TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, khu vườn Nigrodha. Lúc bấy giờ, Thế Tôn muốn an cư vào mùa mưa tại Sàvatthi. Họ Thích Nandiya được nghe: “Thế Tôn muốn an cư vào mùa mưa tại Sàvatthi”. Họ Thích Nandiya suy nghĩ như sau: “Ta hãy đến trú ở Sàvatthi vào mùa mưa. Tại đây, ta sẽ chăm lo công việc, và thỉnh thoảng có dịp được yết kiến Thế Tôn”. Rồi Thế Tôn đến trú ở Sàvatthi trong mùa mưa và họ Thích Nandiya cùng đến trú ở Sàvatthi vào mùa mưa, và tại đấy chăm lo công việc, và thỉnh thoảng có dịp được yết kiến Thế Tôn.
TTC 2Lúc bấy giờ, nhiều vị Tỷ-kheo làm y cho Thế Tôn, nghĩ rằng: “Khi y làm xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ bộ hành ra đi”. Họ Thích Nandiya được nghe: “Khi y làm xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ bộ hành ra đi”. Họ Thích Nandiya đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, họ Thích Nandiya bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con nghe nói, nhiều Tỷ-kheo làm y cho Thế Tôn, nghĩ rằng: “Khi y làm xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ bộ hành ra đi”. Bạch Thế Tôn, giữa những người an trú với những an trú khác nhau, chúng con nên an trú với an trú của ai?
TTC 3Lành thay, lành thay, này Nandiya. như vậy thật xứng đáng cho thiện nam tử các Ông, sau khi đi đến Thế Tôn đã hỏi như vậy: “Bạch Thế Tôn, giữa các người an trú với các an trú khác nhau, chúng con nên an trú với an trú của ai? “. Này Nandiya, hãy nhập cuộc với lòng tin, không với không có lòng tin. Hãy nhập cuộc với có giới, không phải với không giới. Hãy nhập cuộc với tinh cần tinh tấn, không với biếng nhác. Hãy nhập cuộc với trú niệm, không với thất niệm. Hãy nhập cuộc với định, không với không định. Hãy nhập cuộc với trí tuệ, không với liệt tuệ.
Sau khi an trú trong sáu pháp, này Nandiya, hãy tu tập thêm nữa năm pháp này.
TTC 4Ở đây, này Nandiya, Ông hãy tùy niệm Như Lai: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Như vậy, này Nandiya, duyên vào Như Lai, ông hãy an trú niệm trong nội tâm.
TTC 5Lại nữa, này Nandiya, Ông phải tùy niệm Pháp: “Pháp được Thế Tôn khéo nói, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. Như vậy, này Nandiya, duyên vào Pháp, Ông hãy an trú niệm trong nội tâm.
TTC 6Lại nữa, này Nandiya, cần phải tùy niệm bạn lành: “Thật có lợi cho ta! Thật khéo có lợi cho ta, rằng ta có các bạn lành biết thương mến ta, muốn ta được lợi ích, giáo giới giảng dạy”. Như vậy, này Nandiya, duyên vào bạn lành, Ông hãy an trú niệm trong nội tâm.
TTC 7Lại nữa, này Nandiya, cần phải tùy niệm thí của mình: “Thật có lợi cho ta! Thật khéo có lợi cho ta, rằng ta sống an trú với tâm ly cấu uế, xan tham, cùng với quần chúng bị xan tham ám ảnh, bố thí rộng rãi, với bàn tay sạch sẽ, ưa thích từ bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, ưa thích phân phát vật bố thí”. Này Nandiya, như vậy duyên vào thí, Ông hãy an trú niệm trong nội tâm.
