TTC 1Một thời, Thế Tôn ở giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu khu vườn Nigrodha. Rồi thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha đi đến Tôn giả Mahàmoggalàna; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahàmoggalàna rồi ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahàmoggallàna nói với Thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha đang ngồi một bên:
—Ở đây, này Vappa, có thể có người với thân chế ngự, với lời chế ngự, với ý chế ngự, vô minh được viễn ly, minh được sanh khởi. Ông có thấy người ấy, do một nhân duyên nào, các lậu hoặc khiến họ cảm thọ đau khổ có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai?
—Thưa Tôn giả, con có thể thấy trường hợp ấy. Ở đây thưa Tôn giả, do ác nghiệp tạo ra về trước chưa đưa đến quả dị thục, do một nhân duyên ấy, các lậu hoặc khiến họ cảm thọ đau khổ có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai.
Và câu chuyện này giữa Tôn giả Mahàmoggallàna và Thích tử Vappa, đệ tử của Niganthà bị bỏ dở.
TTC 2Rồi Thế Tôn vào buổi chiều từ Thiền Tịnh đứng dậy đi đến hội trường; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xuống, Thế Tôn nói với Tôn giả Mahàmoggallàna:
—Này Mahàmoggallàna, câu chuyện gì được nói đến, khi các Ông ngồi tụ họp ở đây? Và câu chuyện giữa các Ông chưa được nói xong?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con nói với Thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha: “Ở đây, này Vappa, có thể có người với thân chế ngự, với lời chế ngự, với ý chế ngự, vô minh được viễn ly, minh được sanh khởi. Ông có thấy người ấy, do một nhân duyên nào, các lậu hoặc khiến họ cảm thọ đau khổ có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai?” Bạch Thế Tôn, khi được nói như vậy, Thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha nói với con như sau: “Thưa Tôn giả, con có thể thấy trường hợp ấy. Ở đây thưa Tôn giả, do ác nghiệp tạo ra về trước chưa đưa đến quả dị thục, do nhân duyên ấy, các lậu hoặc khiến họ cảm thọ đau khổ có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai!”. Bạch Thế Tôn, ở đây là câu chuyện giữa Thích Tử Vappa, đệ tử của Nigantha và chúng con, câu chuyện bị bỏ dở khi Thế Tôn đến!
TTC 3Rồi Thế Tôn nói với Thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha:
—Này Vappa, nếu Ông có thể chấp nhận điều Ông có thể chấp nhận, và có thể bác bỏ điều đáng được bác bỏ, và trong trường hợp Ông không có thể biết được ý nghĩa lời nói của Ta, nếu Ông hỏi ta thêm về vấn đề ấy: “Bạch Thế Tôn, lời nói này, ý nghĩa là gì?”, thời có thể có cuộc nói chuyện giữa chúng ta.
—Bạch Thế Tôn, con có thể chấp nhận điều con có thể chấp nhận, và có thể bác bỏ điều đáng được bác bỏ, và trong trường hợp con không có thể biết được ý nghĩa lời nói của Thế Tôn, con sẽ hỏi Thế Tôn thêm về vấn đề ấy: “Bạch Thế Tôn, lời nói này, ý nghĩa là gì?”, mong rằng ở đây có cuộc nói chuyện giữa chúng ta.
TTC 4—Ý Ông nghĩ thế nào, này Vappa? Nếu do nhân duyên thân khởi động, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não khởi lên; với người chế ngự được thân khởi động, như vậy, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não ấy không có nơi người ấy nữa. Người ấy không làm nghiệp mới, còn hành động trước của người ấy, do cảm xúc thường xuyên được chấm dứt; con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Này Vappa, Ông có thấy trường hợp ấy, do nhân duyên này, các lậu hoặc khiến cảm thọ khổ đau có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn!
TTC 5—Ý Ông nghĩ thế nào, này Vappa? Nếu do nhân duyên lời khởi động, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não khởi lên; với người chế ngự được lời khởi động, như vậy, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não ấy không có nơi người ấy nữa. Người ấy không làm nghiệp mới, còn hành động trước của người ấy, do cảm xúc thường xuyên được chấm dứt; con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Này Vappa, Ông có thấy trường hợp ấy, do nhân duyên này, … trong tương lai không?
-—Thưa không, bạch Thế Tôn
TTC 6—Ý Ông nghĩ thế nào, này Vappa? Nếu do nhân duyên ý khởi động, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não khởi lên; với người chế ngự được ý khởi động, như vậy, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não ấy không có với người ấy nữa. Người ấy không làm nghiệp mới, còn hành động trước của người ấy, do cảm xúc thường xuyên được chấm dứt; con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Này Vappa, Ông có thấy trường hợp ấy, do nhân duyên này, các lậu hoặc khiến cảm thọ khổ đau có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn!
