TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli (Tỳ-xá-ly) tại Ðại Lâm, trong ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi Licchavì Sàlha và Licchavì Abhaya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Licchavì Sàlha bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, có những Sa-môn, Bà-la-môn trình bày sự vượt qua dòng nước mạnh với hai pháp môn: nhân giới thanh tịnh và nhân khổ hạnh nhàm chán. Ở đây, bạch Thế Tôn, Thế Tôn có nói gì?
—Này Sàlha, Ta nói rằng giới thanh tịnh là một chi phần của Sa-môn hạnh. Các vị Sa-môn, Bà-la-môn nào, này Salha, sống chủ trương nhân khổ hạnh nhàm chán, xem khổ hạnh nhàm chán là lõi cây, chấp chặt vào khổ hạnh nhàm chán, những vị ấy không thể nào vượt qua dòng nước mạnh. Các vị Sa-môn, Bà-la-môn nào, này Sàlha, thân hành không thanh tịnh, lời nói không thanh tịnh, ý hành không thanh tịnh, sanh sống không thanh tịnh, những vị ấy không có thể đạt được tri kiến vô thượng Bồ-đề.
TTC 3Ví như, này Sàlhà, một người muốn vượt qua sông, cầm một cây búa sắc bén đi vào rừng. Tại đấy, nó thấy một cây sàla lớn, cao, thẳng, còn trẻ, không có lồi lõm. Nó chặt cây ấy tại gốc, sau khi chặt ở gốc, nó đốn ngọn. Sau khi đốn ngọn, nó tỉa cành lá và làm cho thân cây trơn tru. Sau khi tỉa cành lá và làm cho thân cây trơn tru, nó gọt đẽo với cái búa. Sau khi gọt đẽo với cái búa, nó gọt đẽo với con dao. Sau khi gọt đẽo với con dao, nó bào sạch với cái bào. Sau khi bào sạch với cái bào, nó bào sạch với hòn đá mài. Sau khi bào sạch với hòn đá mài, nó đem cây ấy xuống sông. Ý Ông nghĩ thế nào, này Sàlhà người ấy có thể vượt qua sông được không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
TTC 4Vì sao? Bạch Thế Tôn, vì cây sàla ấy, tuy bề ngoài rất khéo làm, nhưng bề trong không được làm sạch. Do vậy, sự việc chờ đợi rằng: “Cây sàla ấy chìm xuống và người ấy rơi vào ách nạn”.
—Cũng vậy, này Sàlhà, những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sống khổ hạnh nhàm chán, xem khổ hạnh nhàm chán là lõi cây, chấp chặt lấy khổ hạnh nhàm chán, những vị ấy không có thể vượt qua dòng nước mạnh. Này Sàlhà, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào, thân hành không thanh tịnh, lời nói không thanh tịnh, ý hành không thanh tịnh, sinh sống không thanh tịnh, chúng không có thể chứng được tri kiến vô thượng Bồ-đề. Này Sàlhà, những Sa-môn, Bà-la-môn nào sống không chủ trương khổ hạnh nhàm chán, không xem khổ hạnh nhàm chán là lõi cây, không chấp chặt lấy khổ hạnh nhàm chán, những vị ấy có thể vượt qua dòng nước mạnh. Này Sàlhà, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào, thân hành thanh tịnh, lời nói thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sinh sống thanh tịnh, những vị ấy có thể chứng được tri kiến vô thượng Bồ-đề.
TTC 5Ví như, này Sàlhà, một người muốn vượt qua sông, cầm một cây búa sắc bén đi vào rừng. Tại đấy, người ấy thấy một cây sàla lớn, cao, thẳng, còn trẻ, không có lồi lõm. Nó chặt cây ấy tại gốc, sau khi chặt ở gốc, người ấy đốn ngọn. Sau khi đốn ngọn, người ấy tỉa cành lá và làm cho thân cây trơn tru. Sau khi tỉa cành lá và làm cho thân cây trơn tru, người ấy gọt đẽo với cái búa. Sau khi gọt đẽo với cái búa, người ấy gọt đẽo với con dao. Sau khi gọt đẽo với con dao, người ấy lấy cái đục, khéo đục sạch nội phần. Sau khi khéo đục sạch nội phần, người ấy bào sạch với cái bào. Sau khi bào sạch với cái bào, người ấy bào sạch với hòn đá mài. Sau khi bào sạch với hòn đá mài, người ấy làm thành chiếc thuyền, cột với cái chèo và bánh lái, rồi cuối cùng người ấy thả xuống sông. Ý Ông nghĩ thế nào, này Sàlhà người ấy có thể vượt qua sông được không?
