TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý có thân diệt, do vị ấy tác ý có thân diệt, tâm không phấn chấn, không có tịnh tín, không an trú, không giải thoát đối với có thân diệt. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy không có chờ đợi được có thân diệt. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người lấy tay có dính nhựa cầm một cành cây, tay của vị ấy sẽ dính vào, nắm lấy, cột vào cành cây ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý có thân diệt, do vị ấy tác ý có thân diệt, tâm không phấn chấn, không có tịnh tín, không an trú, không giải thoát đối với có thân diệt. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy không có chờ đợi được có thân diệt.
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chứng đạt và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý có thân diệt, do vị ấy tác ý có thân diệt, tâm vị ấy phấn chấn, tịnh tín, an trú và giải thoát đối với có thân diệt. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy được chờ đợi là có được có thân diệt. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người lấy tay sạch cầm một cành cây, tay của vị ấy không dính vào, không nắm lấy, không cột vào cành cây ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý có thân diệt, do vị ấy tác ý có thân diệt, tâm vị ấy phấn chấn, tịnh tín, an trú và giải thoát đối với có thân diệt. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy được chờ đợi là có được có thân diệt.
TTC 3Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý phá hoại vô minh, không có phấn chấn, không có tịnh tín, không có an trú, không có giải thoát đối với phá hoại vô minh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy không có chờ đợi được vô minh phá hoại. Ví như, này các Tỷ-kheo, một hồ nước đã được nhiều năm, có người đến bịt tất cả các lỗ nước chảy vào, mở ra tất cả các lỗ nước chảy ra, và trời lại không mưa đều đặn. Hồ nước như vậy, này các Tỷ-kheo, không có chờ đợi tức nước vỡ bờ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý phá hoại vô minh. Do vị ấy tác ý phá hoại vô minh, tâm không có phấn chấn, không có tịnh tín, không có an trú, không có giải thoát đối với phá hoại vô minh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy không có chờ đợi được vô minh phá hoại .
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý phá hoại vô minh. Do vị ấy tác ý phá hoại vô minh, tâm có phấn chấn, có tịnh tín, có an trú, có giải thoát đối với phá hoại vô minh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy có chờ đợi được vô minh phá hoại. Ví như, này các Tỷ-kheo, một hồ nước đã được nhiều năm, có người đến bịt tất cả các lỗ nước chảy ra, mở ra tất cả các lỗ nước chảy vào, và trời lại mưa đều đặn. Hồ nước như vậy, này các Tỷ-kheo, có chờ đợi tức nước vỡ bờ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý phá hoại vô minh. Do vị ấy tác ý phá hoại vô minh, tâm có phấn chấn, có tịnh tín, có an trú, có giải thoát đối với phá hoại vô minh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy có chờ đợi được phá hoại vô minh. Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời.
“Cattārome, bhikkhave, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame cattāro?
Idha, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ santaṁ cetovimuttiṁ upasampajja viharati.
So sakkāyanirodhaṁ manasi karoti.
Tassa sakkāyanirodhaṁ manasi karoto sakkāyanirodhe cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati nādhimuccati.
Tassa kho evaṁ, bhikkhave, bhikkhuno na sakkāyanirodho pāṭikaṅkho.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso lepagatena hatthena sākhaṁ gaṇheyya, tassa so hattho sajjeyyapi gaṇheyyapi bajjheyyapi;
evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ santaṁ cetovimuttiṁ upasampajja viharati.
So sakkāyanirodhaṁ manasi karoti.
Tassa sakkāyanirodhaṁ manasi karoto sakkāyanirodhe cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati nādhimuccati.
Tassa kho evaṁ, bhikkhave, bhikkhuno na sakkāyanirodho pāṭikaṅkho.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ santaṁ cetovimuttiṁ upasampajja viharati.
So sakkāyanirodhaṁ manasi karoti.
Tassa sakkāyanirodhaṁ manasi karoto sakkāyanirodhe cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati.
Tassa kho evaṁ, bhikkhave, bhikkhuno sakkāyanirodho pāṭikaṅkho.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso suddhena hatthena sākhaṁ gaṇheyya, tassa so hattho neva sajjeyya na gaṇheyya na bajjheyya;
evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ santaṁ cetovimuttiṁ upasampajja viharati.