TTC 7—Ý Ông nghĩ thế nào, này Vappa? Ðối với các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não ấy do duyên vô minh khởi lên, vô minh được ly tham, minh được khởi lên, như vậy, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não ấy không có với người ấy nữa. Người ấy không làm nghiệp mới, còn hành động trước của người ấy, do cảm xúc thường xuyên được chấm dứt; con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Này Vappa, Ông có thấy do lý do nào, các lậu hoặc khiến cảm thọ khổ đau có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn!
TTC 8—Như vậy, này Vappa, với vị Tỷ-kheo có tâm được chơn chánh giải thoát, sáu an trú thường hằng được chứng đắc. Vị ấy, khi mắt thấy sắc, không có ý đẹp, không có phật ý, trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Khi tai nghe tiếng, khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc … khi ý thức tri pháp, không có ý đẹp, không có phật ý, trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân, vị ấy quán tri: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân”. Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng, vị ấy quán tri: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng”. Vị ấy quán tri: “Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây tất cả các cảm thọ không còn hỷ lạc, sẽ trở thành vắng lạnh”.
TTC 9Ví như, này Vappa, duyên một thân cây, bóng cây hiện ra. Rồi có người đến cầm các cuốc và cái giỏ, chặt thân cây ấy ở nơi rễ. Sau khi chặt ở nơi rễ, người ấy đào cái mương. Sau khi đào cái mương, người ấy nhổ lên các rễ lớn cho đến các rễ con và rễ phụ. Rồi người ấy chặt cây ấy thành từng khúc, sau khi chặt tùng khúc, người ấy bửa. Sau khi bửa, người ấy chẻ thành từng miếng nhỏ. Sau khi chẻ thành từng miếng nhỏ, người ấy phơi giữa gió và nắng, người ấy lấy lửa đốt. Sau khi lấy lửa đốt, người ấy vun thành đống tro. Sau khi người ấy vun thành đống tro, người ấy sàng tro giữa gió lớn, hay để tro ấy vào dòng nước mạnh cho nước cuốn đi. Như vậy, này Vappa, do duyên thân cây nên có bóng cây. Bóng cây ấy, rễ bị chấm dứt, làm thành như thân cây tala, làm cho không thể tái sanh trong tương lai, không thể sống lại được. Cũng vậy, này Vappa, vị Tỷ-kheo có tâm được chơn chánh giải thoát, sáu an trú thường hằng được chứng đắc. Vị ấy, khi mắt thấy sắc, không có ý đẹp, không có phật ý, trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Khi tai nghe tiếng.., khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc … khi ý thức tri pháp, không có ý đẹp, không có phật ý, trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân”. Vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng”. Vị ấy biết: “Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây tất cả các cảm thọ không còn hỷ lạc, sẽ trở thành vắng lạnh”.
TTC 10Khi được nói như vậy, Thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha bạch Thế Tôn:
—Ví như, bạch Thế Tôn, một người mong ước được tài sản, lo nuôi dưỡng tài sản của mình, nhưng không được tăng trưởng gì, trái lại chỉ được mệt nhọc và dự phần vào phiền muộn. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con cầu mong được lợi ích khi con hầu hạ kẻ ngu Nigantha này. Con đã không được lợi ích gì, trái lại con chỉ được mệt nhọc và dự phần vào phiền muộn. Bắt đầu từ hôm này, bạch Thế Tôn, với lòng tin gì con đã có với kẻ ngu Nigantha, con sẽ sàng lòng tin ấy giữa gió lớn, hay để lòng tin ấy vào dòng nước lạnh cho nước cuốn đi.
—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn, … Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme.
Atha kho vappo sakko nigaṇṭhasāvako yenāyasmā mahāmoggallāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho vappaṁ sakkaṁ nigaṇṭhasāvakaṁ āyasmā mahāmoggallāno etadavoca:
“Idhassa, vappa, kāyena saṁvuto vācāya saṁvuto manasā saṁvuto avijjāvirāgā vijjuppādā.
Passasi no tvaṁ, vappa, taṁ ṭhānaṁ yatonidānaṁ purisaṁ dukkhavedaniyā āsavā assaveyyuṁ abhisamparāyan”ti?
“Passāmahaṁ, bhante, taṁ ṭhānaṁ.
Idhassa, bhante, pubbe pāpakammaṁ kataṁ avipakkavipākaṁ.
Tatonidānaṁ purisaṁ dukkhavedaniyā āsavā assaveyyuṁ abhisamparāyan”ti.
Ayañceva kho pana āyasmato mahāmoggallānassa vappena sakkena nigaṇṭhasāvakena saddhiṁ antarākathā vippakatā hoti.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena upaṭṭhānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ etadavoca:
“Kāya nuttha, moggallāna, etarahi kathāya sannisinnā; kā ca pana vo antarākathā vippakatā”ti?
“Idhāhaṁ, bhante, vappaṁ sakkaṁ nigaṇṭhasāvakaṁ etadavocaṁ:
‘idhassa, vappa, kāyena saṁvuto vācāya saṁvuto manasā saṁvuto avijjāvirāgā vijjuppādā.