—Thưa được, bạch Thế Tôn.
TTC 6Vì sao? Bạch Thế Tôn, vì cây sàla ấy, bề ngoài rất khéo làm, bề trong được làm sạch, được cột với cái chèo và bánh lái. Do vậy, sự việc chờ đợi rằng: “Chiếc thuyền ấy không chìm, và người ấy sẽ đến bờ bên kia an toàn”.
—Cũng vậy, này Sàlhà, những Sa-môn, Bà-la-môn nào không chủ trương khổ hạnh nhàm chán, … những vị ấy có thể vượt qua dòng nước mạnh. Này Sàlhà, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào, thân hành thanh tịnh, lời nói thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sinh sống thanh tịnh, những vị ấy có thể chứng được tri kiến vô thượng Bồ-đề”.
TTC 7Ví như, này Sàlhà, một chiến sĩ dầu nó biết được nhiều cung thuật, nhưng về ba phương diện nó xứng đáng là của vua, thuộc sở hữu của vua, đi đến làm biểu tượng của vua. Thế nào là ba?
Bắn xa, bắn nhanh như chớp nhoáng, và bắn thủng được vât lớn.
TTC 8Ví như, này Sàlhà, người chiến sĩ bắn xa, cũng vậy, này Sàlhà, là Thánh đệ tử có chánh định; phàm có sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần, cần phải như thật thấy với trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”. Phàm có thọ gì … phàm có tưởng gì … phàm có hành gì … phàm có thức gì, quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần, cần phải như thật thấy với trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”.
TTC 9Ví như, này Sàlhà, người chiến sĩ bắn như chớp nhoáng; cũng vậy, này Sàlhà là vị Thánh đệ tử có chánh tri kiến. Vị Thánh đệ tử này Sàlhà, có chánh tri kiến như thật quán tri: “Ðây là khổ … Ðây là khổ tập…, Ðây là khổ diệt…., Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”.
TTC 10Ví như, này Sàlhà, người chiến sĩ đâm thủng được thân hình lớn. Cũng vậy, này Sàlhà là vị Thánh đệ tử có chánh giải thoát. Vị Thánh đệ tử này Sàlhà, có chánh giải thoát đâm thủng được vô minh uẩn to lớn.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Atha kho sāḷho ca licchavi abhayo ca licchavi yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinno kho sāḷho licchavi bhagavantaṁ etadavoca:
“Santi, bhante, eke samaṇabrāhmaṇā dvayena oghassa nittharaṇaṁ paññapenti—
sīlavisuddhihetu ca tapojigucchāhetu ca.
Idha, bhante, bhagavā kimāhā”ti?
“Sīlavisuddhiṁ kho ahaṁ, sāḷha, aññataraṁ sāmaññaṅganti vadāmi.
Ye te, sāḷha, samaṇabrāhmaṇā tapojigucchāvādā tapojigucchāsārā tapojigucchāallīnā viharanti, abhabbā te oghassa nittharaṇāya.
Yepi te, sāḷha, samaṇabrāhmaṇā aparisuddhakāyasamācārā aparisuddhavacīsamācārā aparisuddhamanosamācārā aparisuddhājīvā, abhabbā te ñāṇadassanāya anuttarāya sambodhāya.
Seyyathāpi, sāḷha, puriso nadiṁ taritukāmo tiṇhaṁ kuṭhāriṁ ādāya vanaṁ paviseyya.
So tattha passeyya mahatiṁ sālalaṭṭhiṁ ujuṁ navaṁ akukkuccakajātaṁ.
Tamenaṁ mūle chindeyya;
mūle chetvā agge chindeyya;
agge chetvā sākhāpalāsaṁ suvisodhitaṁ visodheyya;
sākhāpalāsaṁ suvisodhitaṁ visodhetvā kuṭhārīhi taccheyya;
kuṭhārīhi tacchetvā vāsīhi taccheyya;
vāsīhi tacchetvā lekhaṇiyā likheyya;
lekhaṇiyā likhitvā pāsāṇaguḷena dhoveyya;
pāsāṇaguḷena dhovetvā nadiṁ patāreyya.
