(Nhân duyên như kinh trên). Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda đang ngồi một bên:
—Này Ananda, mọi giới cấm, sinh sống Phạm hạnh, sự hầu hạ căn bản đều có quả phải không?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, không thể trả lời một chiều được.
—Vậy này Ananda, hãy phân tích thêm!
—Bạch Thế Tôn, phàm giới cấm, sinh sống Phạm hạnh, sự hầu hạ căn bản nào được áp dụng, khiến pháp không thiện tăng trưởng, pháp thiện đoạn tận, thời giới cấm, sinh sống Phạm hạnh, sự hầu hạ căn bản như vậy không có kết quả. Và bạch Thế Tôn, phàm giới cấm, sinh sống Phạm hạnh, sự hầu hạ căn bản nào được áp dụng, khiến pháp không thiện đoạn tận, pháp thiện tăng trưởng, thời giới cấm, sinh sống Phạm hạnh, sự hầu hạ căn bản như vậy có kết quả.
Tôn giả Ananda nói như vậy và bậc Ðạo Sư đồng ý.
Rồi Tôn giả Ananda nghĩ: “Bậc Ðạo Sư đã đồng ý với ta”, từ chỗ ngồi đứng dậy, thân phía hữu hướng về ngài rồi ra đi.
Rồi Thế Tôn, khi Tôn giả Ananda ra đi không bao lâu, nói với các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, Ananda còn là hữu học, nhưng không dễ gì tìm được người có trí tuệ ngang bằng.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ ānandaṁ bhagavā etadavoca:
“sabbaṁ nu kho, ānanda, sīlabbataṁ jīvitaṁ brahmacariyaṁ upaṭṭhānasāraṁ saphalan”ti?
“Na khvettha, bhante, ekaṁsenā”ti.
“Tena hānanda, vibhajassū”ti.
“Yañhissa, bhante, sīlabbataṁ jīvitaṁ brahmacariyaṁ upaṭṭhānasāraṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti kusalā dhammā parihāyanti, evarūpaṁ sīlabbataṁ jīvitaṁ brahmacariyaṁ upaṭṭhānasāraṁ aphalaṁ.
Yañca khvāssa, bhante, sīlabbataṁ jīvitaṁ brahmacariyaṁ upaṭṭhānasāraṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti, evarūpaṁ sīlabbataṁ jīvitaṁ brahmacariyaṁ upaṭṭhānasāraṁ saphalan”ti.
Idamavoca āyasmā ānando.
Samanuñño satthā ahosi.
Atha kho āyasmā ānando “samanuñño me satthā”ti, uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho bhagavā acirapakkante āyasmante ānande bhikkhū āmantesi:
“sekho, bhikkhave, ānando;
na ca panassa sulabharūpo samasamo paññāyā”ti.
Aṭṭhamaṁ.
Then Ven. Ananda went to the Blessed One and, on arrival, having bowed down to him, sat to one side. As he was sitting there, the Blessed One said to him, “Ananda, every precept & practice, every life, every holy life that is followed as of essential worth: is every one of them fruitful?”
“Lord, that is not [to be answered] with a categorical answer.”
“In that case, Ananda, give an analytical answer.”
“When—by following a life of precept & practice, a life, a holy life that is followed as of essential worth—one’s unskillful mental qualities increase while one’s skillful mental qualities decline: that sort of precept & practice, life, holy life that is followed as of essential worth is fruitless. But when—by following a life of precept & practice, a life, a holy life that is followed as of essential worth—one’s unskillful mental qualities decline while one’s skillful mental qualities increase: that sort of precept & practice, life, holy life that is followed as of essential worth is fruitful.”
That is what Ven. Ananda said, and the Teacher approved. Then Ven. Ananda, [realizing,] “The Teacher approves of me,” got up from his seat and, having bowed down to the Blessed One and circumambulating him, left.
Then not long after Ven. Ananda had left, the Blessed One said to the monks, “Monks, Ananda is still in training, but it would not be easy to find his equal in discernment.”
(Nhân duyên như kinh trên). Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda đang ngồi một bên:
—Này Ananda, mọi giới cấm, sinh sống Phạm hạnh, sự hầu hạ căn bản đều có quả phải không?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, không thể trả lời một chiều được.
—Vậy này Ananda, hãy phân tích thêm!
—Bạch Thế Tôn, phàm giới cấm, sinh sống Phạm hạnh, sự hầu hạ căn bản nào được áp dụng, khiến pháp không thiện tăng trưởng, pháp thiện đoạn tận, thời giới cấm, sinh sống Phạm hạnh, sự hầu hạ căn bản như vậy không có kết quả. Và bạch Thế Tôn, phàm giới cấm, sinh sống Phạm hạnh, sự hầu hạ căn bản nào được áp dụng, khiến pháp không thiện đoạn tận, pháp thiện tăng trưởng, thời giới cấm, sinh sống Phạm hạnh, sự hầu hạ căn bản như vậy có kết quả.
Tôn giả Ananda nói như vậy và bậc Ðạo Sư đồng ý.
Rồi Tôn giả Ananda nghĩ: “Bậc Ðạo Sư đã đồng ý với ta”, từ chỗ ngồi đứng dậy, thân phía hữu hướng về ngài rồi ra đi.
Rồi Thế Tôn, khi Tôn giả Ananda ra đi không bao lâu, nói với các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, Ananda còn là hữu học, nhưng không dễ gì tìm được người có trí tuệ ngang bằng.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ ānandaṁ bhagavā etadavoca:
“sabbaṁ nu kho, ānanda, sīlabbataṁ jīvitaṁ brahmacariyaṁ upaṭṭhānasāraṁ saphalan”ti?
“Na khvettha, bhante, ekaṁsenā”ti.
“Tena hānanda, vibhajassū”ti.
“Yañhissa, bhante, sīlabbataṁ jīvitaṁ brahmacariyaṁ upaṭṭhānasāraṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti kusalā dhammā parihāyanti, evarūpaṁ sīlabbataṁ jīvitaṁ brahmacariyaṁ upaṭṭhānasāraṁ aphalaṁ.
Yañca khvāssa, bhante, sīlabbataṁ jīvitaṁ brahmacariyaṁ upaṭṭhānasāraṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti, evarūpaṁ sīlabbataṁ jīvitaṁ brahmacariyaṁ upaṭṭhānasāraṁ saphalan”ti.
Idamavoca āyasmā ānando.
Samanuñño satthā ahosi.
Atha kho āyasmā ānando “samanuñño me satthā”ti, uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho bhagavā acirapakkante āyasmante ānande bhikkhū āmantesi:
“sekho, bhikkhave, ānando;
na ca panassa sulabharūpo samasamo paññāyā”ti.
Aṭṭhamaṁ.