TTC 8Lại nữa, này Nandiya, hãy tùy niệm chư Thiên: “Các chư Thiên ấy, vượt qua sự cộng trú với chư Thiên dùng các món ăn đoàn thực, được sanh với thân do ý tác thành, các chư Thiên ấy quán thấy tự mình không có gì nữa phải làm, không cần phải làm lại những gì đã làm. Ví như, này Nandiya, Tỷ-kheo được phi thời giải thoát quán thấy tự mình không có gì nữa phải làm, không cần phải làm lại những gì đã làm. Cũng vậy, này Nandiya, các chư Thiên ấy vượt qua sự cộng trú với chư Thiên dùng các món ăn đoàn thực, được sanh với thân do ý tác thành, các chư Thiên ấy quán thấy tự mình không có gì nữa phải làm, không cần phải làm lại những gì đã làm. Như vậy, này Nandiya, duyên vào chư Thiên, Ông hãy an trú niệm trong nội tâm.
Thành tựu với mười một pháp này, này Nandiya, vị Thánh đệ tử từ bỏ các ác bất thiện pháp, không chấp thủ chúng. Ví như, này Nandiya, một cái ghè bị úp ngược, nước đã đổ ra, không thể đem hốt lại. Ví như ngọn lửa đốt một khóm rừng đầy cỏ khô đã được cháy lan tới, không có trở lui đốt lại vật đã bị cháy. Cũng vậy, này Nandiya, thành tựu với mười một pháp này, vị Thánh đệ tử từ bỏ các ác bất thiện pháp, không có chấp thủ chúng.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme.
Tena kho pana samayena bhagavā sāvatthiyaṁ vassāvāsaṁ upagantukāmo hoti.
Assosi kho nandiyo sakko:
“bhagavā kira sāvatthiyaṁ vassāvāsaṁ upagantukāmo”ti.
Atha kho nandiyassa sakkassa etadahosi:
“yannūnāhampi sāvatthiyaṁ vassāvāsaṁ upagaccheyyaṁ.
Tattha kammantañceva adhiṭṭhahissāmi, bhagavantañca lacchāmi kālena kālaṁ dassanāyā”ti.
Atha kho bhagavā sāvatthiyaṁ vassāvāsaṁ upagacchi.
Nandiyopi kho sakko sāvatthiyaṁ vassāvāsaṁ upagacchi.
Tattha kammantañceva adhiṭṭhāsi, bhagavantañca labhi kālena kālaṁ dassanāya.
Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū bhagavato cīvarakammaṁ karonti:
“niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena cārikaṁ pakkamissatī”ti.
Assosi kho nandiyo sakko:
“sambahulā kira bhikkhū bhagavato cīvarakammaṁ karonti:
‘niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena cārikaṁ pakkamissatī’”ti.
Atha kho nandiyo sakko yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho nandiyo sakko bhagavantaṁ etadavoca:
“sutaṁ metaṁ, bhante:
‘sambahulā kira bhikkhū bhagavato cīvarakammaṁ karonti—
niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena cārikaṁ pakkamissatī’ti.
Tesaṁ no, bhante, nānāvihārehi viharataṁ kenassa vihārena vihātabban”ti?
“Sādhu sādhu, nandiya.
Etaṁ kho, nandiya, tumhākaṁ patirūpaṁ kulaputtānaṁ, yaṁ tumhe tathāgataṁ upasaṅkamitvā puccheyyātha:
‘tesaṁ no, bhante, nānāvihārehi viharataṁ kenassa vihārena vihātabban’ti?
Saddho kho, nandiya, ārādhako hoti, no assaddho;
sīlavā ārādhako hoti, no dussīlo;
āraddhavīriyo ārādhako hoti, no kusīto;
upaṭṭhitassati ārādhako hoti, no muṭṭhassati;
samāhito ārādhako hoti, no asamāhito;
paññavā ārādhako hoti, no duppañño.
Imesu kho te, nandiya, chasu dhammesu patiṭṭhāya pañcasu dhammesu ajjhattaṁ sati upaṭṭhāpetabbā.
Idha tvaṁ, nandiya, tathāgataṁ anussareyyāsi:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi, satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti.
Iti kho te, nandiya, tathāgataṁ ārabbha ajjhattaṁ sati upaṭṭhāpetabbā.
Puna caparaṁ tvaṁ, nandiya, dhammaṁ anussareyyāsi:
‘svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī’ti.
Iti kho te, nandiya, dhammaṁ ārabbha ajjhattaṁ sati upaṭṭhāpetabbā.