So sakkāyanirodhaṁ manasi karoti.
Tassa sakkāyanirodhaṁ manasi karoto sakkāyanirodhe cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati.
Tassa kho evaṁ, bhikkhave, bhikkhuno sakkāyanirodho pāṭikaṅkho.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ santaṁ cetovimuttiṁ upasampajja viharati.
So avijjāppabhedaṁ manasi karoti.
Tassa avijjāppabhedaṁ manasi karoto avijjāppabhede cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati nādhimuccati.
Tassa kho evaṁ, bhikkhave, bhikkhuno na avijjāppabhedo pāṭikaṅkho.
Seyyathāpi, bhikkhave, jambālī anekavassagaṇikā.
Tassā puriso yāni ceva āyamukhāni tāni pidaheyya, yāni ca apāyamukhāni tāni vivareyya, devo ca na sammā dhāraṁ anuppaveccheyya.
Evañhi tassā, bhikkhave, jambāliyā na āḷippabhedo pāṭikaṅkho.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ santaṁ cetovimuttiṁ upasampajja viharati.
So avijjāppabhedaṁ manasi karoti.
Tassa avijjāppabhedaṁ manasi karoto avijjāppabhede cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati nādhimuccati.
Tassa kho evaṁ, bhikkhave, bhikkhuno na avijjāppabhedo pāṭikaṅkho.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ santaṁ cetovimuttiṁ upasampajja viharati.
So avijjāppabhedaṁ manasi karoti.
Tassa avijjāppabhedaṁ manasi karoto avijjāppabhede cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati.
Tassa kho evaṁ, bhikkhave, bhikkhuno avijjāppabhedo pāṭikaṅkho.
Seyyathāpi, bhikkhave, jambālī anekavassagaṇikā.
Tassā puriso yāni ceva āyamukhāni tāni vivareyya, yāni ca apāyamukhāni tāni pidaheyya, devo ca sammā dhāraṁ anuppaveccheyya.
Evañhi tassā, bhikkhave, jambāliyā āḷippabhedo pāṭikaṅkho.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ santaṁ cetovimuttiṁ upasampajja viharati.
So avijjāppabhedaṁ manasi karoti.
Tassa avijjāppabhedaṁ manasi karoto avijjāppabhede cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati.
Tassa kho evaṁ, bhikkhave, bhikkhuno avijjāppabhedo pāṭikaṅkho.
Ime kho, bhikkhave, cattāro puggalā santo saṁvijjamānā lokasmin”ti.
Aṭṭhamaṁ.
“Monks, these four types of individuals are to be found existing in the world. Which four?
“There is the case where a monk enters & remains in a certain peaceful awareness-release. He attends to the cessation of self-identification, but as he is attending to the cessation of self-identification his mind doesn’t leap up, grow confident, steadfast, or firm in the cessation of self-identification. For him the cessation of self-identification is not to be expected. Just as if a man were to grasp a branch with his hand smeared with resin, his hand would stick to it, grip it, adhere to it; in the same way, the monk enters & remains in a certain peaceful awareness-release. He attends to the cessation of self-identification, but as he is attending to the cessation of self-identification his mind doesn’t leap up, grow confident, steadfast, or firm in the cessation of self-identification. For him the cessation of self-identification is not to be expected.
“Now, there is the case where a monk enters & remains in a certain peaceful awareness-release. He attends to the cessation of self-identification, and as he is attending to the cessation of self-identification his mind leaps up, grows confident, steadfast, & firm in the cessation of self-identification. For him the cessation of self-identification is to be expected. Just as if a man were to grasp a branch with a clean hand, his hand would not stick to it, grip it, or adhere to it; in the same way, the monk enters & remains in a certain peaceful awareness-release. He attends to the cessation of self-identification, and as he is attending to the cessation of self-identification his mind leaps up, grows confident, steadfast, & firm in the cessation of self-identification. For him the cessation of self-identification is to be expected.