Taṁ kiṁ maññasi, sāḷha,
bhabbo nu kho so puriso nadiṁ taritun”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kissa hetu”?
“Asu hi, bhante, sālalaṭṭhi bahiddhā suparikammakatā anto avisuddhā.
Tassetaṁ pāṭikaṅkhaṁ—sālalaṭṭhi saṁsīdissati, puriso anayabyasanaṁ āpajjissatī”ti.
“Evamevaṁ kho, sāḷha, ye te samaṇabrāhmaṇā tapojigucchāvādā tapojigucchāsārā tapojigucchāallīnā viharanti, abhabbā te oghassa nittharaṇāya.
Yepi te, sāḷha, samaṇabrāhmaṇā aparisuddhakāyasamācārā aparisuddhavacīsamācārā aparisuddhamanosamācārā aparisuddhājīvā, abhabbā te ñāṇadassanāya anuttarāya sambodhāya.
Ye ca kho te, sāḷha, samaṇabrāhmaṇā na tapojigucchāvādā na tapojigucchāsārā na tapojigucchāallīnā viharanti, bhabbā te oghassa nittharaṇāya.
Yepi te, sāḷha, samaṇabrāhmaṇā parisuddhakāyasamācārā parisuddhavacīsamācārā parisuddhamanosamācārā parisuddhājīvā, bhabbā te ñāṇadassanāya anuttarāya sambodhāya.
Seyyathāpi, sāḷha, puriso nadiṁ taritukāmo tiṇhaṁ kuṭhāriṁ ādāya vanaṁ paviseyya.
So tattha passeyya mahatiṁ sālalaṭṭhiṁ ujuṁ navaṁ akukkuccakajātaṁ.
Tamenaṁ mūle chindeyya;
mūle chinditvā agge chindeyya;
agge chinditvā sākhāpalāsaṁ suvisodhitaṁ visodheyya;
sākhāpalāsaṁ suvisodhitaṁ visodhetvā kuṭhārīhi taccheyya;
kuṭhārīhi tacchetvā vāsīhi taccheyya;
vāsīhi tacchetvā nikhādanaṁ ādāya anto suvisodhitaṁ visodheyya;
anto suvisodhitaṁ visodhetvā lekhaṇiyā likheyya;
lekhaṇiyā likhitvā pāsāṇaguḷena dhoveyya;
pāsāṇaguḷena dhovetvā nāvaṁ kareyya;
nāvaṁ katvā phiyārittaṁ bandheyya;
phiyārittaṁ bandhitvā nadiṁ patāreyya.
Taṁ kiṁ maññasi, sāḷha,
bhabbo nu kho so puriso nadiṁ taritun”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Taṁ kissa hetu”?
“Asu hi, bhante, sālalaṭṭhi bahiddhā suparikammakatā, anto suvisuddhā nāvākatā phiyārittabaddhā.
Tassetaṁ pāṭikaṅkhaṁ:
‘nāvā na saṁsīdissati, puriso sotthinā pāraṁ gamissatī’”ti.
“Evamevaṁ kho, sāḷha, ye te samaṇabrāhmaṇā na tapojigucchāvādā na tapojigucchāsārā na tapojigucchāallīnā viharanti, bhabbā te oghassa nittharaṇāya.
Yepi te, sāḷha, samaṇabrāhmaṇā parisuddhakāyasamācārā parisuddhavacīsamācārā parisuddhamanosamācārā parisuddhājīvā, bhabbā te ñāṇadassanāya anuttarāya sambodhāya.
Seyyathāpi, sāḷha, yodhājīvo bahūni cepi kaṇḍacitrakāni jānāti;
atha kho so tīhi ṭhānehi rājāraho hoti rājabhoggo, rañño aṅganteva saṅkhaṁ gacchati.
Katamehi tīhi?
Dūrepātī ca, akkhaṇavedhī ca, mahato ca kāyassa padāletā.
Seyyathāpi, sāḷha, yodhājīvo dūrepātī;
evamevaṁ kho, sāḷha, ariyasāvako sammāsamādhi hoti.
Sammāsamādhi, sāḷha, ariyasāvako yaṁ kiñci rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā sabbaṁ rūpaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Yā kāci vedanā …
yā kāci saññā …
ye keci saṅkhārā …
yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ viññāṇaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Seyyathāpi, sāḷha, yodhājīvo akkhaṇavedhī;
evamevaṁ kho, sāḷha, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti.