Passasi no tvaṁ, vappa, taṁ ṭhānaṁ yatonidānaṁ purisaṁ dukkhavedaniyā āsavā assaveyyuṁ abhisamparāyan’ti?
Evaṁ vutte, bhante, vappo sakko nigaṇṭhasāvako maṁ etadavoca:
‘passāmahaṁ, bhante, taṁ ṭhānaṁ.
Idhassa, bhante, pubbe pāpakammaṁ kataṁ avipakkavipākaṁ.
Tatonidānaṁ purisaṁ dukkhavedaniyā āsavā assaveyyuṁ abhisamparāyan’ti.
Ayaṁ kho no, bhante, vappena sakkena nigaṇṭhasāvakena saddhiṁ antarākathā vippakatā; atha bhagavā anuppatto”ti.
Atha kho bhagavā vappaṁ sakkaṁ nigaṇṭhasāvakaṁ etadavoca:
“sace me tvaṁ, vappa, anuññeyyañceva anujāneyyāsi, paṭikkositabbañca paṭikkoseyyāsi, yassa ca me bhāsitassa atthaṁ na jāneyyāsi mamevettha uttari paṭipuccheyyāsi:
‘idaṁ, bhante, kathaṁ, imassa ko attho’ti, siyā no ettha kathāsallāpo”ti.
“Anuññeyyañcevāhaṁ, bhante, bhagavato anujānissāmi, paṭikkositabbañca paṭikkosissāmi, yassa cāhaṁ bhagavato bhāsitassa atthaṁ na jānissāmi bhagavantaṁyevettha uttari paṭipucchissāmi:
‘idaṁ, bhante, kathaṁ, imassa ko attho’ti?
Hotu no ettha kathāsallāpo”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, vappa,
ye kāyasamārambhapaccayā uppajjanti āsavā vighātapariḷāhā, kāyasamārambhā paṭiviratassa evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti.
So navañca kammaṁ na karoti, purāṇañca kammaṁ phussa phussa byantīkaroti, sandiṭṭhikā nijjarā akālikā ehipassikā opaneyyikā paccattaṁ veditabbā viññūhi.
Passasi no tvaṁ, vappa, taṁ ṭhānaṁ yatonidānaṁ purisaṁ dukkhavedaniyā āsavā assaveyyuṁ abhisamparāyan”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññasi, vappa,
ye vacīsamārambhapaccayā uppajjanti āsavā vighātapariḷāhā, vacīsamārambhā paṭiviratassa evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti.
So navañca kammaṁ na karoti, purāṇañca kammaṁ phussa phussa byantīkaroti.
Sandiṭṭhikā nijjarā akālikā ehipassikā opaneyyikā paccattaṁ veditabbā viññūhi.
Passasi no tvaṁ, vappa, taṁ ṭhānaṁ yatonidānaṁ purisaṁ dukkhavedaniyā āsavā assaveyyuṁ abhisamparāyan”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññasi, vappa,
ye manosamārambhapaccayā uppajjanti āsavā vighātapariḷāhā, manosamārambhā paṭiviratassa evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti.
So navañca kammaṁ na karoti, purāṇañca kammaṁ phussa phussa byantīkaroti.
Sandiṭṭhikā nijjarā akālikā ehipassikā opaneyyikā paccattaṁ veditabbā viññūhi.
Passasi no tvaṁ, vappa, taṁ ṭhānaṁ yatonidānaṁ purisaṁ dukkhavedaniyā āsavā assaveyyuṁ abhisamparāyan”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññasi, vappa,
ye avijjāpaccayā uppajjanti āsavā vighātapariḷāhā, avijjāvirāgā vijjuppādā evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti.
So navañca kammaṁ na karoti, purāṇañca kammaṁ phussa phussa byantīkaroti.
Sandiṭṭhikā nijjarā akālikā ehipassikā opaneyyikā paccattaṁ veditabbā viññūhi.
Passasi no tvaṁ, vappa, taṁ ṭhānaṁ yatonidānaṁ purisaṁ dukkhavedaniyā āsavā assaveyyuṁ abhisamparāyan”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Evaṁ sammā vimuttacittassa kho, vappa, bhikkhuno cha satatavihārā adhigatā honti.
So cakkhunā rūpaṁ disvā neva sumano hoti na dummano; upekkhako viharati sato sampajāno.
Sotena saddaṁ sutvā …pe…
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …pe…
jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe…
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …pe…
manasā dhammaṁ viññāya neva sumano hoti na dummano; upekkhako viharati sato sampajāno.
So kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vediyamāno ‘kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vediyāmī’ti pajānāti; jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vediyamāno ‘jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vediyāmī’ti pajānāti;
‘kāyassa bhedā uddhaṁ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītī bhavissantī’ti pajānāti.
Seyyathāpi, vappa, thūṇaṁ paṭicca chāyā paññāyati.
Atha puriso āgaccheyya kuddālapiṭakaṁ ādāya.