“Now, there is the case where a monk enters & remains in a certain peaceful awareness-release. He attends to the breaching of ignorance, but as he is attending to the breaching of ignorance his mind doesn’t leap up, grow confident, steadfast, or firm in the breaching of ignorance. For him the breaching of ignorance is not to be expected. Just as if there were a waste-water pool that had stood for countless years, where a man were to block all the inlets and open all the outlets, and the sky were to not rain down in good streams of rain: the breaching of the waste-water pool’s embankment would not be expected; in the same way, the monk enters & remains in a certain peaceful awareness-release. He attends to the breaching of ignorance, but as he is attending to the breaching of ignorance his mind doesn’t leap up, grow confident, steadfast, or firm in the breaching of ignorance. For him the breaching of ignorance is not to be expected.
“Now, there is the case where a monk enters & remains in a certain peaceful awareness-release. He attends to the breaching of ignorance, and as he is attending to the breaching of ignorance his mind leaps up, grows confident, steadfast, & firm in the breaching of ignorance. For him the breaching of ignorance is to be expected. Just as if there were a waste-water pool that had stood for countless years, where a man were to open all the inlets and block all the outlets, and the sky were to rain down in good streams of rain: the breaching of the waste-water pool’s embankment would be expected; in the same way, the monk enters & remains in a certain peaceful awareness-release. He attends to the breaching of ignorance, and as he is attending to the breaching of ignorance his mind leaps up, grows confident, steadfast, & firm in the breaching of ignorance. For him the breaching of ignorance is to be expected.
“These are four types of individuals to be found existing in the world.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý có thân diệt, do vị ấy tác ý có thân diệt, tâm không phấn chấn, không có tịnh tín, không an trú, không giải thoát đối với có thân diệt. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy không có chờ đợi được có thân diệt. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người lấy tay có dính nhựa cầm một cành cây, tay của vị ấy sẽ dính vào, nắm lấy, cột vào cành cây ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý có thân diệt, do vị ấy tác ý có thân diệt, tâm không phấn chấn, không có tịnh tín, không an trú, không giải thoát đối với có thân diệt. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy không có chờ đợi được có thân diệt.
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chứng đạt và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý có thân diệt, do vị ấy tác ý có thân diệt, tâm vị ấy phấn chấn, tịnh tín, an trú và giải thoát đối với có thân diệt. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy được chờ đợi là có được có thân diệt. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người lấy tay sạch cầm một cành cây, tay của vị ấy không dính vào, không nắm lấy, không cột vào cành cây ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý có thân diệt, do vị ấy tác ý có thân diệt, tâm vị ấy phấn chấn, tịnh tín, an trú và giải thoát đối với có thân diệt. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy được chờ đợi là có được có thân diệt.
TTC 3Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý phá hoại vô minh, không có phấn chấn, không có tịnh tín, không có an trú, không có giải thoát đối với phá hoại vô minh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy không có chờ đợi được vô minh phá hoại. Ví như, này các Tỷ-kheo, một hồ nước đã được nhiều năm, có người đến bịt tất cả các lỗ nước chảy vào, mở ra tất cả các lỗ nước chảy ra, và trời lại không mưa đều đặn. Hồ nước như vậy, này các Tỷ-kheo, không có chờ đợi tức nước vỡ bờ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý phá hoại vô minh. Do vị ấy tác ý phá hoại vô minh, tâm không có phấn chấn, không có tịnh tín, không có an trú, không có giải thoát đối với phá hoại vô minh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy không có chờ đợi được vô minh phá hoại .
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý phá hoại vô minh. Do vị ấy tác ý phá hoại vô minh, tâm có phấn chấn, có tịnh tín, có an trú, có giải thoát đối với phá hoại vô minh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy có chờ đợi được vô minh phá hoại. Ví như, này các Tỷ-kheo, một hồ nước đã được nhiều năm, có người đến bịt tất cả các lỗ nước chảy ra, mở ra tất cả các lỗ nước chảy vào, và trời lại mưa đều đặn. Hồ nước như vậy, này các Tỷ-kheo, có chờ đợi tức nước vỡ bờ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý phá hoại vô minh. Do vị ấy tác ý phá hoại vô minh, tâm có phấn chấn, có tịnh tín, có an trú, có giải thoát đối với phá hoại vô minh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy có chờ đợi được phá hoại vô minh. Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời.