Sammādiṭṭhi, sāḷha, ariyasāvako ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Seyyathāpi, sāḷha, yodhājīvo mahato kāyassa padāletā;
evamevaṁ kho, sāḷha, ariyasāvako sammāvimutti hoti.
Sammāvimutti, sāḷha, ariyasāvako mahantaṁ avijjākkhandhaṁ padāletī”ti.
Chaṭṭhaṁ.
At one time the Buddha was staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof.
Then Sāḷha and Abhaya the Licchavis went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“There are, sir, some ascetics and brahmins who advocate crossing the flood by means of two things:
purification of ethics, and mortification in disgust of sin.
What does the Buddha say about this?”
“Sāḷha, purification of ethics is one of the factors of the ascetic life, I say.
But those ascetics and brahmins who teach fervent mortification in disgust of sin—regarding it as essential and sticking to it—are incapable of crossing the flood.
And those ascetics and brahmins whose livelihood and behavior by way of body, speech, and mind, is not pure are also incapable of knowing and seeing, of supreme awakening.
Suppose a man who wanted to cross a river took a sharp axe into a wood.
There he’d see a large green sal tree, straight and young and grown unskewed.
He’d cut it down at the base,
cut off the top,
and completely strip off the branches and foliage.
Then he’d trim it with axes and
machetes,
plane it,
and sand it with a rock.
Finally, he’d launch out on the river.
What do you think, Sāḷha?
Is that man capable of crossing the river?”
“No, sir.
Why not?
Because that green sal tree is well worked on the outside, but inside it’s still not cleared out.
I’d expect that green sal tree to sink, and the man to come to ruin.”
“In the same way, Sāḷha, those ascetics and brahmins who teach fervent mortification in disgust of sin—regarding it as essential and sticking to it—are incapable of crossing the flood.
And those ascetics and brahmins whose livelihood and behavior by way of body, speech, and mind is not pure are also incapable of knowing and seeing, of supreme awakening.
But those ascetics and brahmins who don’t teach mortification in disgust of sin—not regarding it as essential or sticking to it—are capable of crossing the flood.
And those ascetics and brahmins whose behavior by way of body, speech, and mind is pure are also capable of knowing and seeing, of supreme awakening.
Suppose a man who wanted to cross a river took a sharp axe into a wood.
There he’d see a large green sal tree, straight and young and grown unskewed.
He’d cut it down at the base,
cut off the top,
and completely strip off the branches and foliage.
Then he’d trim it with axes and
machetes.
Then he’d take a chisel and completely clear it out inside.
Then he’d plane it,
sand it with a rock,
and make it into a boat.
Finally he’d fix it with oars and rudder,
and launch out on the river.
What do you think, Sāḷha?
Is that man capable of crossing the river?”
“Yes, sir.
Why is that?
Because that green sal tree is well worked on the outside, cleared out on the inside, made into a boat, and fixed with oars and rudder.
I’d expect
that boat to not sink, and the man to safely make it to the far shore.”
“In the same way, Sāḷha, those ascetics and brahmins who don’t teach fervent mortification in disgust of sin—not regarding it as essential or sticking to it—are capable of crossing the flood.
And those ascetics and brahmins whose behavior by way of body, speech, and mind is pure are also capable of knowing and seeing, of supreme awakening.
Suppose there was a warrior who knew lots of fancy archery tricks.
It is only with these three factors that he becomes worthy of a king, fit to serve a king, and is reckoned a factor of kingship.
What three?
He’s a long-distance shooter, a marksman, and one who shatters large objects.
Just as a warrior is a long-distance shooter,
a noble disciple has right immersion.
A noble disciple with right immersion truly sees any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
They truly see any kind of feeling …
perception …
choices …
consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near, all consciousness—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
Just as a warrior is a marksman,
a noble disciple has right view.
A noble disciple with right view truly understands: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’.
Just as a warrior shatters large objects,
a noble disciple has right freedom.
A noble disciple with right freedom shatters the great mass of ignorance.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli (Tỳ-xá-ly) tại Ðại Lâm, trong ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi Licchavì Sàlha và Licchavì Abhaya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Licchavì Sàlha bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, có những Sa-môn, Bà-la-môn trình bày sự vượt qua dòng nước mạnh với hai pháp môn: nhân giới thanh tịnh và nhân khổ hạnh nhàm chán. Ở đây, bạch Thế Tôn, Thế Tôn có nói gì?