So taṁ thūṇaṁ mūle chindeyya;
mūle chinditvā palikhaṇeyya;
palikhaṇitvā mūlāni uddhareyya, antamaso usīranāḷimattānipi.
So taṁ thūṇaṁ khaṇḍākhaṇḍikaṁ chindeyya.
Khaṇḍākhaṇḍikaṁ chetvā phāleyya.
Phāletvā sakalikaṁ sakalikaṁ kareyya.
Sakalikaṁ sakalikaṁ katvā vātātape visoseyya.
Vātātape visosetvā agginā ḍaheyya.
Agginā ḍahetvā masiṁ kareyya.
Masiṁ karitvā mahāvāte vā ophuṇeyya nadiyā vā sīghasotāya pavāheyya.
Evaṁ hissa, vappa, yā thūṇaṁ paṭicca chāyā sā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Evamevaṁ kho, vappa, evaṁ sammā vimuttacittassa bhikkhuno cha satatavihārā adhigatā honti.
So cakkhunā rūpaṁ disvā neva sumano hoti na dummano; upekkhako viharati sato sampajāno.
Sotena saddaṁ sutvā …pe…
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …pe…
jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe…
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …pe…
manasā dhammaṁ viññāya neva sumano hoti na dummano; upekkhako viharati sato sampajāno.
So kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vediyamāno ‘kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vediyāmī’ti pajānāti; jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vediyamāno ‘jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vediyāmī’ti pajānāti;
‘kāyassa bhedā uddhaṁ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītī bhavissantī’ti pajānāti”.
Evaṁ vutte, vappo sakko nigaṇṭhasāvako bhagavantaṁ etadavoca:
“seyyathāpi, bhante, puriso udayatthiko assapaṇiyaṁ poseyya.
So udayañceva nādhigaccheyya, uttariñca kilamathassa vighātassa bhāgī assa.
Evamevaṁ kho ahaṁ, bhante, udayatthiko bāle nigaṇṭhe payirupāsiṁ.
Svāhaṁ udayañceva nādhigacchiṁ, uttariñca kilamathassa vighātassa bhāgī ahosiṁ.
Esāhaṁ, bhante, ajjatagge yo me bālesu nigaṇṭhesu pasādo taṁ mahāvāte vā ophuṇāmi nadiyā vā sīghasotāya pavāhemi.
Abhikkantaṁ, bhante …pe… upāsakaṁ maṁ, bhante, bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Pañcamaṁ.
At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans, near Kapilavatthu in the Banyan Tree Monastery.
Then Vappa of the Sakyans, a disciple of the Jains, went up to Venerable Mahāmoggallāna, bowed, and sat down to one side. Mahāmoggallāna said to him:
“Vappa, take an individual who, due to the fading away of ignorance and the arising of knowledge, is restrained in body, speech, and mind.
Do you see any reason why defilements giving rise to painful feelings would defile that person in the next life?”
“Sir, I do see such a case.
Take someone who did bad deeds in a past life. But the result of that has not yet ripened.
For this reason defilements giving rise to painful feelings would defile that person in the next life.”
But this conversation between Mahāmoggallāna and Vappa was left unfinished.
Then in the late afternoon, the Buddha came out of retreat and went to the assembly hall. He sat down on the seat spread out, and said to Mahāmoggallāna,
“Moggallāna, what were you sitting talking about just now? What conversation was left unfinished?”
Moggallāna repeated the entire conversation to the Buddha, and concluded:
“This was my conversation with Vappa that was unfinished when the Buddha arrived.”
Then the Buddha said to Vappa,
“Vappa, we can discuss this. But only if you grant what should be granted, and reject what should be rejected. And if you ask me the meaning of anything you don’t understand, saying:
‘Sir, why is this? What’s the meaning of that?’”
“Sir, let us discuss this. I will do as you say.”
“What do you think, Vappa?
There are distressing and feverish defilements that arise because of instigating bodily activity. These don’t occur in someone who refrains from such bodily activity.
They don’t perform any new deeds, and old deeds are eliminated by experiencing their results little by little. This wearing away is apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.
Do you see any reason why defilements giving rise to painful feelings would defile that person in the next life?”
“No, sir.”
“What do you think, Vappa?
There are distressing and feverish defilements that arise because of instigating verbal activity. These don’t occur in someone who refrains from such verbal activity.
They don’t perform any new deeds, and old deeds are eliminated by experiencing their results little by little.
This wearing away is apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.
Do you see any reason why defilements giving rise to painful feelings would defile that person in the next life?”
“No, sir.”
“What do you think, Vappa?
There are distressing and feverish defilements that arise because of instigating mental activity. These don’t occur in someone who refrains from such mental activity.
They don’t perform any new deeds, and old deeds are eliminated by experiencing their results little by little.
This wearing away is apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.
Do you see any reason why defilements giving rise to painful feelings would defile that person in the next life?”
“No, sir.”
“What do you think, Vappa?
There are distressing and feverish defilements that arise because of ignorance. These don’t occur when ignorance fades away and knowledge arises.
They don’t perform any new deeds, and old deeds are eliminated by experiencing their results little by little.