“Cattārome, bhikkhave, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame cattāro?
Idha, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ santaṁ cetovimuttiṁ upasampajja viharati.
So sakkāyanirodhaṁ manasi karoti.
Tassa sakkāyanirodhaṁ manasi karoto sakkāyanirodhe cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati nādhimuccati.
Tassa kho evaṁ, bhikkhave, bhikkhuno na sakkāyanirodho pāṭikaṅkho.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso lepagatena hatthena sākhaṁ gaṇheyya, tassa so hattho sajjeyyapi gaṇheyyapi bajjheyyapi;
evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ santaṁ cetovimuttiṁ upasampajja viharati.
So sakkāyanirodhaṁ manasi karoti.
Tassa sakkāyanirodhaṁ manasi karoto sakkāyanirodhe cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati nādhimuccati.
Tassa kho evaṁ, bhikkhave, bhikkhuno na sakkāyanirodho pāṭikaṅkho.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ santaṁ cetovimuttiṁ upasampajja viharati.
So sakkāyanirodhaṁ manasi karoti.
Tassa sakkāyanirodhaṁ manasi karoto sakkāyanirodhe cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati.
Tassa kho evaṁ, bhikkhave, bhikkhuno sakkāyanirodho pāṭikaṅkho.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso suddhena hatthena sākhaṁ gaṇheyya, tassa so hattho neva sajjeyya na gaṇheyya na bajjheyya;
evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ santaṁ cetovimuttiṁ upasampajja viharati.
So sakkāyanirodhaṁ manasi karoti.
Tassa sakkāyanirodhaṁ manasi karoto sakkāyanirodhe cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati.
Tassa kho evaṁ, bhikkhave, bhikkhuno sakkāyanirodho pāṭikaṅkho.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ santaṁ cetovimuttiṁ upasampajja viharati.
So avijjāppabhedaṁ manasi karoti.
Tassa avijjāppabhedaṁ manasi karoto avijjāppabhede cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati nādhimuccati.
Tassa kho evaṁ, bhikkhave, bhikkhuno na avijjāppabhedo pāṭikaṅkho.
Seyyathāpi, bhikkhave, jambālī anekavassagaṇikā.
Tassā puriso yāni ceva āyamukhāni tāni pidaheyya, yāni ca apāyamukhāni tāni vivareyya, devo ca na sammā dhāraṁ anuppaveccheyya.
Evañhi tassā, bhikkhave, jambāliyā na āḷippabhedo pāṭikaṅkho.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ santaṁ cetovimuttiṁ upasampajja viharati.
So avijjāppabhedaṁ manasi karoti.
Tassa avijjāppabhedaṁ manasi karoto avijjāppabhede cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati nādhimuccati.
Tassa kho evaṁ, bhikkhave, bhikkhuno na avijjāppabhedo pāṭikaṅkho.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ santaṁ cetovimuttiṁ upasampajja viharati.
So avijjāppabhedaṁ manasi karoti.
Tassa avijjāppabhedaṁ manasi karoto avijjāppabhede cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati.
Tassa kho evaṁ, bhikkhave, bhikkhuno avijjāppabhedo pāṭikaṅkho.
Seyyathāpi, bhikkhave, jambālī anekavassagaṇikā.
Tassā puriso yāni ceva āyamukhāni tāni vivareyya, yāni ca apāyamukhāni tāni pidaheyya, devo ca sammā dhāraṁ anuppaveccheyya.
Evañhi tassā, bhikkhave, jambāliyā āḷippabhedo pāṭikaṅkho.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ santaṁ cetovimuttiṁ upasampajja viharati.
So avijjāppabhedaṁ manasi karoti.
Tassa avijjāppabhedaṁ manasi karoto avijjāppabhede cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati.
Tassa kho evaṁ, bhikkhave, bhikkhuno avijjāppabhedo pāṭikaṅkho.
Ime kho, bhikkhave, cattāro puggalā santo saṁvijjamānā lokasmin”ti.
Aṭṭhamaṁ.