—Này Sàlha, Ta nói rằng giới thanh tịnh là một chi phần của Sa-môn hạnh. Các vị Sa-môn, Bà-la-môn nào, này Salha, sống chủ trương nhân khổ hạnh nhàm chán, xem khổ hạnh nhàm chán là lõi cây, chấp chặt vào khổ hạnh nhàm chán, những vị ấy không thể nào vượt qua dòng nước mạnh. Các vị Sa-môn, Bà-la-môn nào, này Sàlha, thân hành không thanh tịnh, lời nói không thanh tịnh, ý hành không thanh tịnh, sanh sống không thanh tịnh, những vị ấy không có thể đạt được tri kiến vô thượng Bồ-đề.
TTC 3Ví như, này Sàlhà, một người muốn vượt qua sông, cầm một cây búa sắc bén đi vào rừng. Tại đấy, nó thấy một cây sàla lớn, cao, thẳng, còn trẻ, không có lồi lõm. Nó chặt cây ấy tại gốc, sau khi chặt ở gốc, nó đốn ngọn. Sau khi đốn ngọn, nó tỉa cành lá và làm cho thân cây trơn tru. Sau khi tỉa cành lá và làm cho thân cây trơn tru, nó gọt đẽo với cái búa. Sau khi gọt đẽo với cái búa, nó gọt đẽo với con dao. Sau khi gọt đẽo với con dao, nó bào sạch với cái bào. Sau khi bào sạch với cái bào, nó bào sạch với hòn đá mài. Sau khi bào sạch với hòn đá mài, nó đem cây ấy xuống sông. Ý Ông nghĩ thế nào, này Sàlhà người ấy có thể vượt qua sông được không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
TTC 4Vì sao? Bạch Thế Tôn, vì cây sàla ấy, tuy bề ngoài rất khéo làm, nhưng bề trong không được làm sạch. Do vậy, sự việc chờ đợi rằng: “Cây sàla ấy chìm xuống và người ấy rơi vào ách nạn”.
—Cũng vậy, này Sàlhà, những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sống khổ hạnh nhàm chán, xem khổ hạnh nhàm chán là lõi cây, chấp chặt lấy khổ hạnh nhàm chán, những vị ấy không có thể vượt qua dòng nước mạnh. Này Sàlhà, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào, thân hành không thanh tịnh, lời nói không thanh tịnh, ý hành không thanh tịnh, sinh sống không thanh tịnh, chúng không có thể chứng được tri kiến vô thượng Bồ-đề. Này Sàlhà, những Sa-môn, Bà-la-môn nào sống không chủ trương khổ hạnh nhàm chán, không xem khổ hạnh nhàm chán là lõi cây, không chấp chặt lấy khổ hạnh nhàm chán, những vị ấy có thể vượt qua dòng nước mạnh. Này Sàlhà, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào, thân hành thanh tịnh, lời nói thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sinh sống thanh tịnh, những vị ấy có thể chứng được tri kiến vô thượng Bồ-đề.
TTC 5Ví như, này Sàlhà, một người muốn vượt qua sông, cầm một cây búa sắc bén đi vào rừng. Tại đấy, người ấy thấy một cây sàla lớn, cao, thẳng, còn trẻ, không có lồi lõm. Nó chặt cây ấy tại gốc, sau khi chặt ở gốc, người ấy đốn ngọn. Sau khi đốn ngọn, người ấy tỉa cành lá và làm cho thân cây trơn tru. Sau khi tỉa cành lá và làm cho thân cây trơn tru, người ấy gọt đẽo với cái búa. Sau khi gọt đẽo với cái búa, người ấy gọt đẽo với con dao. Sau khi gọt đẽo với con dao, người ấy lấy cái đục, khéo đục sạch nội phần. Sau khi khéo đục sạch nội phần, người ấy bào sạch với cái bào. Sau khi bào sạch với cái bào, người ấy bào sạch với hòn đá mài. Sau khi bào sạch với hòn đá mài, người ấy làm thành chiếc thuyền, cột với cái chèo và bánh lái, rồi cuối cùng người ấy thả xuống sông. Ý Ông nghĩ thế nào, này Sàlhà người ấy có thể vượt qua sông được không?
—Thưa được, bạch Thế Tôn.