Puna caparaṁ tvaṁ, nandiya, kalyāṇamitte anussareyyāsi:
‘lābhā vata me, suladdhaṁ vata me,
yassa me kalyāṇamittā anukampakā atthakāmā ovādakā anusāsakā’ti.
Iti kho te, nandiya, kalyāṇamitte ārabbha ajjhattaṁ sati upaṭṭhāpetabbā.
Puna caparaṁ tvaṁ, nandiya, attano cāgaṁ anussareyyāsi:
‘lābhā vata me, suladdhaṁ vata me,
yohaṁ maccheramalapariyuṭṭhitāya pajāya vigatamalamaccherena cetasā agāraṁ ajjhāvasāmi muttacāgo payatapāṇi vossaggarato yācayogo dānasaṁvibhāgarato’ti.
Iti kho te, nandiya, cāgaṁ ārabbha ajjhattaṁ sati upaṭṭhāpetabbā.
Puna caparaṁ tvaṁ, nandiya, devatā anussareyyāsi:
‘yā devatā atikkammeva kabaḷīkārāhārabhakkhānaṁ devatānaṁ sahabyataṁ aññataraṁ manomayaṁ kāyaṁ upapannā, tā karaṇīyaṁ attano na samanupassanti katassa vā paticayaṁ’.
Seyyathāpi, nandiya, bhikkhu asamayavimutto karaṇīyaṁ attano na samanupassati katassa vā paticayaṁ;
evamevaṁ kho, nandiya, yā tā devatā atikkammeva kabaḷīkārāhārabhakkhānaṁ devatānaṁ sahabyataṁ aññataraṁ manomayaṁ kāyaṁ upapannā, tā karaṇīyaṁ attano na samanupassanti katassa vā paticayaṁ.
Iti kho te, nandiya, devatā ārabbha ajjhattaṁ sati upaṭṭhāpetabbā.
Imehi kho, nandiya, ekādasahi dhammehi samannāgato ariyasāvako pajahateva pāpake akusale dhamme, na upādiyati.
Seyyathāpi, nandiya, kumbho nikkujjo vamateva udakaṁ, no vantaṁ paccāvamati;
seyyathāpi vā pana, nandiya, sukkhe tiṇadāye aggi mutto ḍahaññeva gacchati, no daḍḍhaṁ paccudāvattati;
evamevaṁ kho, nandiya, imehi ekādasahi dhammehi samannāgato ariyasāvako pajahateva pāpake akusale dhamme, na upādiyatī”ti.
Tatiyaṁ.
At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans, near Kapilavatthu in the Banyan Tree Monastery.
Now at that time the Buddha wanted to commence the rains residence at Sāvatthī.
Nandiya the Sakyan heard about this,
and thought,
“Why don’t I also commence the rains residence at Sāvatthī.
There I can focus on my work and from time to time get to see the Buddha.”
So the Buddha commenced the rains residence in Sāvatthī,
and so did Nandiya.
There he focused on his work and from time to time got to see the Buddha.
At that time several mendicants were making a robe for the Buddha, thinking that
when his robe was finished and the three months of the rains residence had passed the Buddha would set out wandering.
Nandiya the Sakyan heard about this.
He went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, I have heard that
several mendicants are making a robe for the Buddha, thinking that
when his robe was finished and the three months of the rains residence had passed the Buddha would set out wandering.
Now, we spend our life in various ways. Which of these should we practice?”
“Good, good Nandiya!
It’s appropriate that gentlemen such as you come to me and ask:
‘We spend our life in various ways. Which of these should we practice?’
The faithful succeed, not the faithless.
The ethical succeed, not the unethical.
The energetic succeed, not the lazy.
The mindful succeed, not the unmindful.
Those with immersion succeed, not those without immersion.
The wise succeed, not the witless.
When you’re grounded on these six things, go on to establish mindfulness on five further things internally.
Firstly, you should recollect the Realized One:
‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’
In this way you should establish mindfulness internally based on the Realized One.
Furthermore, you should recollect the teaching:
‘The teaching is well explained by the Buddha—apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.’
