Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại điện thờ Gotama. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:
—Này các Tỷ-kheo, Ta thuyết pháp với thắng trí, không phải với không thắng trí. Này các Tỷ-kheo, Ta thuyết pháp với nhân duyên, không phải với không nhân duyên. Này các Tỷ-kheo, Ta thuyết pháp với thần thông, không phải với không thần thông. Này các Tỷ-kheo, do vì Ta thuyết pháp có thắng trí, không phải với không thắng trí; do vì Ta thuyết pháp có nhân duyên, không phải không có nhân duyên; do vì Ta thuyết pháp có thần thông, không phải không có thần thông, nên giáo giới cần phải làm, giảng dạy cần phải làm.
Thật là vừa đủ, này các Tỷ-kheo, để các Thầy bằng lòng. Thật là vừa đủ để các Thầy hân hoan. Thật là vừa đủ để các Thầy hoan hỷ, Chánh Ðẳng Giác là Thế Tôn! Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, khéo hành trì là chúng Tăng!
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ lời Thế Tôn giảng. Trong khi lời thuyết giảng này được nói lên, một ngàn thế giới đều rung động.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati gotamake cetiye.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Abhiññāyāhaṁ, bhikkhave, dhammaṁ desemi, no anabhiññāya.
Sanidānāhaṁ, bhikkhave, dhammaṁ desemi, no anidānaṁ.
Sappāṭihāriyāhaṁ, bhikkhave, dhammaṁ desemi, no appāṭihāriyaṁ.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, abhiññāya dhammaṁ desayato no anabhiññāya, sanidānaṁ dhammaṁ desayato no anidānaṁ, sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desayato no appāṭihāriyaṁ, karaṇīyo ovādo, karaṇīyā anusāsanī.
Alañca pana vo, bhikkhave, tuṭṭhiyā, alaṁ attamanatāya, alaṁ somanassāya:
‘sammāsambuddho bhagavā, svākkhāto dhammo, suppaṭipanno saṅgho’”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṁ bhaññamāne sahassī lokadhātu akampitthāti.
Tatiyaṁ.
On one occasion the Blessed One was staying near Vesali at Gotamaka Shrine. There he addressed the monks, “Monks!”
“Yes, lord,” the monks responded.
The Blessed One said, “It’s through direct knowledge that I teach the Dhamma, not without direct knowledge. It’s with a cause that I teach the Dhamma, not without a cause. It’s with marvels that I teach the Dhamma, not without marvels. Because I teach the Dhamma through direct knowledge and not without direct knowledge, because I teach the Dhamma with a cause and not without a cause, because I teach the Dhamma with marvels and not without marvels, there is good reason for my instruction, good reason for my admonition. And that is enough for you to be content, enough for you to be gratified, enough for you to take joy that the Blessed One is rightly self-awakened, the Dhamma is well-taught by the Blessed One, and the community has practiced rightly.”
That is what the Blessed One said. Gratified, the monks delighted in the Blessed One’s words. And while this explanation was being given, the ten-thousand fold cosmos quaked.
Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại điện thờ Gotama. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:
—Này các Tỷ-kheo, Ta thuyết pháp với thắng trí, không phải với không thắng trí. Này các Tỷ-kheo, Ta thuyết pháp với nhân duyên, không phải với không nhân duyên. Này các Tỷ-kheo, Ta thuyết pháp với thần thông, không phải với không thần thông. Này các Tỷ-kheo, do vì Ta thuyết pháp có thắng trí, không phải với không thắng trí; do vì Ta thuyết pháp có nhân duyên, không phải không có nhân duyên; do vì Ta thuyết pháp có thần thông, không phải không có thần thông, nên giáo giới cần phải làm, giảng dạy cần phải làm.
Thật là vừa đủ, này các Tỷ-kheo, để các Thầy bằng lòng. Thật là vừa đủ để các Thầy hân hoan. Thật là vừa đủ để các Thầy hoan hỷ, Chánh Ðẳng Giác là Thế Tôn! Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, khéo hành trì là chúng Tăng!
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ lời Thế Tôn giảng. Trong khi lời thuyết giảng này được nói lên, một ngàn thế giới đều rung động.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati gotamake cetiye.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Abhiññāyāhaṁ, bhikkhave, dhammaṁ desemi, no anabhiññāya.
Sanidānāhaṁ, bhikkhave, dhammaṁ desemi, no anidānaṁ.
Sappāṭihāriyāhaṁ, bhikkhave, dhammaṁ desemi, no appāṭihāriyaṁ.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, abhiññāya dhammaṁ desayato no anabhiññāya, sanidānaṁ dhammaṁ desayato no anidānaṁ, sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desayato no appāṭihāriyaṁ, karaṇīyo ovādo, karaṇīyā anusāsanī.
Alañca pana vo, bhikkhave, tuṭṭhiyā, alaṁ attamanatāya, alaṁ somanassāya:
‘sammāsambuddho bhagavā, svākkhāto dhammo, suppaṭipanno saṅgho’”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṁ bhaññamāne sahassī lokadhātu akampitthāti.
Tatiyaṁ.