TTC 6Vì sao? Bạch Thế Tôn, vì cây sàla ấy, bề ngoài rất khéo làm, bề trong được làm sạch, được cột với cái chèo và bánh lái. Do vậy, sự việc chờ đợi rằng: “Chiếc thuyền ấy không chìm, và người ấy sẽ đến bờ bên kia an toàn”.
—Cũng vậy, này Sàlhà, những Sa-môn, Bà-la-môn nào không chủ trương khổ hạnh nhàm chán, … những vị ấy có thể vượt qua dòng nước mạnh. Này Sàlhà, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào, thân hành thanh tịnh, lời nói thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sinh sống thanh tịnh, những vị ấy có thể chứng được tri kiến vô thượng Bồ-đề”.
TTC 7Ví như, này Sàlhà, một chiến sĩ dầu nó biết được nhiều cung thuật, nhưng về ba phương diện nó xứng đáng là của vua, thuộc sở hữu của vua, đi đến làm biểu tượng của vua. Thế nào là ba?
Bắn xa, bắn nhanh như chớp nhoáng, và bắn thủng được vât lớn.
TTC 8Ví như, này Sàlhà, người chiến sĩ bắn xa, cũng vậy, này Sàlhà, là Thánh đệ tử có chánh định; phàm có sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần, cần phải như thật thấy với trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”. Phàm có thọ gì … phàm có tưởng gì … phàm có hành gì … phàm có thức gì, quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần, cần phải như thật thấy với trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”.
TTC 9Ví như, này Sàlhà, người chiến sĩ bắn như chớp nhoáng; cũng vậy, này Sàlhà là vị Thánh đệ tử có chánh tri kiến. Vị Thánh đệ tử này Sàlhà, có chánh tri kiến như thật quán tri: “Ðây là khổ … Ðây là khổ tập…, Ðây là khổ diệt…., Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”.
TTC 10Ví như, này Sàlhà, người chiến sĩ đâm thủng được thân hình lớn. Cũng vậy, này Sàlhà là vị Thánh đệ tử có chánh giải thoát. Vị Thánh đệ tử này Sàlhà, có chánh giải thoát đâm thủng được vô minh uẩn to lớn.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Atha kho sāḷho ca licchavi abhayo ca licchavi yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinno kho sāḷho licchavi bhagavantaṁ etadavoca:
“Santi, bhante, eke samaṇabrāhmaṇā dvayena oghassa nittharaṇaṁ paññapenti—
sīlavisuddhihetu ca tapojigucchāhetu ca.
Idha, bhante, bhagavā kimāhā”ti?
“Sīlavisuddhiṁ kho ahaṁ, sāḷha, aññataraṁ sāmaññaṅganti vadāmi.
Ye te, sāḷha, samaṇabrāhmaṇā tapojigucchāvādā tapojigucchāsārā tapojigucchāallīnā viharanti, abhabbā te oghassa nittharaṇāya.
Yepi te, sāḷha, samaṇabrāhmaṇā aparisuddhakāyasamācārā aparisuddhavacīsamācārā aparisuddhamanosamācārā aparisuddhājīvā, abhabbā te ñāṇadassanāya anuttarāya sambodhāya.
Seyyathāpi, sāḷha, puriso nadiṁ taritukāmo tiṇhaṁ kuṭhāriṁ ādāya vanaṁ paviseyya.
So tattha passeyya mahatiṁ sālalaṭṭhiṁ ujuṁ navaṁ akukkuccakajātaṁ.
Tamenaṁ mūle chindeyya;
mūle chetvā agge chindeyya;
agge chetvā sākhāpalāsaṁ suvisodhitaṁ visodheyya;
sākhāpalāsaṁ suvisodhitaṁ visodhetvā kuṭhārīhi taccheyya;
kuṭhārīhi tacchetvā vāsīhi taccheyya;
vāsīhi tacchetvā lekhaṇiyā likheyya;
lekhaṇiyā likhitvā pāsāṇaguḷena dhoveyya;
pāsāṇaguḷena dhovetvā nadiṁ patāreyya.
Taṁ kiṁ maññasi, sāḷha,
bhabbo nu kho so puriso nadiṁ taritun”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kissa hetu”?
“Asu hi, bhante, sālalaṭṭhi bahiddhā suparikammakatā anto avisuddhā.
Tassetaṁ pāṭikaṅkhaṁ—sālalaṭṭhi saṁsīdissati, puriso anayabyasanaṁ āpajjissatī”ti.
