TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có mười trường hợp hiềm hận. Thế nào là mười?
TTC 2Hiềm hận được kết thành, khi nghĩ rằng: “Nó đã làm hại ta”. Hiềm hận được kết thành, khi nghĩ rằng: “Nó đang làm hại ta”. Hiềm hận được kết thành, khi nghĩ rằng: “Nó sẽ làm hại ta”. Hiềm hận được kết thành, khi nghĩ rằng: “Nó đã hại người ta yêu, người ta mến…” “Nó đang hại người ta yêu, hại người ta mến…” “Nó sẽ hại người ta yêu, người ta mến”. Hiềm hận được kết thành, khi nghĩ rằng: “Nó đã làm lợi cho người ta không yêu, người ta không mến”. Hiềm hận được kết thành, khi nghĩ rằng: “ Nó đang làm lợi cho người ta không yêu, người ta không mến”. Hiềm hận được kết thành, khi nghĩ rằng: “Nó sẽ làm lợi cho người ta không yêu, người ta không mến”. Làm cho vị ấy tức giận không có lý do.
Này các Tỷ-kheo, có mười trường hợp hiềm hận này.
“Dasayimāni, bhikkhave, āghātavatthūni.
Katamāni dasa?
‘Anatthaṁ me acarī’ti āghātaṁ bandhati;
‘anatthaṁ me caratī’ti āghātaṁ bandhati;
‘anatthaṁ me carissatī’ti āghātaṁ bandhati;
‘piyassa me manāpassa anatthaṁ acarī’ti …pe…
‘anatthaṁ caratī’ti …pe…
‘anatthaṁ carissatī’ti āghātaṁ bandhati,
‘appiyassa me amanāpassa atthaṁ acarī’ti …pe…
‘atthaṁ caratī’ti …pe…
‘atthaṁ carissatī’ti āghātaṁ bandhati;
aṭṭhāne ca kuppati—
imāni kho, bhikkhave, dasa āghātavatthūnī”ti.
Navamaṁ.
“Mendicants, there are ten grounds for resentment.
What ten?
Thinking: ‘They did wrong to me,’ you harbor resentment.
Thinking: ‘They are doing wrong to me’ …
‘They will do wrong to me’ …
‘They did wrong by someone I love’ …
‘They are doing wrong by someone I love’ …
‘They will do wrong by someone I love’ …
‘They helped someone I dislike’ …
‘They are helping someone I dislike’ …
Thinking: ‘They will help someone I dislike,’ you harbor resentment.
You get angry for no reason.
These are the ten grounds for resentment.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có mười trường hợp hiềm hận. Thế nào là mười?
TTC 2Hiềm hận được kết thành, khi nghĩ rằng: “Nó đã làm hại ta”. Hiềm hận được kết thành, khi nghĩ rằng: “Nó đang làm hại ta”. Hiềm hận được kết thành, khi nghĩ rằng: “Nó sẽ làm hại ta”. Hiềm hận được kết thành, khi nghĩ rằng: “Nó đã hại người ta yêu, người ta mến…” “Nó đang hại người ta yêu, hại người ta mến…” “Nó sẽ hại người ta yêu, người ta mến”. Hiềm hận được kết thành, khi nghĩ rằng: “Nó đã làm lợi cho người ta không yêu, người ta không mến”. Hiềm hận được kết thành, khi nghĩ rằng: “ Nó đang làm lợi cho người ta không yêu, người ta không mến”. Hiềm hận được kết thành, khi nghĩ rằng: “Nó sẽ làm lợi cho người ta không yêu, người ta không mến”. Làm cho vị ấy tức giận không có lý do.
Này các Tỷ-kheo, có mười trường hợp hiềm hận này.
“Dasayimāni, bhikkhave, āghātavatthūni.
Katamāni dasa?
‘Anatthaṁ me acarī’ti āghātaṁ bandhati;
‘anatthaṁ me caratī’ti āghātaṁ bandhati;
‘anatthaṁ me carissatī’ti āghātaṁ bandhati;
‘piyassa me manāpassa anatthaṁ acarī’ti …pe…
‘anatthaṁ caratī’ti …pe…
‘anatthaṁ carissatī’ti āghātaṁ bandhati,
‘appiyassa me amanāpassa atthaṁ acarī’ti …pe…
‘atthaṁ caratī’ti …pe…
‘atthaṁ carissatī’ti āghātaṁ bandhati;
aṭṭhāne ca kuppati—
imāni kho, bhikkhave, dasa āghātavatthūnī”ti.
Navamaṁ.