In this way you should establish mindfulness internally based on the teaching.
Furthermore, you should recollect your good friends:
‘I’m fortunate, so very fortunate,
to have good friends who advise and instruct me out of kindness and sympathy.’
In this way you should establish mindfulness internally based on good friends.
Furthermore, you should recollect your own generosity:
‘I’m so fortunate, so very fortunate.
Among people with hearts full of the stain of stinginess I live at home rid of stinginess, freely generous, open-handed, loving to let go, committed to charity, loving to give and to share.’
In this way you should establish mindfulness internally based on generosity.
Furthermore, you should recollect the deities:
‘There are deities who, surpassing the company of deities that consume edible food, are reborn in a certain host of mind-made deities. They don’t see in themselves anything more to do, or anything that needs improvement.’
An irreversibly freed mendicant doesn’t see in themselves anything more to do, or anything that needs improvement.
In the same way, Nandiya, there are deities who, surpassing the company of deities that consume edible food, are reborn in a certain host of mind-made deities. They don’t see in themselves anything more to do, or anything that needs improvement.
In this way you should establish mindfulness internally based on the deities.
A noble disciple who possesses these eleven qualities gives up bad, unskillful qualities and doesn’t cling to them.
It’s like when a pot full of water is tipped over, so the water drains out and doesn’t go back in.
Suppose there was an uncontrolled fire. It advances burning up dry woodlands and doesn’t turn back over what it has burned.
In the same way, a noble disciple who possesses these eleven qualities gives up bad, unskillful qualities and doesn’t cling to them.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, khu vườn Nigrodha. Lúc bấy giờ, Thế Tôn muốn an cư vào mùa mưa tại Sàvatthi. Họ Thích Nandiya được nghe: “Thế Tôn muốn an cư vào mùa mưa tại Sàvatthi”. Họ Thích Nandiya suy nghĩ như sau: “Ta hãy đến trú ở Sàvatthi vào mùa mưa. Tại đây, ta sẽ chăm lo công việc, và thỉnh thoảng có dịp được yết kiến Thế Tôn”. Rồi Thế Tôn đến trú ở Sàvatthi trong mùa mưa và họ Thích Nandiya cùng đến trú ở Sàvatthi vào mùa mưa, và tại đấy chăm lo công việc, và thỉnh thoảng có dịp được yết kiến Thế Tôn.
TTC 2Lúc bấy giờ, nhiều vị Tỷ-kheo làm y cho Thế Tôn, nghĩ rằng: “Khi y làm xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ bộ hành ra đi”. Họ Thích Nandiya được nghe: “Khi y làm xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ bộ hành ra đi”. Họ Thích Nandiya đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, họ Thích Nandiya bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con nghe nói, nhiều Tỷ-kheo làm y cho Thế Tôn, nghĩ rằng: “Khi y làm xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ bộ hành ra đi”. Bạch Thế Tôn, giữa những người an trú với những an trú khác nhau, chúng con nên an trú với an trú của ai?
TTC 3Lành thay, lành thay, này Nandiya. như vậy thật xứng đáng cho thiện nam tử các Ông, sau khi đi đến Thế Tôn đã hỏi như vậy: “Bạch Thế Tôn, giữa các người an trú với các an trú khác nhau, chúng con nên an trú với an trú của ai? “. Này Nandiya, hãy nhập cuộc với lòng tin, không với không có lòng tin. Hãy nhập cuộc với có giới, không phải với không giới. Hãy nhập cuộc với tinh cần tinh tấn, không với biếng nhác. Hãy nhập cuộc với trú niệm, không với thất niệm. Hãy nhập cuộc với định, không với không định. Hãy nhập cuộc với trí tuệ, không với liệt tuệ.
Sau khi an trú trong sáu pháp, này Nandiya, hãy tu tập thêm nữa năm pháp này.
TTC 4Ở đây, này Nandiya, Ông hãy tùy niệm Như Lai: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Như vậy, này Nandiya, duyên vào Như Lai, ông hãy an trú niệm trong nội tâm.
