā samanugāhitvā samanubhāsitvā, tatiyaṁ devadūtaṁ samanuyuñjati samanugāhati samanubhāsati:
‘ambho purisa, na tvaṁ addasa manussesu tatiyaṁ devadūtaṁ pātubhūtan’ti?
So evamāha:
‘nāddasaṁ, bhante’ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha:
‘ambho purisa, na tvaṁ addasa manussesu itthiṁ vā purisaṁ vā ekāhamataṁ vā dvīhamataṁ vā tīhamataṁ vā uddhumātakaṁ vinīlakaṁ vipubbakajātan’ti?
So evamāha:
‘addasaṁ, bhante’ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha:
‘ambho purisa, tassa te viññussa sato mahallakassa na etadahosi—
ahampi khomhi maraṇadhammo maraṇaṁ anatīto, handāhaṁ kalyāṇaṁ karomi kāyena vācāya manasā’ti?
So evamāha:
‘nāsakkhissaṁ, bhante. Pamādassaṁ, bhante’ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha:
‘ambho purisa, pamādatāya na kalyāṇamakāsi kāyena vācāya manasā.
Taggha tvaṁ, ambho purisa, tathā karissanti yathā taṁ pamattaṁ.
Taṁ kho pana te etaṁ pāpakammaṁ neva mātarā kataṁ, na pitarā kataṁ, na bhātarā kataṁ, na bhaginiyā kataṁ, na mittāmaccehi kataṁ, na ñātisālohitehi kataṁ, na devatāhi kataṁ, na samaṇabrāhmaṇehi kataṁ;
atha kho tayāvetaṁ pāpakammaṁ kataṁ. Tvaññevetassa vipākaṁ paṭisaṁvedissasī’”ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā tatiyaṁ devadūtaṁ samanuyuñjitvā samanugāhitvā samanubhāsitvā tuṇhī hoti.
Tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā pañcavidhabandhanaṁ nāma kāraṇaṁ karonti.
Tattaṁ ayokhilaṁ hatthe gamenti. Tattaṁ ayokhilaṁ dutiyasmiṁ hatthe gamenti. Tattaṁ ayokhilaṁ pāde gamenti. Tattaṁ ayokhilaṁ dutiyasmiṁ pāde gamenti. Tattaṁ ayokhilaṁ majjhe urasmiṁ gamenti.
So tattha dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vediyati, na ca tāva kālaṁ karoti yāva na taṁ pāpakammaṁ byantīhoti.
Tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā saṁvesetvā kudhārīhi tacchanti.
So tattha dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vediyati, na ca tāva kālaṁ karoti yāva na taṁ pāpakammaṁ byantīhoti.
Tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā uddhampādaṁ adhosiraṁ gahetvā vāsīhi tacchanti …pe…
tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā rathe yojetvā ādittāya bhūmiyā sampajjalitāya sajotibhūtāya sārentipi paccāsārentipi …pe…
tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā mahantaṁ aṅgārapabbataṁ ādittaṁ sampajjalitaṁ sajotibhūtaṁ āropentipi oropentipi …pe…
tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā uddhampādaṁ adhosiraṁ gahetvā tattāya lohakumbhiyā pakkhipanti, ādittāya sampajjalitāya sajotibhūtāya. (…)
So tattha pheṇuddehakaṁ paccamāno sakimpi uddhaṁ gacchati, sakimpi adho gacchati, sakimpi tiriyaṁ gacchati.
So tattha dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vediyati, na ca tāva kālaṁ karoti yāva na taṁ pāpakammaṁ byantīhoti.
Tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā mahāniraye pakkhipanti.
So kho pana, bhikkhave, mahānirayo—
Catukkaṇṇo catudvāro,
vibhatto bhāgaso mito;
Ayopākārapariyanto,
ayasā paṭikujjito.
Tassa ayomayā bhūmi,
Jalitā tejasā yutā;
Samantā yojanasataṁ,
Pharitvā tiṭṭhati sabbadāti.
Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, yamassa rañño etadahosi:
‘ye kira, bho, loke pāpakāni kammāni karonti te evarūpā vividhā kammakāraṇā karīyanti.
Aho vatāhaṁ manussattaṁ labheyyaṁ, tathāgato ca loke uppajjeyya arahaṁ sammāsambuddho, tañcāhaṁ bhagavantaṁ payirupāseyyaṁ.
So ca me bhagavā dhammaṁ deseyya, tassa cāhaṁ bhagavato dhammaṁ ājāneyyan’ti.
Taṁ kho panāhaṁ, bhikkhave, na aññassa samaṇassa vā brāhmaṇassa vā sutvā evaṁ vadāmi, api ca kho, bhikkhave, yadeva me sāmaṁ ñātaṁ sāmaṁ diṭṭhaṁ sāmaṁ viditaṁ tadevāhaṁ vadāmīti.
Coditā devadūtehi,
ye pamajjanti māṇavā;
Te dīgharattaṁ socanti,
hīnakāyūpagā narā.
Ye ca kho devadūtehi,
santo sappurisā idha;
Coditā nappamajjanti,
ariyadhamme kudācanaṁ.
Upādāne bhayaṁ disvā,
jātimaraṇasambhave;
Anupādā vimuccanti,
jātimaraṇasaṅkhaye.
Te appamattā sukhino,
diṭṭhadhammābhinibbutā;
Sabbaverabhayātītā,
sabbadukkhaṁ upaccagun”ti.
Chaṭṭhaṁ.