“Evamevaṁ kho, sāḷha, ye te samaṇabrāhmaṇā tapojigucchāvādā tapojigucchāsārā tapojigucchāallīnā viharanti, abhabbā te oghassa nittharaṇāya.
Yepi te, sāḷha, samaṇabrāhmaṇā aparisuddhakāyasamācārā aparisuddhavacīsamācārā aparisuddhamanosamācārā aparisuddhājīvā, abhabbā te ñāṇadassanāya anuttarāya sambodhāya.
Ye ca kho te, sāḷha, samaṇabrāhmaṇā na tapojigucchāvādā na tapojigucchāsārā na tapojigucchāallīnā viharanti, bhabbā te oghassa nittharaṇāya.
Yepi te, sāḷha, samaṇabrāhmaṇā parisuddhakāyasamācārā parisuddhavacīsamācārā parisuddhamanosamācārā parisuddhājīvā, bhabbā te ñāṇadassanāya anuttarāya sambodhāya.
Seyyathāpi, sāḷha, puriso nadiṁ taritukāmo tiṇhaṁ kuṭhāriṁ ādāya vanaṁ paviseyya.
So tattha passeyya mahatiṁ sālalaṭṭhiṁ ujuṁ navaṁ akukkuccakajātaṁ.
Tamenaṁ mūle chindeyya;
mūle chinditvā agge chindeyya;
agge chinditvā sākhāpalāsaṁ suvisodhitaṁ visodheyya;
sākhāpalāsaṁ suvisodhitaṁ visodhetvā kuṭhārīhi taccheyya;
kuṭhārīhi tacchetvā vāsīhi taccheyya;
vāsīhi tacchetvā nikhādanaṁ ādāya anto suvisodhitaṁ visodheyya;
anto suvisodhitaṁ visodhetvā lekhaṇiyā likheyya;
lekhaṇiyā likhitvā pāsāṇaguḷena dhoveyya;
pāsāṇaguḷena dhovetvā nāvaṁ kareyya;
nāvaṁ katvā phiyārittaṁ bandheyya;
phiyārittaṁ bandhitvā nadiṁ patāreyya.
Taṁ kiṁ maññasi, sāḷha,
bhabbo nu kho so puriso nadiṁ taritun”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Taṁ kissa hetu”?
“Asu hi, bhante, sālalaṭṭhi bahiddhā suparikammakatā, anto suvisuddhā nāvākatā phiyārittabaddhā.
Tassetaṁ pāṭikaṅkhaṁ:
‘nāvā na saṁsīdissati, puriso sotthinā pāraṁ gamissatī’”ti.
“Evamevaṁ kho, sāḷha, ye te samaṇabrāhmaṇā na tapojigucchāvādā na tapojigucchāsārā na tapojigucchāallīnā viharanti, bhabbā te oghassa nittharaṇāya.
Yepi te, sāḷha, samaṇabrāhmaṇā parisuddhakāyasamācārā parisuddhavacīsamācārā parisuddhamanosamācārā parisuddhājīvā, bhabbā te ñāṇadassanāya anuttarāya sambodhāya.
Seyyathāpi, sāḷha, yodhājīvo bahūni cepi kaṇḍacitrakāni jānāti;
atha kho so tīhi ṭhānehi rājāraho hoti rājabhoggo, rañño aṅganteva saṅkhaṁ gacchati.
Katamehi tīhi?
Dūrepātī ca, akkhaṇavedhī ca, mahato ca kāyassa padāletā.
Seyyathāpi, sāḷha, yodhājīvo dūrepātī;
evamevaṁ kho, sāḷha, ariyasāvako sammāsamādhi hoti.
Sammāsamādhi, sāḷha, ariyasāvako yaṁ kiñci rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā sabbaṁ rūpaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Yā kāci vedanā …
yā kāci saññā …
ye keci saṅkhārā …
yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ viññāṇaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Seyyathāpi, sāḷha, yodhājīvo akkhaṇavedhī;
evamevaṁ kho, sāḷha, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti.
Sammādiṭṭhi, sāḷha, ariyasāvako ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Seyyathāpi, sāḷha, yodhājīvo mahato kāyassa padāletā;
evamevaṁ kho, sāḷha, ariyasāvako sammāvimutti hoti.
Sammāvimutti, sāḷha, ariyasāvako mahantaṁ avijjākkhandhaṁ padāletī”ti.
Chaṭṭhaṁ.