TTC 5Lại nữa, này Nandiya, Ông phải tùy niệm Pháp: “Pháp được Thế Tôn khéo nói, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. Như vậy, này Nandiya, duyên vào Pháp, Ông hãy an trú niệm trong nội tâm.
TTC 6Lại nữa, này Nandiya, cần phải tùy niệm bạn lành: “Thật có lợi cho ta! Thật khéo có lợi cho ta, rằng ta có các bạn lành biết thương mến ta, muốn ta được lợi ích, giáo giới giảng dạy”. Như vậy, này Nandiya, duyên vào bạn lành, Ông hãy an trú niệm trong nội tâm.
TTC 7Lại nữa, này Nandiya, cần phải tùy niệm thí của mình: “Thật có lợi cho ta! Thật khéo có lợi cho ta, rằng ta sống an trú với tâm ly cấu uế, xan tham, cùng với quần chúng bị xan tham ám ảnh, bố thí rộng rãi, với bàn tay sạch sẽ, ưa thích từ bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, ưa thích phân phát vật bố thí”. Này Nandiya, như vậy duyên vào thí, Ông hãy an trú niệm trong nội tâm.
TTC 8Lại nữa, này Nandiya, hãy tùy niệm chư Thiên: “Các chư Thiên ấy, vượt qua sự cộng trú với chư Thiên dùng các món ăn đoàn thực, được sanh với thân do ý tác thành, các chư Thiên ấy quán thấy tự mình không có gì nữa phải làm, không cần phải làm lại những gì đã làm. Ví như, này Nandiya, Tỷ-kheo được phi thời giải thoát quán thấy tự mình không có gì nữa phải làm, không cần phải làm lại những gì đã làm. Cũng vậy, này Nandiya, các chư Thiên ấy vượt qua sự cộng trú với chư Thiên dùng các món ăn đoàn thực, được sanh với thân do ý tác thành, các chư Thiên ấy quán thấy tự mình không có gì nữa phải làm, không cần phải làm lại những gì đã làm. Như vậy, này Nandiya, duyên vào chư Thiên, Ông hãy an trú niệm trong nội tâm.
Thành tựu với mười một pháp này, này Nandiya, vị Thánh đệ tử từ bỏ các ác bất thiện pháp, không chấp thủ chúng. Ví như, này Nandiya, một cái ghè bị úp ngược, nước đã đổ ra, không thể đem hốt lại. Ví như ngọn lửa đốt một khóm rừng đầy cỏ khô đã được cháy lan tới, không có trở lui đốt lại vật đã bị cháy. Cũng vậy, này Nandiya, thành tựu với mười một pháp này, vị Thánh đệ tử từ bỏ các ác bất thiện pháp, không có chấp thủ chúng.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme.
Tena kho pana samayena bhagavā sāvatthiyaṁ vassāvāsaṁ upagantukāmo hoti.
Assosi kho nandiyo sakko:
“bhagavā kira sāvatthiyaṁ vassāvāsaṁ upagantukāmo”ti.
Atha kho nandiyassa sakkassa etadahosi:
“yannūnāhampi sāvatthiyaṁ vassāvāsaṁ upagaccheyyaṁ.
Tattha kammantañceva adhiṭṭhahissāmi, bhagavantañca lacchāmi kālena kālaṁ dassanāyā”ti.
Atha kho bhagavā sāvatthiyaṁ vassāvāsaṁ upagacchi.
Nandiyopi kho sakko sāvatthiyaṁ vassāvāsaṁ upagacchi.
Tattha kammantañceva adhiṭṭhāsi, bhagavantañca labhi kālena kālaṁ dassanāya.
Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū bhagavato cīvarakammaṁ karonti:
“niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena cārikaṁ pakkamissatī”ti.
Assosi kho nandiyo sakko:
“sambahulā kira bhikkhū bhagavato cīvarakammaṁ karonti:
‘niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena cārikaṁ pakkamissatī’”ti.
Atha kho nandiyo sakko yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho nandiyo sakko bhagavantaṁ etadavoca:
“sutaṁ metaṁ, bhante:
‘sambahulā kira bhikkhū bhagavato cīvarakammaṁ karonti—
niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena cārikaṁ pakkamissatī’ti.