This wearing away is apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.
Do you see any reason why defilements giving rise to painful feelings would defile that person in the next life?”
“No, sir.”
“A mendicant whose mind is rightly freed like this has achieved six consistent responses.
Seeing a sight with the eye, they’re neither happy nor sad, but remain equanimous, mindful and aware.
Hearing a sound with the ears …
Smelling an odor with the nose …
Tasting a flavor with the tongue …
Feeling a touch with the body …
Knowing an idea with the mind, they’re neither happy nor sad, but remain equanimous, mindful and aware.
Feeling the end of the body draw close, they understand: ‘I feel the end of the body draw close.’ Feeling the end of life draw close, they understand: ‘I feel the end of life draw close.’
They understand: ‘When my body breaks up and my life has come to an end, everything that’s felt, being no longer relished, will become cool right here.’
Suppose there was a shadow cast by a post.
Then along comes a person with a spade and basket.
They cut down the post at its base,
dig it up,
and pull it out by its roots, right down to the fibers and stems.
Then they split it apart,
cut up the parts,
and chop them into splinters.
Next they dry the splinters in the wind and sun,
burn them with fire,
and reduce them to ashes.
Then they whisk away the ashes in a strong wind, or glide them down a swift stream.
And so the shadow cast by the post is cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future.
In the same way, a mendicant whose mind is rightly freed like this has achieved six consistent responses.
Seeing a sight with the eye, they’re neither happy nor sad, but remain equanimous, mindful and aware.
Hearing a sound with the ears …
Smelling an odor with the nose …
Tasting a flavor with the tongue …
Feeling a touch with the body …
Knowing an idea with the mind, they’re neither happy nor sad, but remain equanimous, mindful and aware.
Feeling the end of the body draw close, they understand: ‘I feel the end of the body draw close.’ Feeling the end of life draw close, they understand: ‘I feel the end of life draw close.’
They understand: ‘When my body breaks up and my life has come to an end, everything that’s felt, being no longer relished, will become cool right here.’”
When he said this, Vappa the Sakyan, the disciple of the Jains, said to the Buddha:
“Sir, suppose there was a man who raised commercial horses for profit.
But he never made any profit, and instead just got weary and frustrated.
In the same way, I paid homage to those Jain fools for profit.
But I never made any profit, and instead just got weary and frustrated.
From this day forth, any confidence I had in those Jain fools I whisk away as in a strong wind, or glide away as down a swift stream.
Excellent, sir! … From this day forth, may the Buddha remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn ở giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu khu vườn Nigrodha. Rồi thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha đi đến Tôn giả Mahàmoggalàna; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahàmoggalàna rồi ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahàmoggallàna nói với Thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha đang ngồi một bên:
—Ở đây, này Vappa, có thể có người với thân chế ngự, với lời chế ngự, với ý chế ngự, vô minh được viễn ly, minh được sanh khởi. Ông có thấy người ấy, do một nhân duyên nào, các lậu hoặc khiến họ cảm thọ đau khổ có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai?
—Thưa Tôn giả, con có thể thấy trường hợp ấy. Ở đây thưa Tôn giả, do ác nghiệp tạo ra về trước chưa đưa đến quả dị thục, do một nhân duyên ấy, các lậu hoặc khiến họ cảm thọ đau khổ có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai.
Và câu chuyện này giữa Tôn giả Mahàmoggallàna và Thích tử Vappa, đệ tử của Niganthà bị bỏ dở.
TTC 2Rồi Thế Tôn vào buổi chiều từ Thiền Tịnh đứng dậy đi đến hội trường; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xuống, Thế Tôn nói với Tôn giả Mahàmoggallàna:
—Này Mahàmoggallàna, câu chuyện gì được nói đến, khi các Ông ngồi tụ họp ở đây? Và câu chuyện giữa các Ông chưa được nói xong?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con nói với Thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha: “Ở đây, này Vappa, có thể có người với thân chế ngự, với lời chế ngự, với ý chế ngự, vô minh được viễn ly, minh được sanh khởi. Ông có thấy người ấy, do một nhân duyên nào, các lậu hoặc khiến họ cảm thọ đau khổ có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai?” Bạch Thế Tôn, khi được nói như vậy, Thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha nói với con như sau: “Thưa Tôn giả, con có thể thấy trường hợp ấy. Ở đây thưa Tôn giả, do ác nghiệp tạo ra về trước chưa đưa đến quả dị thục, do nhân duyên ấy, các lậu hoặc khiến họ cảm thọ đau khổ có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai!”. Bạch Thế Tôn, ở đây là câu chuyện giữa Thích Tử Vappa, đệ tử của Nigantha và chúng con, câu chuyện bị bỏ dở khi Thế Tôn đến!