Tesaṁ no, bhante, nānāvihārehi viharataṁ kenassa vihārena vihātabban”ti?
“Sādhu sādhu, nandiya.
Etaṁ kho, nandiya, tumhākaṁ patirūpaṁ kulaputtānaṁ, yaṁ tumhe tathāgataṁ upasaṅkamitvā puccheyyātha:
‘tesaṁ no, bhante, nānāvihārehi viharataṁ kenassa vihārena vihātabban’ti?
Saddho kho, nandiya, ārādhako hoti, no assaddho;
sīlavā ārādhako hoti, no dussīlo;
āraddhavīriyo ārādhako hoti, no kusīto;
upaṭṭhitassati ārādhako hoti, no muṭṭhassati;
samāhito ārādhako hoti, no asamāhito;
paññavā ārādhako hoti, no duppañño.
Imesu kho te, nandiya, chasu dhammesu patiṭṭhāya pañcasu dhammesu ajjhattaṁ sati upaṭṭhāpetabbā.
Idha tvaṁ, nandiya, tathāgataṁ anussareyyāsi:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi, satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti.
Iti kho te, nandiya, tathāgataṁ ārabbha ajjhattaṁ sati upaṭṭhāpetabbā.
Puna caparaṁ tvaṁ, nandiya, dhammaṁ anussareyyāsi:
‘svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī’ti.
Iti kho te, nandiya, dhammaṁ ārabbha ajjhattaṁ sati upaṭṭhāpetabbā.
Puna caparaṁ tvaṁ, nandiya, kalyāṇamitte anussareyyāsi:
‘lābhā vata me, suladdhaṁ vata me,
yassa me kalyāṇamittā anukampakā atthakāmā ovādakā anusāsakā’ti.
Iti kho te, nandiya, kalyāṇamitte ārabbha ajjhattaṁ sati upaṭṭhāpetabbā.
Puna caparaṁ tvaṁ, nandiya, attano cāgaṁ anussareyyāsi:
‘lābhā vata me, suladdhaṁ vata me,
yohaṁ maccheramalapariyuṭṭhitāya pajāya vigatamalamaccherena cetasā agāraṁ ajjhāvasāmi muttacāgo payatapāṇi vossaggarato yācayogo dānasaṁvibhāgarato’ti.
Iti kho te, nandiya, cāgaṁ ārabbha ajjhattaṁ sati upaṭṭhāpetabbā.
Puna caparaṁ tvaṁ, nandiya, devatā anussareyyāsi:
‘yā devatā atikkammeva kabaḷīkārāhārabhakkhānaṁ devatānaṁ sahabyataṁ aññataraṁ manomayaṁ kāyaṁ upapannā, tā karaṇīyaṁ attano na samanupassanti katassa vā paticayaṁ’.
Seyyathāpi, nandiya, bhikkhu asamayavimutto karaṇīyaṁ attano na samanupassati katassa vā paticayaṁ;
evamevaṁ kho, nandiya, yā tā devatā atikkammeva kabaḷīkārāhārabhakkhānaṁ devatānaṁ sahabyataṁ aññataraṁ manomayaṁ kāyaṁ upapannā, tā karaṇīyaṁ attano na samanupassanti katassa vā paticayaṁ.
Iti kho te, nandiya, devatā ārabbha ajjhattaṁ sati upaṭṭhāpetabbā.
Imehi kho, nandiya, ekādasahi dhammehi samannāgato ariyasāvako pajahateva pāpake akusale dhamme, na upādiyati.
Seyyathāpi, nandiya, kumbho nikkujjo vamateva udakaṁ, no vantaṁ paccāvamati;
seyyathāpi vā pana, nandiya, sukkhe tiṇadāye aggi mutto ḍahaññeva gacchati, no daḍḍhaṁ paccudāvattati;
evamevaṁ kho, nandiya, imehi ekādasahi dhammehi samannāgato ariyasāvako pajahateva pāpake akusale dhamme, na upādiyatī”ti.
Tatiyaṁ.