TTC 3Rồi Thế Tôn nói với Thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha:
—Này Vappa, nếu Ông có thể chấp nhận điều Ông có thể chấp nhận, và có thể bác bỏ điều đáng được bác bỏ, và trong trường hợp Ông không có thể biết được ý nghĩa lời nói của Ta, nếu Ông hỏi ta thêm về vấn đề ấy: “Bạch Thế Tôn, lời nói này, ý nghĩa là gì?”, thời có thể có cuộc nói chuyện giữa chúng ta.
—Bạch Thế Tôn, con có thể chấp nhận điều con có thể chấp nhận, và có thể bác bỏ điều đáng được bác bỏ, và trong trường hợp con không có thể biết được ý nghĩa lời nói của Thế Tôn, con sẽ hỏi Thế Tôn thêm về vấn đề ấy: “Bạch Thế Tôn, lời nói này, ý nghĩa là gì?”, mong rằng ở đây có cuộc nói chuyện giữa chúng ta.
TTC 4—Ý Ông nghĩ thế nào, này Vappa? Nếu do nhân duyên thân khởi động, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não khởi lên; với người chế ngự được thân khởi động, như vậy, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não ấy không có nơi người ấy nữa. Người ấy không làm nghiệp mới, còn hành động trước của người ấy, do cảm xúc thường xuyên được chấm dứt; con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Này Vappa, Ông có thấy trường hợp ấy, do nhân duyên này, các lậu hoặc khiến cảm thọ khổ đau có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn!
TTC 5—Ý Ông nghĩ thế nào, này Vappa? Nếu do nhân duyên lời khởi động, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não khởi lên; với người chế ngự được lời khởi động, như vậy, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não ấy không có nơi người ấy nữa. Người ấy không làm nghiệp mới, còn hành động trước của người ấy, do cảm xúc thường xuyên được chấm dứt; con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Này Vappa, Ông có thấy trường hợp ấy, do nhân duyên này, … trong tương lai không?
-—Thưa không, bạch Thế Tôn
TTC 6—Ý Ông nghĩ thế nào, này Vappa? Nếu do nhân duyên ý khởi động, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não khởi lên; với người chế ngự được ý khởi động, như vậy, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não ấy không có với người ấy nữa. Người ấy không làm nghiệp mới, còn hành động trước của người ấy, do cảm xúc thường xuyên được chấm dứt; con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Này Vappa, Ông có thấy trường hợp ấy, do nhân duyên này, các lậu hoặc khiến cảm thọ khổ đau có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn!
TTC 7—Ý Ông nghĩ thế nào, này Vappa? Ðối với các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não ấy do duyên vô minh khởi lên, vô minh được ly tham, minh được khởi lên, như vậy, các lậu hoặc tàn hại, nhiệt não ấy không có với người ấy nữa. Người ấy không làm nghiệp mới, còn hành động trước của người ấy, do cảm xúc thường xuyên được chấm dứt; con đường đưa đến sự héo mòn các phiền não là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Này Vappa, Ông có thấy do lý do nào, các lậu hoặc khiến cảm thọ khổ đau có thể khởi lên cho người ấy trong tương lai không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn!
TTC 8—Như vậy, này Vappa, với vị Tỷ-kheo có tâm được chơn chánh giải thoát, sáu an trú thường hằng được chứng đắc. Vị ấy, khi mắt thấy sắc, không có ý đẹp, không có phật ý, trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Khi tai nghe tiếng, khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc … khi ý thức tri pháp, không có ý đẹp, không có phật ý, trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân, vị ấy quán tri: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân”. Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng, vị ấy quán tri: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng”. Vị ấy quán tri: “Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây tất cả các cảm thọ không còn hỷ lạc, sẽ trở thành vắng lạnh”.
TTC 9Ví như, này Vappa, duyên một thân cây, bóng cây hiện ra. Rồi có người đến cầm các cuốc và cái giỏ, chặt thân cây ấy ở nơi rễ. Sau khi chặt ở nơi rễ, người ấy đào cái mương. Sau khi đào cái mương, người ấy nhổ lên các rễ lớn cho đến các rễ con và rễ phụ. Rồi người ấy chặt cây ấy thành từng khúc, sau khi chặt tùng khúc, người ấy bửa. Sau khi bửa, người ấy chẻ thành từng miếng nhỏ. Sau khi chẻ thành từng miếng nhỏ, người ấy phơi giữa gió và nắng, người ấy lấy lửa đốt. Sau khi lấy lửa đốt, người ấy vun thành đống tro. Sau khi người ấy vun thành đống tro, người ấy sàng tro giữa gió lớn, hay để tro ấy vào dòng nước mạnh cho nước cuốn đi. Như vậy, này Vappa, do duyên thân cây nên có bóng cây. Bóng cây ấy, rễ bị chấm dứt, làm thành như thân cây tala, làm cho không thể tái sanh trong tương lai, không thể sống lại được. Cũng vậy, này Vappa, vị Tỷ-kheo có tâm được chơn chánh giải thoát, sáu an trú thường hằng được chứng đắc. Vị ấy, khi mắt thấy sắc, không có ý đẹp, không có phật ý, trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Khi tai nghe tiếng.., khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc … khi ý thức tri pháp, không có ý đẹp, không có phật ý, trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân”. Vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng”. Vị ấy biết: “Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây tất cả các cảm thọ không còn hỷ lạc, sẽ trở thành vắng lạnh”.
TTC 10Khi được nói như vậy, Thích tử Vappa, đệ tử của Nigantha bạch Thế Tôn:
—Ví như, bạch Thế Tôn, một người mong ước được tài sản, lo nuôi dưỡng tài sản của mình, nhưng không được tăng trưởng gì, trái lại chỉ được mệt nhọc và dự phần vào phiền muộn. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con cầu mong được lợi ích khi con hầu hạ kẻ ngu Nigantha này. Con đã không được lợi ích gì, trái lại con chỉ được mệt nhọc và dự phần vào phiền muộn. Bắt đầu từ hôm này, bạch Thế Tôn, với lòng tin gì con đã có với kẻ ngu Nigantha, con sẽ sàng lòng tin ấy giữa gió lớn, hay để lòng tin ấy vào dòng nước lạnh cho nước cuốn đi.
—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn, … Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme.
Atha kho vappo sakko nigaṇṭhasāvako yenāyasmā mahāmoggallāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho vappaṁ sakkaṁ nigaṇṭhasāvakaṁ āyasmā mahāmoggallāno etadavoca:
“Idhassa, vappa, kāyena saṁvuto vācāya saṁvuto manasā saṁvuto avijjāvirāgā vijjuppādā.
Passasi no tvaṁ, vappa, taṁ ṭhānaṁ yatonidānaṁ purisaṁ dukkhavedaniyā āsavā assaveyyuṁ abhisamparāyan”ti?
“Passāmahaṁ, bhante, taṁ ṭhānaṁ.
Idhassa, bhante, pubbe pāpakammaṁ kataṁ avipakkavipākaṁ.
Tatonidānaṁ purisaṁ dukkhavedaniyā āsavā assaveyyuṁ abhisamparāyan”ti.
Ayañceva kho pana āyasmato mahāmoggallānassa vappena sakkena nigaṇṭhasāvakena saddhiṁ antarākathā vippakatā hoti.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena upaṭṭhānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ etadavoca:
“Kāya nuttha, moggallāna, etarahi kathāya sannisinnā; kā ca pana vo antarākathā vippakatā”ti?
“Idhāhaṁ, bhante, vappaṁ sakkaṁ nigaṇṭhasāvakaṁ etadavocaṁ:
‘idhassa, vappa, kāyena saṁvuto vācāya saṁvuto manasā saṁvuto avijjāvirāgā vijjuppādā.
Passasi no tvaṁ, vappa, taṁ ṭhānaṁ yatonidānaṁ purisaṁ dukkhavedaniyā āsavā assaveyyuṁ abhisamparāyan’ti?
Evaṁ vutte, bhante, vappo sakko nigaṇṭhasāvako maṁ etadavoca:
‘passāmahaṁ, bhante, taṁ ṭhānaṁ.
Idhassa, bhante, pubbe pāpakammaṁ kataṁ avipakkavipākaṁ.
Tatonidānaṁ purisaṁ dukkhavedaniyā āsavā assaveyyuṁ abhisamparāyan’ti.
Ayaṁ kho no, bhante, vappena sakkena nigaṇṭhasāvakena saddhiṁ antarākathā vippakatā; atha bhagavā anuppatto”ti.
Atha kho bhagavā vappaṁ sakkaṁ nigaṇṭhasāvakaṁ etadavoca:
“sace me tvaṁ, vappa, anuññeyyañceva anujāneyyāsi, paṭikkositabbañca paṭikkoseyyāsi, yassa ca me bhāsitassa atthaṁ na jāneyyāsi mamevettha uttari paṭipuccheyyāsi:
‘idaṁ, bhante, kathaṁ, imassa ko attho’ti, siyā no ettha kathāsallāpo”ti.
“Anuññeyyañcevāhaṁ, bhante, bhagavato anujānissāmi, paṭikkositabbañca paṭikkosissāmi, yassa cāhaṁ bhagavato bhāsitassa atthaṁ na jānissāmi bhagavantaṁyevettha uttari paṭipucchissāmi:
‘idaṁ, bhante, kathaṁ, imassa ko attho’ti?
Hotu no ettha kathāsallāpo”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, vappa,
ye kāyasamārambhapaccayā uppajjanti āsavā vighātapariḷāhā, kāyasamārambhā paṭiviratassa evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti.
So navañca kammaṁ na karoti, purāṇañca kammaṁ phussa phussa byantīkaroti, sandiṭṭhikā nijjarā akālikā ehipassikā opaneyyikā paccattaṁ veditabbā viññūhi.
Passasi no tvaṁ, vappa, taṁ ṭhānaṁ yatonidānaṁ purisaṁ dukkhavedaniyā āsavā assaveyyuṁ abhisamparāyan”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññasi, vappa,
ye vacīsamārambhapaccayā uppajjanti āsavā vighātapariḷāhā, vacīsamārambhā paṭiviratassa evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti.
So navañca kammaṁ na karoti, purāṇañca kammaṁ phussa phussa byantīkaroti.
Sandiṭṭhikā nijjarā akālikā ehipassikā opaneyyikā paccattaṁ veditabbā viññūhi.
Passasi no tvaṁ, vappa, taṁ ṭhānaṁ yatonidānaṁ purisaṁ dukkhavedaniyā āsavā assaveyyuṁ abhisamparāyan”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññasi, vappa,
ye manosamārambhapaccayā uppajjanti āsavā vighātapariḷāhā, manosamārambhā paṭiviratassa evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti.
So navañca kammaṁ na karoti, purāṇañca kammaṁ phussa phussa byantīkaroti.
Sandiṭṭhikā nijjarā akālikā ehipassikā opaneyyikā paccattaṁ veditabbā viññūhi.
Passasi no tvaṁ, vappa, taṁ ṭhānaṁ yatonidānaṁ purisaṁ dukkhavedaniyā āsavā assaveyyuṁ abhisamparāyan”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññasi, vappa,
ye avijjāpaccayā uppajjanti āsavā vighātapariḷāhā, avijjāvirāgā vijjuppādā evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti.
So navañca kammaṁ na karoti, purāṇañca kammaṁ phussa phussa byantīkaroti.
Sandiṭṭhikā nijjarā akālikā ehipassikā opaneyyikā paccattaṁ veditabbā viññūhi.
Passasi no tvaṁ, vappa, taṁ ṭhānaṁ yatonidānaṁ purisaṁ dukkhavedaniyā āsavā assaveyyuṁ abhisamparāyan”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Evaṁ sammā vimuttacittassa kho, vappa, bhikkhuno cha satatavihārā adhigatā honti.
So cakkhunā rūpaṁ disvā neva sumano hoti na dummano; upekkhako viharati sato sampajāno.
Sotena saddaṁ sutvā …pe…
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …pe…
jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe…
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …pe…
manasā dhammaṁ viññāya neva sumano hoti na dummano; upekkhako viharati sato sampajāno.
So kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vediyamāno ‘kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vediyāmī’ti pajānāti; jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vediyamāno ‘jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vediyāmī’ti pajānāti;
‘kāyassa bhedā uddhaṁ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītī bhavissantī’ti pajānāti.
Seyyathāpi, vappa, thūṇaṁ paṭicca chāyā paññāyati.
Atha puriso āgaccheyya kuddālapiṭakaṁ ādāya.
So taṁ thūṇaṁ mūle chindeyya;
mūle chinditvā palikhaṇeyya;
palikhaṇitvā mūlāni uddhareyya, antamaso usīranāḷimattānipi.
So taṁ thūṇaṁ khaṇḍākhaṇḍikaṁ chindeyya.
Khaṇḍākhaṇḍikaṁ chetvā phāleyya.
Phāletvā sakalikaṁ sakalikaṁ kareyya.
Sakalikaṁ sakalikaṁ katvā vātātape visoseyya.
Vātātape visosetvā agginā ḍaheyya.
Agginā ḍahetvā masiṁ kareyya.
Masiṁ karitvā mahāvāte vā ophuṇeyya nadiyā vā sīghasotāya pavāheyya.
Evaṁ hissa, vappa, yā thūṇaṁ paṭicca chāyā sā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Evamevaṁ kho, vappa, evaṁ sammā vimuttacittassa bhikkhuno cha satatavihārā adhigatā honti.
So cakkhunā rūpaṁ disvā neva sumano hoti na dummano; upekkhako viharati sato sampajāno.
Sotena saddaṁ sutvā …pe…
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …pe…
jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe…
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …pe…
manasā dhammaṁ viññāya neva sumano hoti na dummano; upekkhako viharati sato sampajāno.
So kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vediyamāno ‘kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vediyāmī’ti pajānāti; jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vediyamāno ‘jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vediyāmī’ti pajānāti;
‘kāyassa bhedā uddhaṁ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītī bhavissantī’ti pajānāti”.
Evaṁ vutte, vappo sakko nigaṇṭhasāvako bhagavantaṁ etadavoca:
“seyyathāpi, bhante, puriso udayatthiko assapaṇiyaṁ poseyya.
So udayañceva nādhigaccheyya, uttariñca kilamathassa vighātassa bhāgī assa.
Evamevaṁ kho ahaṁ, bhante, udayatthiko bāle nigaṇṭhe payirupāsiṁ.
Svāhaṁ udayañceva nādhigacchiṁ, uttariñca kilamathassa vighātassa bhāgī ahosiṁ.
Esāhaṁ, bhante, ajjatagge yo me bālesu nigaṇṭhesu pasādo taṁ mahāvāte vā ophuṇāmi nadiyā vā sīghasotāya pavāhemi.
Abhikkantaṁ, bhante …pe… upāsakaṁ maṁ, bhante, bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Pañcamaṁ.